Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Têrêsa Ngọc Nga
Bài Viết Của
Têrêsa Ngọc Nga
Valentine 2011 - Slideshow (1355)
Tôi Đã Học Biết - Slideshow (1262)
Kinh An Bình Thánh Phanxicô Assisi - Slideshow (1242)
Trò Truyện của Chim - Slideshow (1186)
Cuộc Sống Yên Hàn - Slideshow (1159)
An Lạc - Slideshow (1122)
Nếu không có Tình Yêu - Slideshow (1120)
Đừng (2) - Slideshow (1116)
Lời Trò Chuyện Của Một Loài Chim - Slideshow (1031)
12 Cách Để Được Hạnh Phúc - Slideshow (1028)
Nếu Một Ngày 2 - Slideshow (1025)
Nếu Một Ngày 1 - Slideshow (1024)
Nếu Không Có Tình Yêu - Slideshow (1020)
Những Người Bạn Cần Nhớ Đến - Slideshow (1003)
Lời Khuyên Hữu Ích cho Tình Yêu (2) - Slideshow (990)
Lời Khuyên Hữu Ích Cho Tình Yêu - Slideshow (988)
Cây Đèn Thần - Slideshow (985)
Thích Một Người - Slideshow (967)
Cầu Nguyện - Slideshow (964)
Nếu Không Có Tình Yêu - Slideshow (446)
Những Tâm Tình Còn Mãi - Slideshow (437)
Ăn Chay - Slideshow (434)
Tình Yêu Valentine - Slideshow (427)
Chúc Mừng Kỷ Sửu - Slideshow (398)
Các bài suy niệm Chúa Nhật 4 Phục Sinh
BÀI GIẢNG CN 28 TN

 CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN - A

    Mt 21, 33 – 43

    09-10-2011

DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI HOÀNG GIA - Lm. Vũ Phan Long, ofm ……….…….…….
CHÚA MỜI CHÚNG TA ĐẾN DỰ TIỆC NƯỚC TRỜI - Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái ..
ĐỜI SỐNG KYTÔ HỮU - Lm. Mark Link, SJ …………………………………….…..
XIN CHO Ý CHA THỂ HIỆN - Lm. Augustine, SJ …………….………………..……
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN - A - Lm. Ignatiô Hồ Thông ………..………
MỘT TIN MỪNG CHO MUÔN DÂN -  Lm. Trần Thanh Sơn …………....…………..
DỰ TIỆC CƯỚI NƯỚC TRỜI -  lm. Giuse Đinh Lập Liễm .…………….……….…
MẶC LẤY CHÚA KITÔ - Lm. Ignatiô Trần Ngà …………………………………..…
DỰ TIỆC - Lm. Vũ Đình Tường …………………………….……….………………….
TIỆC CƯỚI, ÁO CƯỚI - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR …………………….
TIỆC CƯỚI VÀ Y PHỤC TIỆC CƯỚI -  Lm. Anmai, CSsR ……………….…….….
Y PHỤC XỨNG KỲ ĐỨC - lm. Giuse Nguyễn Hữu An ………………………….…
CHIẾC ÁO CƯỚI MANG NHẢN HIỆU – Lm. Giuse Phạm Ngọc Ngôn Csjb …….
NẾU CUỘC SỐNG THIẾU TÌNH YÊU - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền .………………..
CẦN MỘT TẤM LÒNG - Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa .…………….……………..
LỜI MỜI GỌI VÔ ĐIỀU KIỆN – Lm. An Phong, OP …………………………………
TIỆC CƯỚI CHO MUÔN DÂN Học viện Đaminh ………………………….……….
ĐƯỢC GỌI VÀ ĐƯỢC CHỌN – Học viện Đaminh ……………………………….….




DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI HOÀNG GIA

Lm. Vũ Phan Long, ofm

I. NGỮ CẢNH

Cả ba dụ ngôn nối tiếp nhau – Hai người con (21,28-32), Những người thợ vườn nho (21,33-46) và Tiệc cưới hoàng gia (22,1-14) – đều được gửi đến cho các thượng tế và các kỳ mục của Dân (x. 21,23) và đều mang một  sứ điệp rất giống nhau. Bằng các dụ ngôn này, với một lời khuyến cáo lặp đi lặp lại, nghiêm túc, mạnh mẽ, Đức Giêsu muốn làm cho họ mở mắt ra để hiểu tương quan của họ với Thiên Chúa. Các thượng tế và các kỳ mục không được chạy theo ảo tưởng nào, nhưng phải thấy rõ tương quan đó trước khi quá muộn và phải điều chỉnh bản thân cho kịp thời.

Thật ra các dụ ngôn và các lời khuyến cáo không phải chỉ được dành cho giới lãnh đạo Do Thái giáo, nhưng cũng được gửi đến cho thính giả mọi thời. Thiên Chúa không ép buộc; Người ngỏ với chúng ta và chờ đợi chúng ta tự do quyết định. Các người con được mời đi làm việc trong vườn nho của cha; những người thợ vườn nho được nhắc nhở giao nộp hoa lợi thuộc về ông chủ; những khách được mời được kêu gọi đến dự tiệc cưới. Không một  ai bị bó buộc phải xử sự theo cách nào cả. Thiên Chúa kiên nhẫn và đại lượng ước muốn rằng lời mời của Người được đón nhận.

II. BỐ CỤC

Bản văn có thể chia thành bốn phần:

1) Mở (22,1);

2) Dụ ngôn Tiệc cưới thất bại (22,2-7);

3) Dụ ngôn Tiệc cưới thành công (22,8-13):

a) Mời mọi người (cc. 8-10),

b) Vấn đề áo cưới (cc. 11-13);

4) Kết luận: Lời bình của Đức Giêsu (22,14).

III. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

- mở tiệc cưới cho con mình (1): Hình ảnh bữa tiệc thiên sai có lẽ được mượn từ Cựu Ước (Is 25,6; 55,1-3). Nó diễn tả tính nhưng-không của ơn cứu độ được Thiên Chúa ban tặng cho Dân Người.

- nhưng họ không chịu đến (3): Dịch sát là “không muốn đến”. Mt dùng động từ “muốn” (thelô), là một  động từ ngài ưa chuộng (x. 11,14; 16,24; 18,30; 19,17; 23,27b) để diễn tả một quyết định rõ ràng.

- Vậy các ngươi đi ra(9): Công thức mệnh lệnh poreuesthe (các ngươi hãy đi) oun (vậy) khiến chúng ta hướng tới công thức phân từ poreuthentes oun có giá trị như một mệnh lệnh ở Mt 28,19, khi Đức Giêsu sai phái các môn đệ đi đến với Dân ngoại (“muôn dân”).

- các ngả đường  (9): Từ diexodos thuộc Bản LXX có nghĩa là điểm bắt đầu hay là điểm đến, phần xa nhất của một miền đất. Vậy dịch diexodoi tôn [h]odôn là “các ngả đường” dường như không chính xác. Đây là điểm mà từ đó con đường ([h]odos) bắt đầu hay kết thúc. Như thế các đầy tớ đi ra khỏi thành và tỏa ra khắp nơi cho đến tận biên cương của vương quốc.

- bất luận xấu tốt (10): Những người “xấu” này có thể là những người tội lỗi, một khi đã được kêu gọi nhưng-không, sẽ sửa mình khi đã vào trong Vương Quốc hoặc trong Hội Thánh; mà cũng có thể là những người xấu theo nghĩa tuyệt đối, sẽ bị loại trừ ngày nào đó khỏi Vương Quốc (hoặc khỏi Hội Thánh). Các câu 11-14 hiểu theo nghĩa thứ hai này.

- quan sát (11): Động từ theaomai có nghĩa là “nhìn xem; chiêm ngưỡng; quan sát”. Bên Đông phương, các nhân vật quan trọng không ngồi ăn chung với các khách mời, nhưng chỉ xuất hiện vào một  lúc nào đó để chào cách quan khách. Phân đoạn gồm cc. 11-13 hẳn là một bản văn áp dụng cho đời sống Hội Thánh (trong khi cc. 1-10 áp dụng cho lịch sử dân Do Thái), nay được đưa vào đây để sửa chữa một  lối giải thích quá tự do cc. 1-10. Quả thật, việc đi vào Hội Thánh là chuyện nhưng-không, nhưng cũng không được quên rằng đấy là Hội Thánh của Đức Vua! Đã nhận ơn, thì phải sống theo chiều hướng của ơn đã nhận.

- không có y phục lễ cưới (12): Vào thời Thượng Cổ, không có tập tục các khách mời phải mặc một bộ y phục riêng cho tiệc cưới; chỉ cần một bộ y phục sạch sẽ, trang trọng, là được. Do đó, công thức “y phục lễ cưới” khiến độc giả phải nghĩ đến nghĩa ẩn dụ. Cụm từ “y phục lễ cưới” (endyma gamou) này hẳn cũng là thực tại được dụ ngôn Những người thợ vườn nho nói đến, đó là các hoa trái của Vương Quốc, phải có trước khi ra trước tòa phán xét. Đây là “sự công chính” thường được TM Mt nói đến (ch. 5–7: 5,20; 6,33…). Xem thêm: Is 61,10; Ep 4,24; Gl 3,27; Kh 19,6-8; 7,9-17.

- kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít (14): Ngôn ngữ Híp-ri không có những hình thái đặc biệt cho các tính từ ở dạng so sánh (comparative: better; more) hay tối thượng cấp (superlative: best; most); do đó, người ta dùng cách kiểu nói quanh (paraphrases). Phải dựa vào ngữ cảnh thì mới xác định được nghĩa so sánh nằm ở dưới. Xem Mc 9,42; Mt 22,36; 26,24; Lc 10,42; 18,14…

IV. Ý NGHĨA CỦA BẢN VĂN

* Mở (1)

Dụ ngôn này được ngỏ với những thính giả đã được nói đến (“họ” = “các thượng tế và người Pharisêu”, x. 21,45), những người phải gánh lấy tất cả trách nhiệm và tội lỗi, khi từ khước Đức Kitô.

Chính dụ ngôn gồm các câu 2-13. Câu 14 là một lời bình của người kể, tức Đức Giêsu. Sau lời giới thiệu ở c. 2, dụ ngôn được triển khai thành hai phân đoạn, cc. 3-7 và cc. 8-13. Mỗi phân đoạn bắt đầu bằng việc nhà vua sai các đầy tớ đi mời khách đến dự tiệc cưới. Lần mời thứ nhất thất bại; lần mời thứ hai thành công. Tuy nhiên, mỗi lần đều kết thúc bằng một tai họa. Trong trường hợp thứ nhất, tai họa đổ xuống trên những người được mời; trong trường hợp thứ hai, tai hoạ chỉ đổ xuống trên một người khách.

Ta thấy dụ ngôn này và dụ ngôn trước có những điểm giống nhau. Một bên, đó là ông chủ nhà có một vườn nho, ở đây là một  vị vua. Ông chủ nhà sai đầy tớ hai lần đến vườn nho để nhận hoa lợi; đức vua sai các đầy tớ hai lần đi mời khách tới dự tiệc. Trong cả hai trường hợp, các tôi tớ đều thất bại vì những người họ đến gặp tỏ ra xấu xa. Trong cả hai trường hợp, có liên quan đến một “người con [trai]”. Những điểm song song đó cho hiểu rằng hai câu chuyện nhắm đến một  số nhân vật như nhau. Ông chủ vườn nho và đức vua chỉ là một, đó là Cha trên trời; người con trai chắc chắn là Đấng đã tự gọi mình là “Người Con” (11,27). Các tôi tớ chính là các ngôn sứ. Còn những người được mời chính là Dân bất trung của Thiên Chúa.

Trong dụ ngôn Tiệc cưới, nhân vật duy nhất hành động tích cực là nhà vua. Chỉ một minh ông nói, chứ không có đối thoại. Ngoại trừ cc. 5-6 và c. 10, truyện hệ tại các hành vi hoặc các lệnh truyền của nhà vua.

* Dụ ngôn Tiệc cưới thất bại (2-7)

Tuy nhiên, hai dụ ngôn cũng có những điểm khác nhau. Trong dụ ngôn Những người thợ vườn nho, vấn đề là một đòi hỏi về công bình; ở đây là một lời mời, một  vinh dự diễn tả cho một  ai đó. Một bên là ông chủ đòi hỏi điều thuộc về ông, bên kia là vị vua quảng đại, muốn mời tối đa người ta đến thông phần vào niềm vui của ngày cưới hoàng tử. Trong trường hợp sau này, thái độ thiếu quan tâm càng đáng trách hơn, vì ở đây không còn chuyện vi phạm một  quyền, nhưng là một xúc phạm nặng nề đến danh dự. Đã thế, thái độ thiếu quan tâm còn trầm trọng đến mức trở thành sự căm thù chẳng hiểu vì sao. Ngay ở đây cũng có thể đặt lại câu hỏi của dụ ngôn trước: “Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?” (21,40). Câu trả lời không còn phải là một  đe dọa, nhưng là một  hành động trừng phạt. Như thế, từ dụ ngôn kia sang dụ ngôn này, có một sự tiệm tiến.

Những “người đã được mời” (keklêmenous) là những người được báo tin về tiệc cưới đúng thời điểm. Đây là các bạn hữu, những người đang sống trong những tương quan thân tình với nhà vua. Việc nhà vua sai đầy tớ đến và mời thúc bách (c. 4) cho thấy cử chỉ tối hậu của lòng tốt của nhà vua, nhưng đã không được đáp lại. Thế mà nhà vua chỉ nhận được một  sự từ khước dứt khoát (“không muốn đến”, c. 3). Các động lực thâm sâu là họ có những mối quan tâm thực tiễn, những của cải vật chất (chủ đề của Mt: x. 8,18-22; 19,21). Dưới ánh sáng của dụ ngôn trước, qua việc nhà vua sai các đầy tớ lần đầu (c. 3), độc giả có thể nghĩ đến các ngôn sứ trong Cựu Ước; qua lần sai phái thứ hai (cc. 4-6), họ có thể nghĩ đến các tông đồ và các nhà thừa sai (x. 21,34.36). Các độc giả cũng đã biết Israel thường xử tệ và giết các ngôn sứ (x. 23,34-35). Còn những khách được mời, thoạt tiên độc giả sẽ nghĩ đến các thượng tế và người Pharisêu, vì các dụ ngôn được nói cho họ. Tuy nhiên, không nhất thiết chỉ nghĩ tới giới lạnh đạo Do Thái, bởi vì các sứ giả của Đức Giêsu được cử đến với toàn thể Israel (x. 10,5-6.23).

Câu 6 có vẻ đột ngột: đi từ “kẻ thì … , người thì …” (hos men … hos de), ta không chờ đợi “còn những kẻ khác” (hoi de loipoi), nhất là một tội ác (giết các đầy tớ). Nhưng các độc giả đã quen với truyền thống Do Thái, thì hiểu rằng du ngôn đang nói về các thừa sai của họ, các vị này đã bị bách hại tại Israel (10,16-23) cũng như nói về các ngôn sứ Cựu Ước cũng đã bị bắt bớ trước rồi (5,12; 21,35-36). Nhưng c. 7 thì thật lạ, kể cả với các độc giả đã quen với truyền thống Do Thái. Không còn cỗ bàn, bò tơ, thú báo nữa. Nhà vua lên đường hành quân, chắc chắn đâu có thể làm một sớm một chiều. Dù sao, từ tư cách những người đầu tiên được ưu đãi, người Do Thái trở thành những đối thủ đầu tiên chống lại ơn cứu độ, và mục tiêu đầu tiên cơn giận Thiên Chúa nhắm tới. Họ bị đánh giá là “không xứng đáng” (c. 8) không phải vì họ có những thiếu sót hay sự ngu dốt nào tự nhiên, nhưng do họ từ khước.

Đức vua đã huy động quân lính đi “tru diệt bọn sát nhân và thiêu hủy thành phố của chúng” (c. 7). Các khách được mời nay được gọi đơn giản là “bọn sát nhân”. Tại sao sự việc lại trở nên gia trọng đến mức ấy? Dường như các khách được mời sống ngay trong thành phố nơi tổ chức lễ cưới. Các kẻ sát nhân chỉ là một  vài người trong số khách được mời thôi. Chẳng lẽ mọi người khách mời khác đều đáng xử như những kẻ sát nhân? Đàng này, cả thành bị thiêu hủy, hẳn là với tất cả những người vô tội. Nếu muốn tiếp nối câu chuyện cho hợp lý, thì phải nói đến việc mời những người khác. Tất cả các thắc mắc này khiến ta phải nhìn nhận rằng cc. 6-7 là một câu lạc lõng. Rất có thể tác giả đang nghĩ đến cuộc tàn phá Giêrusalem đã xảy ra vào năm 70. Chỉ điều này mới giải thích được vì sao tác giả gán một tầm quan trọng đặc biệt cho chuyến hành quân trừng phạt và cuộc thiêu hủy thành phố. Và những kẻ sát nhân không phải chỉ là một  vài người tạo cớ cho tác giả viết dụ ngôn, nhưng là tất cả các thợ làm vườn nho đã giết người con sau khi bàn bạc với nhau (21,38-39). Như thế ở đây tác giả Mt không chỉ làm chứng trung thành về các lời của Đức Giêsu đã được truyền đạt cho ngài, nhưng còn cung cấp cho chúng ta cách thức giải thích các lời này cho các thành viên của các cộng đoàn tiên khởi của Hội Thánh. Hai phương diện này được kết nối chặt chẽ với nhau. Chỉ lời được Hội Thánh phát xuất từ các tông đồ hiểu và giải thích đúng đắn mói có thể được coi như là Lời Chúa, được Chúa Thánh Thần linh hứng và buộc chúng ta tin nhận.

* Dụ ngôn Tiệc cưới thành công (8-13)

Phân đoạn này gồm hai truyện khác nhau được kết nối lỏng lẻo (cc. 8-10 và 11-13). Câu truyện có thể kết thúc ở c. 10. Chính cụm từ “xấu và tốt” ở c. 10 khiến độc giả nghĩ rằng câu truyện có thể còn tiếp.

Bây giờ các đầy tớ có nhiệm vụ ngỏ lời mời với những người khác, mà không chọn lựa. Họ có nhiệm vụ đưa tất cả những ai họ gặp trên đường khắp cùng bờ cõi vương quốc (diexodoi tôn [h]odôn) vào phòng tiệc. Tác giả Mt không nói là “người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt” như Lc 14,21, vì hiểu chữ “tất cả” (“mời hết vào”) theo nghĩa khác: kẻ xấu người tốt đều được mời. Lần mời này thành công. Chẳng mấy chốc phòng tiệc đã đầy một khối người đa tạp. Sự đa tạp này không do khác nhau về y phục, về địa vị xã hội hay về những yếu tố bên ngoài. Đây là một  sự khác biệt bên trong, chủ yếu, giữa “người xấu và người tốt (c. 10). Chúng ta chỉ hiểu được tình trạng này nếu khởi đi từ thực tế tác giả đang nghĩ tới. Lời mời đã được ngỏ với dân Israel, nhưng họ đã không muốn đón nhận; thế là lời mời được gửi đến một dân mới, Dân ngoại. Đây không còn phải là một dân gồm những người trong sạch và các thánh, mà là một xã hội đa tạp gồm những người xấu và những người tốt. Ta gặp thấy có cả hai hạng người này trong Hội Thánh, như cỏ lùng giữa lúa tốt (13,28; x. dụ ngôn Chiếc lưới: 13,47-50). Dù sao, phòng tiệc cũng đã đầy vì mọi người được tự do đi vào. Thế nhưng đến đây, bài dụ ngôn vẫn chưa kết thúc “có hậu”. Bởi vì sẽ có một cuộc biện phân quyết định: lời mời không khẳng định là người ta sẽ thực sự được tham dự vào lễ cưới. Trước tiên phải có một  cuộc phán xét: phải tách cỏ lùng khỏi lúa tốt. Đây chính là mục tiêu của phân đoạn thứ hai (cc. 11-13).

Đến đây khung cảnh vẫn là bữc tiệc, nhưng sự chú ý lại xoáy vào chiếc áo cưới. Ông chủ dường như không còn phải là vị vua trước đây nữa. Ông không đến để chiêu đãi một bữa tiệc linh đình nữa, mà đến để “quan sát” (theasasthai; x. 2 V 9,18) các khách dự tiệc. Ông đã thấy có một người không có “y phục lễ cưới” (endyma gamou). Nhà vua gọi anh ta là “này bạn” (hetairos), nhưng thái độ rất cứng rắn, không khoan nhượng. Dĩ nhiên người ta tự hỏi là làm thế nào người kia có thể có một cái áo cưới (và tất cả những người khác thì lại có sẵn áo cưới!) khi mà anh ta bị mời đột ngột giữa đường. Như thế là bất công trắng trợn! Chính điểm gây “sốc” này cho hiểu rằng đây không phải là vấn đề một  cái áo theo nghĩa cụ thể. Chúng ta đã được chuẩn bị cho cách giải thích này bởi vì dụ ngôn đã ghi trước đó là trong phòng có kẻ xấu người tốt. Rõ ràng người không có áo cưới thuộc về hạng kẻ xấu. Cũng chính điểm này mới giúp hiểu cách đối xử người ấy sẽ phải chịu: không phải là đuổi ra ngoài, nhưng “quăng ra chỗ tối tăm” (x. 8,12; 25,30), nơi sẽ phải “khóc lóc nghiến răng” (x. 8,12; 13,42.50; 24,51; 25,30), tức là người ấy bị tiêu vong. Sự “câm miệng” của người khách này chứng tỏ lời trách của ông chủ là đúng. Người này, cũng như những người đầu tiên, đã không hề quan tâm đến vinh dự đã nhận; họ đã đến tiệc cưới với đầu óc tầm thường, thô thiển, không trân trọng, không biết ơn.

Bữa tiệc là hình ảnh Nước thiên sai; chiếc áo tượng trưng cho các tư thế căn bản để được vào và ở lại đó. Trong Bài Giảng trên núi, Đức Giêsu đã yêu cầu các môn đệ phải có một “sự công chính dồi dào hơn” (x. 5,20); đây chính là tinh thần mới người ta phải có để sống các tương quan với Thiên Chúa.

Nhận được lời mời không đương nhiên là được cứu độ vĩnh viễn. Con số những người được kêu gọi thì nhiều, điều này có nghĩa là nhiều người được để cho đi vào, không phân biệt, không điều kiện. Họ không cần phải giữ luật Môsê, họ không cần phải chịu cắt bì. Nhưng khả năng đi vào không có nghĩa là một  bảo đảm; đi vào trong sự hiệp thông Hội Thánh không có nghĩa là được đi vào trong Nước Thiên Chúa và lúc tận thế. Phải phân biệt giữa niềm cậy trông đầy tín thác và phó thác với sự tự phụ, tự hào không cơ sở là mình có ơn cứu độ.

* Kết luận (14)

Câu kết luận này là một lời bình của Đức Giêsu. Câu này, “Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít”, thường được giải thích theo hai cách. Cách thứ nhất cho rằng “những người được chọn” đây là những người được nhận một ơn đặc biệt khiến họ có thể sống gần kề hơn với những sự thuộc về Thiên Chúa và có thể cậy dựa nhiều hơn vào lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa đối với họ. Dĩ nhiên con số này ít, còn đa số chỉ nhạn được một  ơn thông thường. Cách thứ hai, phổ biến hơn, giới hạn khẳng định của Đức Giêsu vào trường hợp những người Do Thái thời Người mà thôi: tất cả đều được gọi vào Nước Trời theo nghĩa là tin vào Người, nhưng tuyệt đại đa số đã từ khước đi vào Nước ấy khi loại trừ Đấng Mêsia.

Cả hai cách giải thích này đều có phần giá trị, nhưng không khớp với dụ ngôn. Cách thứ nhất giả thiết rằng người khách bất xứng đã bị quăng ra ngoài bởi vì đã lén đi vào một nhóm nhỏ gồm những người được ưu tuyển; nhưng bản văn nói rõ là người ấy bị loại bởi vì thiếu điều tối thiểu cần thiết cho sự đoan trang của bữa tiệc. Cách thứ hai cũng không thỏa đáng. Bởi vì người khách bị loại đã đi vào với nhóm thứ hai, nên người này là một người ngoại chứ không phải là một  người Do Thái; thế nhưng lại chính vào lúc loại trừ người ấy mà Đức Giêsu mới công bố lời nói về nhóm nhỏ những người được chọn. Đàng khác, hiểu sát bản văn, chúng ta thấy câu này không phù hợp với các sự hiện: trên con số lớn các khách dự tiệc, chỉ có người bất xứng này bị loại trừ; làm sao có thể nói đến một  số “ít” (nhỏ) những người được chọn?

Do đó, giải pháp đơn giản nhất nằm ở bình diện ngữ học (philologie): đây là hai công thức so sánh theo ngôn ngữ Sê-mít ở thể ngầm, mà ta có thể dịch ra như sau: “Những kẻ được gọi thì nhiều [hơn], nhưng những người được chọn thì ít hơn”. Hiểu như thế, chúng ta thấy phù hợp với ngữ cảnh: con số người được gọi thì rất đông, nhưng rồi có những người từ khước và có người bị loại trừ. Quả thật, nhiều người được gọi, nhưng những người được chọn thì ít hơn. Do đó, điều hết sức quan trọng là để ý mà thực hiện những điều kiện cần thiết để cho việc chúng ta được kêu gọi đưa chúng ta đến chỗ được chọn vĩnh viễn (x. Lc 13.22-24 trong chiều hướng này).

+ Kết luận

Tầm nhìn của bản văn có thay đổi: Từ chỗ minh họa lời rao giảng của Đức Giêsu, dụ ngôn đã trở thành một  minh họa đời sống của Hội Thánh. Đã là những người được thừa hưởng những lời hứa của Thiên Chúa, người Do Thái cũng là những người đầu tiên được đón nhận Tin Mừng, từ phía Đức Giêsu cũng như từ phía các tông đồ. Vậy mà họ vẫn không tin: thái độ cứng tin này quả là một mầu nhiệm, nhưng cũng không làm hỏng được các kế hoạch của Chúa quan phòng. Vào lúc tác giả Tin Mừng viết, thì Hội Thánh đã quy tụ lại nơi bàn tiệc thứ hai rồi. Các tín hữu thuộc về Hội Thánh cũng như các khách dự tiệc phải luôn luôn trong y phục chỉnh tề vì bất cứ khi nào vị thẩm phán cũng có thể xuất hiện và loại họ khỏi phòng tiệc vĩnh viễn. Cũng như dân Do Thái đã bị loại bởi vì họ đã tỏ ra bất xứng khi từ chối lời mời, người ki-tô hữu cũng có thể bị loại trừ mặc dù đã đón nhận lời mời.

Tuy nhiên, chính chúng ta phải thấy mình được Thiên Chúa kêu gọi và chờ đợi chúng ta tự do quyết định. Thiên Chúa vẫn cứ nhắc lại các lời kêu gọi và tiếp tục gửi đến các sứ giả của Người.

V. GỢI Ý SUY NIỆM

1. Hoàn cảnh hiện tại có đặc điểm là Thiên Chúa kêu gọi qua trung gian các tôi tớ, sự tự do của con người và sự đại lượng của Thiên Chúa. Từ hoàn cảnh này, ta không được rút ra những hậu quả sai lạc. Ta không được cho rằng tiếng gọi của Thiên Chúa là một  đề nghị không quan trọng, rằng chúng ta có thể tùy nghi đón nhận hoặc từ khước, rằng chúng ta có một  tự do không giới hạn có thể không những chọn lựa mà còn xác định được các hậu quả của sự chọn lựa, rằng sự tự do của Thiên Chúa là dấu cho thấy Ngài yếu đuối và dửng dưng. Bây giờ Thiên Chúa là Đấng kêu gọi và mời mọc; con người là những người hành động, đáp trả với khả năng quyết định tự do. Nhưng đến cuối, Thiên Chúa sẽ là Đấng hành động và xác định vĩnh viễn. Ai từ chối làm việc trong vườn nho sẽ bị loại khỏi Nước Trời (x. 21,31). Ai không giao nộp các hoa lợi của vườn nho và xử tệ với các tôi tớ của ông chủ sẽ bị mất vườn nho và phải chịu một  kết thúc thảm thương (21,41). Ai không đón nhận lời mời đến dự tiệc, sẽ bị loại trừ (22,8).

2. Chúng ta có thể chọn lựa tự do, nhưng chúng ta không còn tự do nữa đối với các hậu quả của sự chọn lựa của chúng ta, bởi vì chúng ta không thể tự do xác định chúng, nhưng chúng thuộc về cách do Thiên Chúa xác định. Chúng ta có thể nói không với tiếng gọi của Thiên Chúa, nhưng chúng ta không thể đạt được sự thể hiện tốt đẹp cuộc sống chúng ta với tiếng không này. Cần phải ý thức như thế để không xử sự cách phi lý, khi không đón nhận tiếng gọi của Thiên Chúa.

3. Bữa tiệc không chứa những yếu tố khiến có thể nghĩ đến tiệc Thánh Thể, nhưng chính hình ảnh vẫn có thể gợi ra những bữa tiệc agapê và các cuộc cử hành phượng tự thường xuyên trong Hội Thánh. “Các đầy tớ” (douloi) của dụ ngôn thứ nhất ở đây được gọi là “những người phục dịch” (diakonoi); từ ngữ diakonoi khiến ta nghĩ đến các thừa tác viên trong các cử hành phụng vụ. Áo cưới nêu bật tình trạng thánh thiện và ân sủng mà người ta phải có để được đến gần bàn tiệc của Chúa.

4. Trong các dụ ngôn Cỏ lùng và Lưới cá (13,37-43.49-50), Đức Giêsu cũng đã nói rõ rằn Hội Thánh cũng là một phần của tập thể pha trộn là thế giới, “thửa ruộng” của Con Người. Như thế, các thành viên của Hội Thánh phải để ý đừng thuộc về “những kẻ xấu” đứng đó mà không có y phục lễ cưới. Chỉ có một người trong dụ ngôn bị cật vấn có nghĩa là từng người phải trả lẽ, chứ không thể cây dựa vào người khác.

5. Vào ngày chúng ta được rửa tội, chúng ta đã được mặc một  áo trắng, và vị chủ lễ đã chúc chúng ta giữ cho nó được tinh tuyền cho đến ngày Phán xét. Nếu chúng ta đã làm hoen ố bộ áo rửa tội này, chúng ta vẫn có thể đến trình diện trước tòa của lòng từ bi thương xót, đo là bí tích hòa giải. Tại đây Đức Giêsu lại giặt sạch bộ áo cưới của chúng ta và lại mời chúng ta vào tham dự bữa tiệc vương giả của Người, trong niềm vui của tình thân mật đã tìm lại được. Như thế, cũng đừng bao giờ tự hào rằng mình đã “tới nơi”, cũng đừng phê phán ai. Không phải vì ta đang “ở trong” mà ta đã được bảo đảm, và có quyền xét đoán những người “ở ngoài”, những người chưa biết mà đi vào, hoặc thậm chí những người đã từ khước. Cho dù có ở trong Hội Thánh hay Nước Thiên Chúa, chúng ta vẫn chỉ là “khách được mời”, do ân huệ nhưng-không.

Lm. Vũ Phan Long, ofm

CHÚA MỜI CHÚNG TA ĐẾN

DỰ TIỆC NƯỚC TRỜI

Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Anh chị em thân mến

Có nhiều niềm hạnh phúc chúng ta đang hưởng mà không ý thức, chẳng hạn hạnh phúc được làm con Chúa, hạnh phúc được ở trong Giáo Hội, hạnh phúc mỗi tuần được dự tiệc của Chúa.



Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta xin Chúa giúp chúng ta ý thức những hạnh phúc ấy; và chúng ta cũng xin Ngài dạy chúng ta biết sống thế nào để xứng đáng với tấm lòng của Chúa.


II. GỢI Ý SÁM HỐI

  • Tuy vẫn biết hạnh phúc Nước Trời là quý báu nhất, nhưng rất nhiều khi chúng ta coi trọng những giá trị vật chất hơn.
  • Nhiều lần chúng ta từ chối ơn Chúa.
  • Dù đang ở trong Nước Chúa và làm công dân Nước Chúa, nhưng cách sống của chúng ta chưa xứng đáng.


III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I Is 25,6-9

Bữa tiệc mà ngôn sứ Isaia mô tả có những nét đáng chú ý sau đây:

    Người thết đãi là "Chúa các đạo binh"

    Khách được mời dự là tất cả các dân

    Nơi dọn tiệc là "trên núi này", tức là núi Sion.

Trong bữa tiệc đó, người dự không chỉ được thưởng thức những thức ăn ngon, mà còn được cất khỏi mọi buồn sầu, tủi hổ, tang chế.

Ðó chính là hạnh phúc Nước Trời được Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người không phân biệt ai.

2. Ðáp ca Tv 22

Tv 22 này rất quen thuộc đối với mọi tín hữu: Thiên Chúa là một mục tử chăm sóc đoàn chiên hết sức chu đáo: lo cho chiên có cỏ xanh để ăn, nước trong để uống, bóng mát để nghỉ ngơi, và còn bảo vệ để chiên có thể "ăn tiệc" thoải mái ngay trước mặt quân thù.

3. Bài đọc II Pl 4,12-14.19-20 (Chủ đề phụ)

Trong thời gian Phaolô bị cầm tù, tín hữu Philipphê đã rộng rãi giúp đỡ ông. Trong lá thư cám ơn gởi cho họ, Phaolô nói 2 ý:

Thực ra ông cũng không cần những giúp đỡ vật chất ấy, vì một mặt ông đã quen thích nghi với mọi hoàn cảnh, và mặt khác ông còn được Chúa trợ giúp, cho nên "Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi".

Tuy nhiên việc tín hữu Philipphê trợ giúp vật chất cho ông là một điều rất quý. Phaolô xin Thiên Chúa đền đáp lại xứng đáng cho họ.

4. Tin Mừng Mt 22,1-14

Ý nghĩa của dụ ngôn bữa tiệc: Thiên Chúa ban hạnh phúc Nước Trời trước tiên cho dân Do Thái, nhưng họ đã từ chối vì chuộng những giá trị trần gian hơn; Thiên Chúa lại ban hạnh phúc ấy cho muôn dân. Tuy nhiên, cũng như người dự tiệc cưới phải mặc áo cưới, người được mời gia nhập Nước Trời cũng phải có một nếp sống mới phù hợp với Tin Mừng.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Ðiều trước mắt che khuất điều ở xa

Hạnh phúc Nước Trời, hay--nói cho dễ hiểu--hạnh phúc thiên đàng là thứ hạnh phúc trọn vẹn nhất, vững bền nhất, hơn tất cả mọi thứ hạnh phúc ở trần gian. Ai cũng biết thế.

Tuy nhiên, loài người chúng ta có một cái tật, là bị những cái trước mắt che khuất nên không nhìn thấy cái ở xa, giống như tật cận thị.

Cái trước mắt mà chúng ta thấy hằng ngày là hạnh phúc mà trần gian mang lại qua việc làm ăn, buôn bán. Nói cách khác, trước mắt phải lo làm ăn để có một cuộc sống bảo đảm về vật chất; thiên đàng thì còn xa, sau này từ từ lo.

Suy nghĩ như thế có phần đúng, vì ta phải sống thực tế với hiện tại. Nhưng cũng có phần sai khi chỉ biết hiện tại mà không hề nghĩ tới tương lai.

Ðiều sai lớn nhất mà bài Tin Mừng này vạch ra là chẳng những ưu tiên lo cho hiện tại, mà còn "không đếm xỉa gì" đến bữa tiệc Nước Trời, thậm chí còn nhục mạ và hành hạ những sứ giả mà Thiên Chúa sai đến mời ta dự tiệc của Ngài.

Bài Tin Mừng hôm nay gợi cho chúng ta một số điều để suy nghĩ:

Chúa không hề trách vì chúng ta lo cho cuộc sống vật chất. Nhưng lo đến nỗi quên hẳn cuộc sống mai sau thì sẽ đáng trách. "Tiên vàn chúng con hãy tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, mọi sự khác Ngài sẽ lo cho chúng con".

Vì chúng ta dễ quên hạnh phúc mai sau, nên nhiều lần và nhiều cách Thiên Chúa sai người này người nọ đến nhắc nhở chúng ta. Chúng ta có khó chịu với những người ấy, xua đuổi họ, nhục mạ họ và ngược đãi họ không?

2. Tại sao họ đã chối từ?

Trong đoạn Tin Mừng này, Thánh Mát thêu ghi lại hai lý do: "người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán". Thánh Luca thì ghi rõ hơn, tới 3 lý do: "Người thứ nhất nói: tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; người khác nói: Tôi mới tậu 5 cặp bò, tôi đi thử đây; người khác nói: Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được" (Lc 14,18-19)

3 lý do trong Luca có thể gom thành 2 loại là

  • làm ăn (thăm đất và thử bò)
  • và thụ hưởng (cưới vợ).

Thực ra hai điều ấy không cấp bách đến nỗi phải lập tức làm ngay để đành từ chối lời mời ưu ái của nhà vua. Tuy nhiên, đó là hai nguyên do khiến nhiều người chối từ lời mời của Thiên Chúa. Ta có thể rút ra hai khuyến cáo:

  • Quá mê làm ăn có thể kéo ta xa Chúa.
  • Quá lo thụ hưởng cũng có thể kéo ta xa Chúa.


3. Những ông chủ trại, những thương gia và những kẻ ngoài đường

Chúng ta hãy lưu ý rằng hai hạng người từ chối dự tiệc cưới là những ông chủ trại và những thương gia. Họ không đến vì còn phải lo đi thăm trại và đi buôn bán. Còn những người mau mắn đến dự tiệc là những kẻ ở các ngã đường. Họ nghèo, họ đang đói cho nên được mời ăn tiệc là đến ngay.

Người no đủ không thích ăn tiệc bằng người đói khát. Bởi thế, Ðức Giêsu đã nói rất chí lý: "Khốn cho các ngươi là những kẻ no đủ... Phúc cho chúng con là những người đói khát".

4. Y phục tiệc cưới

Phần cuối dụ ngôn này làm người đọc thắc mắc và khó chịu: những người đang ở ngoài đường đột nhiên được mời vào dự tiệc cưới thì làm sao có sẵn áo lễ mà mặc. Thế mà ông vua lại bắt một người không có áo lễ tống giam vào ngục.

Nên nhớ đây là một dụ ngôn, nghĩa là các chi tiết ám chỉ đến một ý nghĩa nào đó. Nếu bữa tiệc cưới là hình ảnh của Nước Trời, thì chiếc áo cưới tượng trưng cho nếp sống phù hợp với Nước Trời. Tự nhiên được mời vào Nước Trời đã là một hồng phúc, cho nên để đáp lại thì phải có một nếp sống phù hợp với Nước Trời.

Chiếc áo tượng trưng cho cách sống. Chúng ta hãy suy nghĩ về chiếc áo / cách sống hiện tại của chúng ta: Nó có tốt hơn, đẹp hơn chiếc áo / cách sống của những người không được ở trong phòng tiệc không?

Chiếc áo tốt đẹp nhất của người dự tiệc Thiên Chúa chính là sống như Ðức Kitô, như lời Thánh Phaolô nói: "Anh em hãy mặc lấy con người mới" (Ep 4,24), "Hãy mặc lấy Ðức Kitô" (Gl 3,27)

5. Chuyện minh họa: Viện Cớ

Chúng ta có rất nhiều cớ để không làm điều mình phải làm, và nhiều cớ để làm điều lẽ ra không nên làm.

Ngày xưa có một anh thợ may rất khéo. Bao nhiêu áo đẹp của mọi người trong thành đều do anh may. Tuy nhiên bản thân anh thì chỉ có mỗi một chiếc áo rách. Lúc nào anh cũng mặc chiếc áo rách ấy, ngay cả trong những buổi tiệc lớn của thành phố. Có người thấy thế hỏi anh:

  • Sao anh có thể may bao nhiêu chiếc áo đẹp cho mọi người mà lại không may cho anh được một chiếc áo lành lặn.
  • Vì tôi phải may áo kiếm tiền, không có giờ may áo cho mình.
  • Vậy anh hãy cầm lấy 20 đồng tiền này và may cho anh một chiếc áo, kể như tôi mướn anh may cho tôi vậy.

Anh thợ may cầm tiền về nhà. Ðến buổi tiệc tiếp theo, anh lại đến với chiếc áo rách cũ. Người bạn hỏi:

  • Sao anh không may áo cho anh?
  • Chiếc áo cho chính bản thân tôi mà giá chỉ có 20 đồng thì quá rẻ, nên tôi không may!

Người bạn chẳng nói gì nữa, bởi vì có nói gì nữa thì anh thợ may cũng sẽ tìm được một cớ khác thôi.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT: Anh chị em thân mến

Thiên Chúa mời gọi, ban phát tình thương và ân sủng một cách vô giới hạn cho tất cả mọi người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.

1. Chúa Giêsu đã dùng bí tích Thánh tẩy mà quy tụ chúng ta vào trong Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban Thánh Thần hiệp nhất đến trong Hội Thánh / để Người loại trừ mọi bất hòa / ghen ghét và chia rẽ giữa những người có cùng một niềm tin.

2. Chúa Giêsu là vua đem lại hòa bình / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa tiêu diệt mầm móng chiến tranh / và cho muôn dân được an cư lạc nghiệp.

3. Ðời sống thường ngày đem lại cho con người hạnh phúc thì ít / mà phiền muộn đau khổ lại nhiều / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban Thánh Thần / là nguồn an ủi kỳ diệu đến trần gian / đề Người lau sạch nước mắt cho những ai đang khổ sầu.

4. Ngày phán xét chung / Chúa chỉ căn cứ vào một tiêu chuẩn duy nhất / để thưởng công hay luận tội người kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn sống trọn vẹn niềm tin đã lãnh nhận / đặc biệt là biết chân thành yêu thương hết thảy mọi người.

CT: Lạy Chúa, xin ban ơn trợ giúp chúng con sống trọn vẹn ơn gọi kitô hữu, nhờ đó chúng con có thể mạnh dạn nói như Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Galát: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi". Chúng con cầu xin…

Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

ĐỜI SỐNG KYTÔ HỮU

Lm. Mark Link, SJ

Trong thời cổ, các vua thông báo về tiệc cưới hay đại tiệc thì trước đó rất lâu. Tuy nhiên, ngày giờ chính xác sẽ được cho biết vào một ngày sau đó.

Việc chấp nhận lời mời lúc ban đầu nhưng sau đó lại từ chối, đó là một sỉ nhục. Một thí dụ ngày nay có thể minh hoạ điều đó.

Giả như con trai quý vị trở về nhà sau thời gian hai năm tình nguyện làm việc trong đạo quân Hoà Bình. Anh ta sẽ trở về nhà vào tuần tới, nhưng không biết chắc là thứ Năm hay thứ Sáu.

Quý vị gọi điện thoại cho các bạn thân nhất của nó và mời họ đến tham dự bữa ăn tối. Quý vị giải thích hoàn cảnh và yêu cầu họ dành cho cả hai ngày. Họ đồng ý.

Khi biết rõ là cậu con trai sẽ về vào ngày thứ Năm, quý vị gọi điện thoại cho những người ấy và cho biết, “Bữa tiệc sẽ vào ngày thứ Năm”. Nhưng mọi người đều từ chối là họ không thể đến. Thật bàng hoàng.

Đó là một hoàn cảnh mà Đức Giêsu diễn tả trong dụ ngôn bài Phúc Âm hôm nay. Thành phần khán giả của Người là các nhà lãnh đạo tôn giáo trong thời đó.

Nhiều năm trước, họ đã chấp nhận lời mời của Thiên Chúa để trở nên dân tộc Người chọn – những người khách đặc biệt của Thiên Chúa trong bàn tiệc Nước Trời.

Nhưng khi Đức Giêsu thông báo rằng Nước Trời và bữa tiệc đã dọn sẵn, họ lại từ chối lời mời, viện ra nhiều lý do tại sao họ không thể đến.

Lời hứa của chúng ta đi theo Đức Giêsu thì cũng tương tự như hoàn cảnh xưa ở Israel.

Qua bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, chúng ta chấp nhận lời mời của Đức Giêsu và đi theo Người, và trở nên các người khách đặc biệt của Người tại bàn tiệc Nước Trời.

Tuy nhiên, chấp nhận lời mời chỉ là bước đầu trong tiến trình. Đó chỉ là khởi sự hành trình đức tin của chúng ta.

Chúng ta có thể so sánh việc chấp nhận lời mời của Đức Giêsu giống như lời thề trong hôn nhân. Lời thề đó không phải là chấm dứt một tiến trình; đó mới chỉ là mở đầu.

Có câu chuyện thật sau đây minh hoạ điểm chúng ta vừa đưa ra.

Thánh Phanxicô Assisi sinh trong một gia đình giầu có thời Trung Cổ. Khi niên thiếu, anh là một dân chơi và ăn tiêu hoang phí. Anh rộng lượng dùng tiền của mình để trả cho những tiêu pha của chúng bạn du đãng.

Vào năm 1202, giữa thành phố Assisi và Perugia có sự thù nghịch. Phanxicô phải gia nhập đạo quân của Assisi. Trong một cuộc giao tranh, anh bị bắt và bị giam trong ngục tù dơ bẩn khoảng một năm.



Sau khi được thả, phải mất gần một năm anh mới phục hồi sức khoẻ. Cảm nghiệm này đã thay đổi cuộc đời anh mãi mãi.


Anh từ bỏ những y phục đắt tiền và mặc quần áo của một người nghèo. Sau lưng các chiếc áo, anh vẽ một chữ thập trắng thật to.

Sau đó anh bỏ nhà và sống cuộc đời ẩn dật của một người khổ hạnh. Căn nhà của anh là một nhà thờ đổ nát ở ngoại ô Assisi. Ở đây, anh dành nhiều giờ để cầu nguyện.

Một ngày kia, khi Phanxicô tham dự Thánh Lễ ở một nhà thờ, trong bài Phúc Âm, Đức Giêsu ra lệnh cho các môn đệ hãy đi rao giảng Tin Mừng cho dân chúng ở các làng chung quanh.

Đức Giêsu nói với họ là đừng mang theo gì cả, nhưng hãy hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa về những nhu cầu vật chất. (Mt 10-5-15)

Mệnh lệnh này đã hướng dẫn cả cuộc đời của Phanxicô. Anh từ giã cuộc đời ẩn dật và lên đường rao giảng Tin Mừng trong sự hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa.

Cá tính lôi cuốn của anh đã hứng khởi những người trẻ đi theo anh. Và từ đó dòng Phanxicô phát sinh. Phần còn lại câu chuyện đã làm nên lịch sử.

Cuộc đời của Thánh Phanxicô Assisi minh hoạ loại thề hứa mà cuộc đời Kitô Hữu phải có. Thánh nhân bắt đầu cuộc đời như một tín hữu Kitô bình thường, yêu quý đời sống dễ dãi hơn yêu quý đời sống Kitô Hữu.

Sau đó thảm kịch đã xảy ra cho thấy, trên thực tế, cuộc đời này thật hời hợt và chóng qua biết chừng nào. Nó có thể tan biến trong chốc lát, cũng như cuộc đời của chúng ta sẽ trôi qua trong giây lát.

Kết quả là Phanxicô trải qua một sự biến đổi sâu xa, trở về với Đức Giêsu. Người ta nghĩ rằng Phanxicô chỉ cần thay đổi đến như vậy. Nhưng không phải thế! Đức Giêsu có chương trình lớn hơn cho anh.

Sau khi Đức Giêsu trở thành một dụng cụ cứu độ cho anh, Đức Giêsu mời anh trở nên một dụng cụ cứu độ cho người khác. Và vì vậy Phanxicô đi rao giảng Tin Mừng trong một thế giới rất giống như thế giới chúng ta. Thế giới ấy ngày càng lạnh lùng với đức tin và ngột ngạt giữa những vui thú của thế gian.

Phanxicô không chỉ thổi cho ngọn lửa đức tin của hàng ngàn người bùng lên, nhưng anh còn linh hứng cho cả một đạo binh người trẻ bắt chước và đi theo anh.

Ý nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay thì thật rõ. Đời sống Kitô Hữu là một tiến trình đang tiếp diễn: một hành trình, chứ không phải là một trạm dừng chân.

Đó là một lời mời chúng ta hãy nắm lấy bàn tay của Đức Giêsu và đi theo Người bất cứ đâu Người dẫn dắt chúng ta.

Và nếu chúng ta chấp nhận lời mời ấy, Đức Giêsu sẽ dẫn chúng ta vảo một cuộc mạo hiểm mà trong đó chúng ta sẽ thấy đời mình thật khác với lúc trước.

Chúa sẽ biến chúng ta thành một khí cụ cho sự bình an của Người: gieo tình yêu vào nhưng nơi hận thù, gieo hy vọng vào những nơi thất vọng, đem ánh sáng vào những nơi tối tăm, và đem niềm vui đến nơi u buồn.

Đức Giêsu sẽ trực tiếp dậy chúng ta rằng khi cho đi là khi thực sự nhận lãnh. Và chính lúc chết đi là khi chúng ta thực sự được sinh vào sự sống đời đời.

Đây là Tin Mừng của Phúc Âm hôm nay.

Đây là Tin Mừng mà chúng ta cử hành khi trở về với bàn thờ để chuẩn bị chia sẻ bàn tiệc Thánh Thể.Đó là đượ c nếm thử bàn tiệc vĩnh cửu, mà chúng ta luôn được mời gọi.

Lm. Mark Link, SJ

XIN CHI Ý CHA THỂ HIỆN

Lm. Augustine, SJ

Sơ Lêôni, 66 tuổi, vừa trở lại Canađa sau 36 năm truyền giáo tại nước Tuynidi (Bắc Phi). Thể theo nguyện vọng của Sơ, Bề trên đã cử Sơ về thành phố Quê-Bếc, nơi Sơ có thể đi lại thăm nom người chị cả đã 86 tuổi, sống độc thân trong một căn hộ nhỏ.



Gia đình Sơ Lêôni được cả thảy 6 anh chị em. Ngoài người chị cả này và hai người anh là tu sĩ Dòng Tên, Sơ còn hai người anh bại liệt, không thể tự lo liệu cho bản thân. Chính vì thế mà chị cả của Sơ đã hy sinh không lập gia đình riêng, nhưng chọn cuộc sống độc thân để phụng dưỡng cha mẹ già và chăm sóc hai người em tật nguyền cho đến lúc họ qua đời. Hơn nữa, người chị cả đã chọn con đường như thế để ba người em đi tu được yên tâm phục vụ Giáo Hội hơn. Sơ Lêôni nhớ lại năm 1960, khi Sơ vừa khấn trọn đời, thì nhà dòng sai đi truyền giáo ở Tuynidi. Một trong hai người anh linh mục của Sơ lúc đó cũng đang truyền giáo tại Ðảo quốc Haiti. Cũng như một số người Ả Rập cực đoan theo Hồi giáo trong vùng, chính quyền Tuynidi chỉ cho phép các thừa sai ngoại quốc đến mở các công cuộc từ thiện, chứ không được trực tiếp truyền giảng Tin Mừng. Thế nên cộng đoàn của Sơ Lêôni đã đến sống tại một khu phố nghèo, mở một thư viện cộng đồng cho dân chúng đến đọc sách và những lớp học tình thương dạy chữ cho các trẻ em nghèo thất học. Dù phải vất vả học tiếng Ả Rập, lại không có được thiện cảm của chính quyền địa phương cũng như của các thành phần Hồi giáo quá khích, các sơ vẫn hết lòng yêu mến người Tuynidi và phục vụ đất nước của họ. Vào năm 1991, khi Mỹ và Phương Tây mở cuộc chiến tranh Vùng Vịnh để trừng phạt Irắc đã xâm lăng một lân quốc nhỏ, các sứ quán Phương Tây tại các nước Ả Rập đã khuyên các kiều dân của họ tại các nước ấy nên đến tá túc tại các cơ quan ngoại giao để tránh bị bắt làm con tin hoặc bị sát hại (cắt cổ) bởi những phần tử cực đoan muốn trả đũa Phương Tây. Thế nhưng các Sơ vẫn chọn ở lại trong khu phố, sẵn sàng chết như đã sống hết mình cho dân tộc Tuynidi. Ba mươi sáu năm trời trôi qua thật mau, thật đẹp, nhưng cũng không thiếu những cam go thử thách. Trở lại Canađa, Sơ Lêôni thật hạnh phúc vì có được cơ hội gần gũi người chị cả quảng đại, trong những ngày tháng cuối đời của chị ấy.



Thế nhưng hạnh phúc đó đã chẳng kéo dài bao lâu. Một năm sau đó, Sơ Lêôni được cử vào ban cố vấn cho Mẹ Giám Tỉnh và phải thuyên chuyển về Nhà Giám Tỉnh cách xa đó 250 cây số. Một lần nữa, Sơ lại từ bỏ ý riêng, gác qua một bên lợi ích của người thân, hầu đáp lại tiếng Chúa mời gọi, thể hiện qua quyết định của Bề trên.

Tiếng Chúa đáng được tuân phục trên tất cả

Dụ ngôn tiệc cưới hôm nay bao gồm hai hồi rõ rệt. Hồi một nói đến việc Nhà Vua mời thực khách (c.1-10); hồi hai liên quan đến người thực khách không chịu mặc y phục lễ cưới (c.11-14).

Cùng mang một chủ đề với hai dụ ngôn "Hai người con" và "Tá điền sát nhân" của hai Chúa Nhật trước, hồi một của dụ ngôn "Tiệc cưới" ám chỉ trước tiên việc người Do Thái, dân Thiên Chúa tuyển chọn, đã từ khước lời mời gọi tham dự vào Nước Thiên Chúa (tiệc cưới), nên các dân ngoại đã đến thế chỗ họ trong bàn tiệc Nước Trời. Tuy nhiên thái độ từ khước của nhóm khách mời thứ nhất có thể cũng là thái độ của một số Kitô hữu ngày nay. Thật vậy, Chúa luôn mời gọi chúng ta tiến vào Nước của Người bằng một cuộc sống gắn bó hơn với Chúa, chan hoà hơn đối với tha nhân. Lời mời gọi của Chúa đôi lúc thúc bách, nhưng cũng có lúc thật nhẹ nhàng, đòi phải có một thái độ bình tâm mới nghe thấy được. Thế nhưng, dù nghe thấy, chúng ta không phải lúc nào cũng lẹ làng đáp lại. Chẳng hạn, có người thân đau yếu tôi phải đi thăm, nhưng chương trình truyền hình tối nay hay quá...; có những công việc chung cần gánh vác, nhưng tôi chẳng dại gì nhúng tay vào vì ai cũng tránh né như vậy; tôi phải bác ái hơn với người này người kia, nhưng ai mà chịu đựng nổi hạng người đó; tôi nên dành nhiều thời gian hơn để chăm lo việc đạo nghĩa và việc học cho con cái, nhưng đợt hàng này nhiều quá, lại có ăn, nên thôi cứ để lũ trẻ tự lo liệu v.v... Và như thế, chúng ta có thể kéo dài đến vô tận danh sách những việc lẽ ra tôi phải làm theo sự thúc đẩy của Chúa và của tiếng lương tâm nhưng tôi đã không làm.



Câu chuyện của Sơ Lêôni và gia đình đã nêu cho chúng ta một gương sáng về việc tiếng Chúa mời gọi đáng được tuân phục trên tất cả mọi sự, trên cả những công việc xem ra là nghĩa vụ chính đáng mà ta phải đảm nhận (c.5: thăm trại; đi buôn...). Thật vậy, Sơ Lêôni lẽ ra có quyền chọn không đi tu để ở nhà giúp chị cả lo lắng cho bố mẹ và hai người anh đau yếu. Hai người anh linh mục của Sơ lẽ ra có thể ở lại trong đời thường, lập gia đình để dòng họ có người nối dõi. Sơ Lêôni đã có thể từ khước một cách chính đáng việc phải thuyên chuyển về Nhà Giám Tỉnh cho đến lúc người chị qua đời v.v... Thế nhưng Sơ và hai người anh đã đặt tiếng Chúa gọi lên trên tất cả, để hoàn toàn phục vụ Thánh Ý Chúa. Tiếng Chúa gọi đôi lúc bất ngờ, đi ngược lại những toan tính của con người. Nhưng nếu con người biết vâng theo, thì sự vâng phục của họ sẽ đem lại nhiều hoa trái. Tiếng gọi đó không nhất thiết phải là lời mời gọi sống đời dâng hiến; nhưng ở mỗi bậc sống, mỗi hoàn cảnh, Thiên Chúa đã kêu gọi mỗi người đến một tình trạng hoàn thiện hơn theo bậc sống của mình. Chẳng hạn thánh Lê Văn Gẫm ắt cũng phải phiền lòng khi phải rời chủng viện để về giúp đỡ bố mẹ già yếu. Thế nhưng nhờ sống theo lòng mến Chúa đặt trong tim, mà thánh nhân đã trở nên một trợ tá đắc lực cho các thừa sai nước ngoài; lén lút đưa các ngài vượt biển từ Mã Lai vào Nam Kỳ, cũng như đưa các chủng sinh từ Nam Kỳ qua Mã Lai du học. Và cuối cùng, ngay trong bậc giáo dân, thánh nhân đã được phúc tử đạo trong lúc phục vụ Giáo Hội và trở nên một vị Thánh lớn trong số các vị tử đạo của Việt Nam.



Tiếng Chúa đáng được thực thi đến cùng

Hồi thứ hai của dụ ngôn (c.11-14) có thể khiến người đọc kinh ngạc về sự nghiêm khắc của nhà Vua khi ông cho tống cổ một thực khách không mặc y phục lễ cưới khỏi bàn tiệc. Thế nhưng chi tiết này của dụ ngôn chỉ nhằm nói lên rằng: chỉ chấp nhận lời mời dự bàn tiệc Nước Thiên Chúa vẫn chưa đủ; nhưng còn phải khuôn mình theo lối hành xử của các "công dân Nước Trời". Nói cách khác, "theo Ðạo" thôi thì chưa đủ, còn phải "sống Ðạo", thực hành Lời Chúa cho đến kỳ cùng. "Chiếc aó lễ cưới phải khoác" trong dụ ngôn này chính là biểu tượng cho việc sống Ðạo, cho việc thực thi tiếng Chúa mời gọi vang lên trong lương tâm mỗi người. Về điểm này, Ðức Giêsu từng dạy rằng: "Không phải bất cứ ai nói: Lạy Chúa! Lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên Trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21)



Ðến đây, chúng ta rút ra bài học sau từ dụ ngôn Tiệc Cưới: hãy mau mắn đáp trả đến kỳ cùng lời mời của Thiên Chúa. Thế nhưng có những người sẽ thắc mắc tại sao lại phải dự tiệc. Nói cách khác, Tiệc cưới ở đây có ý nghĩa gì?



Tiếng Chúa mời gọi mọi người đến với ơn cứu độ

Thật ra hình ảnh "đại tiệc" đã được sử dụng nhiều lần trong Cựu Ước để ám chỉ sự khôn ngoan của Thiên Chúa (Cách Ngôn 9,1-10) và ơn cứu độ cánh chung Thiên Chúa dành cho nhân loại (Isaia 25,6-12). Ngày đó, Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc trên núi này: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon... Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ mọi dân,... sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần,... sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người... (Is 25,6-8). Cũng vậy, sách Cách Ngôn có viết: "Ðức khôn ngoan xây cất nhà mình, dựng trên bảy cây cột; hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn và sai các nữ tì ra đi... Hãy bước đi trên con đường hiểu biết và các con sẽ được sống."



Nếu mọi người hiểu được ý nghĩa trên đây của "tiệc cưới", ắt họ đã mau mắn đáp lại "Lời mời của Thiên Chúa" đến kỳ cùng, để được chung hưởng sự khôn ngoan và bàn tiệc cứu độ Người dọn sẵn cho mọi người. Ðó chính là ơn mà chúng ta cần xin cho nhau hôm nay. Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe. Chúa có Lời ban sự sống đời đời. Amen.



Một số câu hỏi gợi ý

  1. Có người cho rằng ơn gọi dâng hiến (như Sơ Lêôni và hai người anh linh mục của Sơ) thì cao trọng hơn ơn gọi giáo dân vì ơn gọi đó đòi buộc nhiều hơn. Bạn nghĩ sao?
  2. Trong hoàn cảnh hiện tại của tôi, Chúa mời gọi tôi cụ thể điều gì, để cải thiện đời sống thiêng liêng của tôi, cũng như đời sống trong gia đình, trong môi trường làm việc, trong giáo xứ, và trong việc công ích xã hội?


Lm. Augustine, SJ

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN - A -

Lm. Ignatiô Hồ Thông

Các ngôn sứ đã thường sử dụng hình ảnh bàn tiệc để mô tả niềm vui tương lai của những người công chính trong thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc, cũng như ơn cứu độ và muôn vàn thiên ân mà mọi người được hưởng vào thời Mê-si-a. Trong những sấm ngôn này, tiệc cánh chung và tiệc Mê-si-a hòa lẫn với nhau ít nhiều trong cùng một biểu tượng.

    Is 25: 6-10a

    Trong sấm ngôn theo văn thể khải huyền của I-sai-a, tiệc mà Thiên Chúa thiết đãi cho muôn dân là tiệc cánh chung. Đây là niềm vui của những người được tuyển chọn, mọi đau khổ và sự chết hoàn toàn biến mất trong Nước Trời.

    Pl 4: 12-14, 19-20

    Trong thư gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô bày tỏ tâm tình cảm tạ và tri ân đối với cộng đoàn này. Trái với thông lệ của mình, thánh nhân đã chấp nhận sự trợ giúp vật chất của họ khi ngài gặp phải sự khốn khó trong cảnh giam cầm.

    Mt 22: 1-14 

    Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Vua mở tiệc cưới cho hoàng tử để thiết đãi cho các khách quý của mình. Nhưng vì họ từ chối không đến tham dự tiệc cưới nên lời mời được gởi đến cho tất cả mọi người.

BÀI ĐỌC I Is 25: 6-10a

Bản văn nầy thuộc vào một phân đoạn đặc thù của sách I-sai-a, phân đoạn của các chương 24-27 theo thể loại sấm ngôn khải huyền. Người ta nghi ngờ tác giả của phân đoạn nầy không phải là ngôn sứ I-sai-a, bởi vì văn phong và tư tưởng thuộc thời đại sau nầy.

Viễn cảnh là viễn cảnh thời cánh chung. Hình ảnh bàn tiệc Thiên Chúa thiết đãi muôn dân diễn tả vừa ơn cứu độ hoàn vũ lẫn niềm hân hoan tràn ngập cõi lòng của những người được tuyển chọn.

1. Viễn cảnh cánh chung:

“Ngày ấy, trên núi nầy, Thiên Chúa sẽ thiết tiệc đãi muôn dân”. “Trên núi nầy”, đó là đồi Xi-on, trên đó Đền Thờ được xây dựng. Theo ngôn ngữ khải huyền, “đồi Xi-on” chỉ thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc.

Thiên Chúa thiết tiệc đãi “muôn dân muôn nước”. Ơn gọi phổ quát của núi thánh đã được ngôn sứ I-sai-a loan báo, chính xác vào thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên: “Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi” (Is 2: 1-5), và cũng được chính vị ngôn sứ nhắc lại: “Đức Chúa các đạo binh hiển trị trên núi Xi-on và tại Giê-ru-sa-lem” (24: 23). Vào thời hậu lưu đày, ngôn sứ Da-ca-ria cũng loan báo theo cùng một cách như thế: “Đức Chúa các đạo binh phán thế này: Các nước và dân cư trong các thành phố lớn vẫn còn tuôn đến” (Dcr 8: 20). Thời cánh chung sẽ là giờ Đức Chúa ngự trị. Tác giả đã nhắc lại điều đó ở phía trên: “Đức Chúa các đạo binh hiển trị trên núi Xi-on và tại Giê-ru-sa-lem” (Is 24: 23). Bữa tiệc cánh chung là bữa tiệc hoàng gia. Đức Giê-su sẽ lấy lại chủ đề nầy trong dụ ngôn của Ngài về tiệc cưới hoàng gia.

Đồ ăn cao lương, thức uống mỹ vị: “tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon”, nhấn mạnh mối thịnh tình của Thiên Chúa dành cho khách mời. Trong các hy lễ, “thịt béo” luôn luôn được dâng hiến cho Thiên Chúa (Lv 3: 3-5, 9-11, 14-15). Điều đó muốn nói lên rằng con người sẽ được dự phần vào những thiện hảo mà trước đây chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, rượu luôn luôn là dấu chỉ của niềm vui. Vào dịp nầy, niềm vui là niềm hoan hỉ vĩnh viễn. Thiên Chúa “sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ muôn dân, và tấm khăn liệm bao trùm muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần”. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan sẽ lấy lại viễn cảnh chứa chan hy vọng nầy: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21: 4).

3. Viễn cảnh Mê-si-a:

Sấm ngôn hoàn tất với bài ca cảm tạ tri ân về những thiên ân chưa từng được ban cho và một niềm tin tưởng vô bờ: “Thiên Chúa chúng ta đây rồi, chúng ta từng trông đợi Người, và Người đã cứu chúng ta. Đây là Đức Chúa, Đấng chúng ta đã từng trông đợi. Nào chúng ta hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ” .

Niềm vui chan chứa và sự no thỏa dư dật cũng sẽ là những dấu hiệu của thời Mê-si-a như ở tiệc cưới Ca-na hay vào lúc phép lạ bánh hóa nhiều, cả hai là dấu chỉ loan báo bữa tiệc Mê-si-a đích thật: Bàn Tiệc Thánh Thể.

BÀI ĐỌC II Pl 4: 12-14, 19-20.

Với đoạn trích nầy, chúng ta đọc xong thư của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê.

1. Tin Mừng là một ân ban nhưng không:

Xin nhắc lại rằng thánh nhân viết thư nầy khi ngài đang sống trong cảnh giam cầm hoặc ở Rô-ma hoặc ở Ê-phê-sô. Các tín hữu Phi-líp-phê đã giúp đỡ ngài, vả lại đây không là lần đầu tiên (Pl 4: 16). Thật ra, các tín hữu Phi-líp-phê là cộng đoàn duy nhất mà thánh nhân đã không từ chối việc giúp đỡ vật chất của họ. Thánh nhân thường bận lòng là không bao giờ mình trở thành gánh nặng cho các cộng đoàn mà ngài loan báo Tin Mừng để khỏi làm thiệt hại đến sứ vụ của ngài. Ngỏ hầu người ta có thể tin rằng việc loan báo Tin Mừng của ngài là vô vị lợi, thánh nhân đã không ngừng lặp đi lặp lại Tin Mừng mà ngài đem đến là một ân ban nhưng không, với tư cách là “đầy tớ” của Đức Kitô, Đấng không mong chờ bất kỳ bổng lộc nào. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thánh nhân đã làm việc bằng chính bàn tay của mình: “Chúng tôi phải vất vả và tự tay làm lụng. Bị nguyền rủa, chúng tôi chúc lành; bị bắt bớ, chúng tôi cam chịu” (1Cr 4: 12).

2. Tấm lòng của thánh Phao-lô đối với các tín hữu Phi-líp-phê:

Tuy nhiên, thánh nhân chấp nhận sự trợ giúp của các tín hữu Phi-líp-phê, vì ngài biết rằng nghĩa cử của họ biểu lộ tấm lòng chân thành của họ đối với ngài.

Thánh Phao-lô tế nhị cám ơn họ và xin họ đừng bận lòng thái quá đối với ngài, vì thánh nhân biết hài lòng trong mọi sự và thích nghi với mọi hoàn cảnh: “Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả”. Người ta có thể gặp lại cách nói tương tự dưới ngòi bút của các triết gia khắc kỷ như Ēpictète hay Sénèque. Nhưng trong khi các hiền triết này nhận lấy nguồn bình an tự tại từ nơi chính bản thân mình, thánh Phao-lô đánh dấu sự khác biệt: múc lấy sức mạnh của mình chỉ từ Đức Kitô, Đấng sống trong thánh nhân: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi có thể chịu đựng được hết”.

Thánh nhân muốn các tín hữu hiểu rằng ngài không muốn bị ràng buộc với bất cứ ai, nhưng quyết tâm gìn giữ sự tự do của mình, như khi ngài viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Chúng tôi chịu đựng tất cả mọi sự để khỏi gây trở ngại cho Tin Mừng của Đức Kitô” (1Cr 9: 12).

3. Tấm lòng của các tín hữu Phi-líp-phê đối với thánh Phao-lô:

Thánh Phao-lô bày tỏ tấm lòng biết ơn chân thành của ngài đối với các tín hữu Phi-líp-phê, bởi vì thánh nhân biết rất rõ cộng đoàn Phi-líp-phê không giàu có gì. Quả thật, trong bức thư thứ hai gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô về việc lạc quyên giúp Giáo Hội Giê-ru-sa-lem, chúng ta đọc thấy những lời nầy: “Trải qua bao nỗi gian truân, họ (các tín hữu Phi-líp-phê) vẫn chan chứa niềm vui; giữa cảnh khó nghèo cùng cực, họ trở nên những người giàu lòng quảng đại. Họ tự nguyện theo sức họ, và tôi xin làm chứng là quá sức họ nữa” (2Cr 8: 2-3).

Dù không muốn nhận bất kỳ sự giúp đỡ từ bất kỳ ai, thánh Phao-lô biết rằng những chi sẻ của các tín hữu Phi-líp-phê với ngài trong khi ngài gặp cơn quẫn bách là đẹp lòng Thiên Chúa. Đó thật sự là một sự giàu có tinh thần. Thánh nhân có thể nói với các tín hữu Phi-líp-phê như Lu-ca nói về bà Ta-bi-tha ở Gia-phô: “Họ đầy công đức vì những việc lành và bố thí họ đã làm” (Cv 9: 36). Đã có lần thánh Phao-lô miêu tả hình ảnh người tông đồ: chúng tôi bị coi là người nghèo khó mà kỳ thực chúng tôi làm cho nhiều người giàu có.

Trong phần cuối, thánh nhân nói trước hết đến “Thiên Chúa của tôi”, vì chính Thiên Chúa sẽ thay thánh nhân trả công bội hậu cho những người làm phúc cho thánh nhân; tiếp đó, đến “Thiên Chúa là Cha chúng ta”, vì chính Thiên Chúa là Cha đầy lòng từ bi nhân hậu sẽ săn sóc các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của thánh nhân.

TIN MỪNG Mt 22: 1-14.

Dụ ngôn nầy cùng với hai dụ ngôn đi trước: dụ ngôn hai người con và dụ ngôn bọn tá điền gian ác, hình thành nên một bức tranh bộ ba với cùng một chủ đề: việc lương dân thế chỗ cho dân Chúa chọn, vì sự bất trung của dân này đối với sứ mạng của mình. Tuy nhiên, có một tiến triển: trong dụ ngôn tiệc cưới, dấu nhấn được đặt trên ơn cứu độ phổ quát. Dụ ngôn nầy chứa đựng hai bài học: tiệc Mê-si-a (22: 1-10) và tiệc cánh chung (22: 11-14), cả hai viễn cảnh nầy rất thường được đan quyện vào nhau trong các sấm ngôn Cựu Ước, như trong trường hợp bài đọc I.

1. Tiệc Mê-si-a (22: 1-10):

Như trong sấm ngôn được diễn tả theo văn thể khải huyền của bài đọc I, hình ảnh bàn tiệc gợi ra việc Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài trong niềm vui cứu độ. Trong dụ ngôn, Đức Vua là Thiên Chúa, hoàng tử là Đấng Mê-si-a và tiệc cưới biểu thị Giao Ước Mới, Giao Ước vĩnh viễn của Thiên Chúa với nhân loại.

Đức Vua mở tiệc cưới cho hoàng tử. Nhà Vua không những đã gởi thiệp mời trước; nhưng theo phép lịch sự của giới thượng lưu vào thời ấy, đúng vào ngày mở tiệc, Ngài còn sai gia nhân năm lần bảy lượt đến tận nhà các quan khách có tên trong danh sách mời: “Này cổ bàn, Ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới”. Nhưng các quan khách không thèm đếm xĩa gì tới Giao Ước Mới nầy, đó là dân Ít-ra-en, họ từ chối nhận ra vị hoàng tử là Đấng Mê-si-a. Vài khách mời còn tỏ thái độ thù nghịch: họ còn ngược đãi và giết chết các gia nhân của Đức Vua, tức là các tông đồ và những người được sai đi loan báo Tin Mừng.

“Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu hủy thành phố của chúng”. Thái độ như thế được đặt vào trong bối cảnh Kinh Thánh là những án phạt của Thiên Chúa. Dường như ở đây là một trong những lời tiên báo trực tiếp của Đức Giê-su về cuộc tàn phá thành thánh Giê-ru-sa-lem vào năm 70 sau Công Nguyên bởi quân đội Rô-ma. Vài nhà chú giải thấy ở đây không là một lời tiên báo, nhưng lời nhắc nhớ về một sự kiện đã xảy ra. Bởi vì, trong câu chuyện sóng đôi của Lu-ca (14: 15-24), không có chi tiết nầy. Vì thế, người ta có thể nghĩ rằng chi tiết nầy đã được Tin Mừng Mát-thêu thêm vào sau biến cố nầy.

Các khách đã được mời nhưng không đến. Mỗi người theo đuổi lợi ích riêng của mình. Họ đã không đáp trả lời mời, từ chối dự phần vào Vương Quốc Mê-si-a, hình ảnh của Giáo Hội. Thành phố bị thiêu hủy, tuy nhiên, tiệc cưới vẫn được tiến hành. Các quan khách từ chối không đến được thay thế. Lời mời gọi được vang lên cho mọi người khắp các ngã đường: “Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai thì mời hết vào tiệc cưới. Gia nhân liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại”. Dụ ngôn nhấn mạnh tính nhưng không của lời mời: toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, được mời gọi tham dự tiệc cưới thế chỗ dân Ít-ra-en bất trung. Sự chọn lựa giữa người tốt và kẻ xấu sẽ xảy ra sau nầy như trong dụ ngôn lúa tốt và cỏ lùng hay trong dụ ngôn mẻ lưới đầy cá.

Trong dụ ngôn sóng đôi của mình, thánh Lu-ca ghi nhận rằng các đầy tớ nhận lệnh ra các ngã đường đến hai lần (Lc 14: 21-24). Trong lần thứ nhất, họ mời những người nghèo hèn, tàn tật, đui mù, què quặt vào dự tiệc cưới; trong lần thứ hai, họ mời tất cả những khách qua đường. Có lẽ thánh Lu-ca nghĩ trước hết đến những “người nghèo của Đức Chúa”, những người mà Đức Giê-su đã ưu ái đặc biệt, những người này đã hoan hỉ tiếp đón Tin Mừng và đã dự phần vào niềm vui Mê-si-a, vì thế, họ không thể nào bị loại ra ngoài. Hạng người thứ hai là lương dân, đây là nét tinh tế của thánh Lu-ca khi đề cập đến hạng người nầy.

2. Tiệc cánh chung (22: 11-14)

Từ tiệc Mê-si-a, dụ ngôn chuyển sang tiệc cánh chung. Vả lại, dụ ngôn ngắn về một khách mời bị loại ra khỏi tiệc cưới có thể tự ban đầu đã là một dụ ngôn độc lập. Có sự khác biệt đáng kể giữa phần trước và phần tiếp theo sau. Trong bàn tiệc Mê-si-a, mọi người đều được mời tham dự, dù tốt hay xấu, công chính hay tội lỗi (đó không phải lời mời gọi của Đức Giê-su được gởi đặc biệt đến những người tội lỗi sao?). Trái lại, trong bàn tiệc cánh chung, nghĩa là trong Nước Trời, người ta chỉ được phép tham dự khi mặc y phục của những người công chính.

Nhà Vua tiến vào bàn tiệc thấy một khách dự tiệc không mặc y phục lễ cưới, liền hỏi người ấy: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?”. Trong Tin Mừng Mát-thêu, lời chất vấn được bắt đầu với “Này bạn” luôn luôn hàm chứa sắc thái khiển trách: “Nầy bạn”, lời của ông chủ vườn nho đáp lại lời phàn nàn của một trong những người thợ đầu tiên; “Nầy bạn”, lời của Đức Giê-su nói với Giu-đa dẫn toán vệ binh đến bắt Ngài.

Làm thế nào có thể trách cứ người khách nầy là không mặc y phục lễ cưới khi mà anh ta được mời bất ngờ từ ngoài đường mà không kịp trở về nhà thay y phục? Tại vài dân tộc Đông Phương, gia chủ đã tiên liệu y phục lễ cưới cho khách mời ở lối vào tiệc cưới. Một tập tục như vậy không được chứng nhận ở Ít-ra-en. Chính vì điểm khó hiểu này, vài nhà chú giải nghĩ rằng dụ ngôn này là một dụ ngôn độc lập, chẳng liên quan gì đến dụ ngôn đi trước; vì thế, những khách dự bàn tiệc này không là những người khách được tập hợp bất ngờ vào dự tiệc cưới như dụ ngôn trước.

Lập luận này thật xác đáng nếu chúng ta đối chiếu đoạn Tin Mừng Mát-thêu này với đoạn Tin Mừng sóng đôi của thánh Lu-ca 14: 16-24, ở đó thánh Lu-ca kể hoạt cảnh thứ nhất mà không nói gì đến hoạt cảnh thứ hai này. Vì thế, dụ ngôn thứ hai này được thánh Mát-thêu thêm vào đây. Ý nghĩa của dụ ngôn thứ hai thì rõ ràng. Bạn không được dự phần vào bàn tiệc Nước Trời, nếu bạn đã không chu toàn những đòi hỏi của sứ điệp Tin Mừng. Để được vào hưởng hạnh phúc Nước Trời, một Ki-tô hữu đáp lại lời mời mà thôi thì chưa đủ, nhưng cần phải có y phục lễ cưới nữa, nghĩa là cả một đời sống theo những đòi hỏi của Tin Mừng, xứng với danh xưng Ki-tô hữu của mình.

Ngoài ra, câu cuối: “Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít” rõ ràng không ăn khớp với dụ ngôn thứ hai, theo đó có một số lượng lớn khách được mời dự tiệc cưới trong khi chỉ một mình người khách không mặc áo cưới bị loại ra bên ngoài. Đúng hơn lời sau cùng nầy có liên quan đến dụ ngôn thứ nhất, theo đó chỉ có ít người dân Ít-ra-en, dân Chúa chọn, được dự phần vào bàn tiệc Mê-si-a, khi so sánh với muôn dân muôn nước hồ hởi tiếp đón Tin Mừng.

Lm. Ignatiô Hồ Thông

MỘT TIN MỪNG CHO MUÔN DÂN

Lm. Trần Thanh Sơn

Đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe là dụ ngôn thứ ba trong loạt ba dụ ngôn mà Đức Giêsu nói với các Thượng Tế và những người đứng đầu trong dân Do Thái tại Giêrusalem. Nếu như ở dụ ngôn hai người con (x. Mt 21, 28-32) tuần 26, Đức Giêsu cho thấy việc làm theo ý Thiên Chúa là điều quan trọng; và dụ ngôn: “Tá điền vườn nho” (x. Mt 21, 33-43), tuần 27 vừa qua là lời cảnh cáo: “Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông và sẽ được ban cho một dân làm ra hoa quả” (Mt 21, 43), thì dụ ngôn “Tiệc cưới” hôm nay, Ngài cho thấy sự ứng nghiệm của lời cảnh báo đó. Những người khách được mời trước đã từ chối, thì bị tru diệt. Đồng thời, cũng từ giây phút này, một viễn tượng mới được mở ra với lệnh truyền của nhà vua: “Các ngươi hãy ra các ngã đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”. Như thế, Tin mừng giờ đây không còn bị giới hạn trong dân tộc Do Thái nữa, nhưng sẽ được trao cho muôn dân, cho tất cả những tâm hồn thiện chí.



1. TỪ MỘT LỜI HỨA :

Một Tin mừng cho muôn dân. Điều này đã được ngôn sứ Isaia báo trước cách đó hơn 600 năm. Lúc bấy giờ, dân Do Thái đang phải lưu đày tại đế quốc Babilon. Đất nước bị mất vào tay dân ngoại, đền thờ bị tàn phá, dân Chúa tưởng chừng như không còn gì để hy vọng. Niềm tin vào Giavê Thiên Chúa bị lung lay. Họ không biết Thiên Chúa sẽ thực hiện lời hứa ban Đấng Messia như thế nào. Nhưng chính giữa cảnh lưu đày đau thương đó, ngôn sứ Isaia đã loan báo một tin vui, đem lại niềm hy vọng lớn lao cho họ: “Trên núi này, Người sẽ cất khăn tang bao trùm muôn dân, và tấm khăn liệm trải trên mọi nước. Người tiêu diệt sự chết đến muôn đời, Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt, và cất bỏ khỏi toàn mặt đất sự tủi hổ của dân Người” (Is 25, 7-8). Không chỉ giải thoát dân Do Thái trở về, đem lại tự do cho họ, nhưng Thiên Chúa còn làm cho họ trở nên một dân lớn, và muôn dân trên khắp thế giới sẽ nhận biết Ngài là Thiên Chúa. Lúc đó, “Chúa các đạo binh sẽ thết đãi tất cả các dân trên núi này một bữa tiệc đầy thịt rượu, thịt thì béo, rượu thì ngon” (Is 25, 6).



Như thế, Giavê Thiên Chúa không còn là Thiên Chúa của một dân tộc Do Thái, nhưng là Chúa của muôn dân; và thực khách trong bữa tiệc của Ngài không chỉ là dân Israel, nhưng là toàn thể các dân tộc. Mọi dân tộc sẽ được hưởng sự chăm sóc, yêu thương của Ngài như cảm nghiệm của thánh vương Đavít trong bài đáp ca: “Chúa chăn dắt tôi, nên tôi không thiếu gì; Người cho tôi nằm trong đồng cỏ xanh tươi. Người đưa tôi nghỉ ngơi nơi bờ suối nước; Chúa dọn bàn tiệc đãi tôi trước mắt quân thù tôi” (Tv 22, 1-2. 5a).



Dù vậy, đây cũng chỉ mới là một lời loan báo, một lời hứa. Năm 587, dân Do Thái đã được hồi hương. Thế nhưng, từ nơi lưu đày trở về họ vẫn tiếp tục bị các đế quốc Ba Tư, rồi Hy Lạp, và La Mã đô hộ. Do đó, dân Israel vẫn tiếp tục chờ mong bữa tiệc thịnh soạn mà ngôn sứ Isaia đã loan báo.



2. GIÁO HỘI, LỜI HỨA ĐƯỢC THỰC HIỆN :

Với sự xuất hiện của Đức Giêsu, lời hứa của ngôn sứ Isaia đã được thực hiện. Chính Ngài là Đấng qui tụ muôn dân để thết đãi họ một bữa tiệc. Điều này được Đức Giêsu diễn tả qua dụ ngôn tiệc cưới trong bài Tin mừng hôm nay. Thực khách của bữa tiệc này, trước hết là dân Do Thái, một dân tộc đã được tuyển chọn. Thế nhưng họ đã từ chối. Tin mừng ghi lại thái độ của họ như sau: “Nước Trời giống như vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử. Vua sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến”. Thậm chí, họ còn “không đếm xỉa gì và bỏ đi”. Dân tộc Do Thái, một dân đã được vinh dự mời đến dự tiệc cưới của một vị hoàng tử, có tên gọi là Giêsu, nhưng họ đã không nhận ra hồng ân này. Họ đang còn bận rộn với những công việc thường ngày của họ: “Người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán”. Họ đã từ chối Người hảo ý của nhà vua. Thậm chí, họ còn “bắt các đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi”. Họ đã phải trả giá đắt cho hành vi vô ơn, bội nghĩa của mình, nhà vua đã “sai binh lính đi tru diệt bọn sát nhân đó”. Đúng là “rượu mừng không uống, lại muốn uống rượu phạt”.



Dân được chọn đã từ chối mà tiệc cưới thì không thể không có thực khách, nhà vua đã nói với các đầy tớ: “Các ngươi hãy ra các ngã đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”. Như thế, thực khách của bữa tiệc này đã không còn bị giới hạn. Tất cả mọi người đều được mời vào để dự bữa tiệc đã được đã được dọn sẵn. Và “phòng cưới chật ních khách dự tiệc”. Một dân mới được thiết lập để thay cho dân cũ. Dân mới này chính là Giáo Hội. Giáo Hội là dân mới được Đức Giêsu thiết lập để thay thế cho dân cũ đã từ chối Ngài. Mọi người đều được mời gọi vào Giáo Hội “bất luận tốt xấu” để tham dự tiệc cưới của Con Chiên tinh tuyền là Đức Kitô (x. Kh 19, 7-9) nơi bàn tiệc Thánh Thể.



Tuy nhiên, để thực sự xứng đáng với bữa tiệc này, mỗi người cần có “y phục lễ cưới”.



3. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THAM DỰ TIỆC CƯỚI :

“Y phục lễ cưới” chính là điều kiện duy nhất cho người tham dự bữa tiệc vui này, bất kể đó là nam hay nữ, giàu hay nghèo, bất kể màu da, ngôn ngữ, sắc tộc hay tuổi tác. Tất cả nếu muốn tham dự bàn tiệc này cần có “y phục lễ cưới”. Khi cho gọi tất cả đủ mọi hạng người vào dự tiệc cưới, nhà vua không đặt ra cho họ một điều kiện nào ngoài “y phục lễ cưới”.



Chiếc áo cưới này phải chăng là một đời sống công chính trong Đức Kitô. Mỗi người được mời gọi vào Giáo Hội nhờ phép Rửa, không đương nhiên là được cứu độ. Vào ngày lãnh nhận phép Rửa, chắc hẳn quý ông bà anh chị em còn nhớ lời căn dặn của thừa tác viên: “Con hãy nhận lấy chiếc áo trắng này và hãy mang lấy và gìn giữ nó tinh tuyền cho đến khi ra trước toà Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”. Như thế, muốn xứng đáng là một thực khách trong bữa tiệc của Thiên Chúa, mỗi người chúng ta phải mặc lấy Đức Kitô, hay nói theo cách nói của thánh Phaolô, chúng ta phải “mặc lấy con người mới” (x. Ep 4, 24; Cl 3, 10). Giữ chiếc áo trắng ngày Rửa Tội cho thật tinh tuyền cho đến mãn đời, quả thật là điều khó, nếu không muốn nói là vượt quá khả năng tự nhiên của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta biết trông cậy vào Thiên Chúa thì lại là chuyện khác, thánh Phaolô xác tín: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi”.



Mỗi lần tham dự Thánh Lễ là mỗi lần, chúng ta được mời đến dự bàn tiệc của Thiên Chúa, bàn tiệc Thánh Thể. Thế nhưng chúng ta đã đáp lại lời mời này của Thiên Chúa như thế nào? Chúng ta có cảm thấy niềm vui và vinh dự khi được đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể không? Hay là chúng ta cũng như những người Do Thái vẫn dửng dưng với lời mời gọi này. Chúng ta nghĩ rằng rước lễ cũng được mà không rước cũng chẳng sao. Số phận của những người từ chối hôm nay là một lời nhắc nhở cho từng người chúng ta. Mặt khác, để có thể rước lễ một cách xứng đáng, mỗi người chúng ta cũng cần có “y phục lễ cưới”, nghĩa là giữ tâm hồn sạch khỏi mọi tội trọng và dọn mình chu đáo.



Lắng nghe lời Chúa hôm nay, ước gì mỗi người chúng ta mau chóng đáp lời mời đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Đồng thời cũng mặc lấy áo cưới là tâm hồn sạch tội. Nhờ đó, chúng ta sẽ hưởng được niềm vui sung mãn trong bữa tiệc của Thiên Chúa. Amen.


Lm. Trần Thanh Sơn

DỰ TIỆC CƯỚI NƯỚC TRỜI

lm. Giuse Đinh Lập Liễm

Bài Tin mừng hôm nay nói về bàn tiệc Nước Trời. Qua dụ ngôn ấy, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta biết : Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài mở rộng cửa để đón tiếp mọi người vào dự bàn tiệc Nước Trời. Lời mời gọi có tính cách rộng rãi, Ngài mời gọi mọi người không trừ ai, dù tốt dù xấu, miễn là phòng tiệc phải đầy người.



Tuy thế, lời mời gọi đó còn chờ sự đáp ứng của từng người, mỗi người có quyền tự do, họ có thể chấp nhận hay từ chối. Trong thực tế, nhiều người đã từ chối lời mời gọi thật tình đó. Nhiều người đã từ chối bằng cách viện ra những lý do không vào đâu như bận đi xem ruộng vườn, bận đi buôn bán hoặc làm bất kỳ một công việc nào khác.



Trước sự từ chối của dân Chúa, Thiên Chúa quay sang dân ngoại, mời họ vào Nước Trời cho thật đông để họ được thưởng thức những cao lương mỹ vị mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho họ. Tuy nhiên, muốn vào dự tiệc Nước Trời cũng phải có điều kiện : phải mặc áo cưới. Phải mặc y phục lễ cưới là phải có một sự hoán cải tâm hồn để xứng đáng là công dân Nước Trời.


I. TÌM HIỂU DỤ NGÔN



1. Phong tục tổ chức tiệc cưới

  1. Việc mời chia thành hai giai đoạn.

    Những công việc diễn tiến trong dụ ngôn này hoàn toàn phù hợp với phong tục bình thường của dân Do thái. Đối với những bữa tiệc cưới, khi thiệp mời được gửi đi thì thời giờ không được xác định rõ, và khi mọi việc đã xong đâu vào đấy thì những người giúp việc mới ra đi mời lần cuối cùng xin quan khách đến dự. Như vậy, vị vua trong câu truyện này đã gửi thiệp mời dân lâu rồi, nhưng đến khi mọi việc sẵn sàng thì lời mời cuối cùng mới gửi đến và đã bị người ta từ chối.

Truyện: Tiệc cưới hoàng tử

Mùa xuân năm 1947, cả thế giới chú ý tới hàng tin lớn trên báo chí cho biết : công chúa Elizabeth của nước Anh sẽ đẹp duyên với hoàng tử Philippe, người Hy lạp. Cuộc tình duyên này quan trọng, bởi vì công chúa Elizabeth sẽ lên ngôi kế vị vua cha vì không những trên vương quốc Anh và Bắc Ái nhĩ lan, mà còn đứng đầu khối thịnh vượng lớn, gồm trên 50 quốc gia lớn nhỏ như Ấn độ, Canada, Úc, Tân tây lan... Ai cũng tò mò theo dõi lễ cưới lịch sử này. Cuộc lễ được tổ chức ngày 20.11.1947 tại tu viện cổ kính Westminter, nơi chôn cất các bậc vương quân và những nhân vật lớn nước Anh. Người ta không những theo dõi những nhân vật chính là cô dâu chú rể mà còn chăm chú điểm danh từng nhân vật lớn trên thế giới. Không ai được mời tới dự mà muốn vắng mặt, từ những vị nguyên thủ quốc gia đến các vị thủ tướng và các nhà chính trị, từ những nhà qúi tộc đến những nhà tỉ phú. Nói tắt, tất cả những nhân vật quan trọng hàng đầu của nước Anh và nhiều nước trên thế giới đều lấy làm vinh dự được mời và được xuất hiện trong lễ cưới long trọng đó (Phạm văn Phượng, Chia sẻ Tin mừng năm A, tr 215).

  1. Khách được mời tham dự

    Theo phong tục của nhiều dân tộc xưa, tiệc cưới hoàng tử chẳng những các đại thần được ưu tiên mời, mà còn tất cả thần dân đều được hưởng lộc của nhà vua. Tiệc cưới hoàng tử Nước Trời chẳng những ưu tiên cho dân tộc Do thái, mà còn cho toàn thể muôn dân, vì toàn thể nhân loại đều là thần dân của Ngài. Như tiên tri Isaia đã loan báo :”Chúa Tể trời đất sẽ thiết tiệc đãi muôn dân”.



2. Ý nghĩa dụ ngôn

  1. Đối với người Do thái

    Đây là lời tố cáo đối với người Do thái : Quan khách đã được mời nhưng đến giờ lại từ chối không đến. Họ tiêu biểu cho người Do thái. Từ xưa họ đã được Thiên Chúa mời gọi làm dân tuyển chọn của Ngài, nhưng khi Con Chúa Trời xuống thế gian, và họ được mời gọi theo Ngài, tin nhận Ngài thì họ lại khinh dể, đã từ chối lời mời đó. Rốt cuộc lời mời của Thiên Chúa đến trực tiếp với những tội nhân và người ngoại bang, là những kẻ không bao giờ có kỳ vọng được mời vào Nước Trời.



    Còn một chi tiết nữa là vua thịnh nộ với kẻ từ chối, lại còn sỉ nhục và giết các đầy tớ của vua, sai quân đi diệt những kẻ không nhận lời mời và đốt thành của chúng. Chi tiết này dường như không ăn nhập với việc mời dự tiệc cưới. Nhưng chúng ta nhớ lại, khi Matthêu viết sách Phúc âm của ông vào giữa năm 80-90 SC, những gì đã xẩy ra trong thời gian giữa lúc Chúa Giêsu sống và lúc viết sách Phúc âm ? Câu trả lời là : kinh thành Giêsrusalem bị quân Rôma phá hủy khoảng năm 70 SC. Giêrusalem thực sự bị tàn phá, không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào, đền thờ bị cướp phá và bị đốt, tại hoạ này đã đến cho những kẻ không nhìn nhận Con Thiên Chúa khi Ngài đến trong thế gian.


  1. Đối với mọi thời đại

    Lời mời gọi trong dụ ngôn này là lời mời gọi của Thiên Chúa đối với mọi người chúng ta. Được mời gọi vào dự tiệc cưới, tiệc cưới Con Thiên Chúa, là một vinh dự lớn lao, lại không phải mất tiền. Khi Kitô hữu được mời là được mời đến để vui vẻ, và chúng ta sẽ mất niềm vui nếu chúng ta không nhận lời mời.



    Nhưng nhiều khi chúng ta lại từ chối lời mời gọi của Chúa vì những lý do chẳng ra cái gì như đi thăm ruộng, đi buôn bán... Người ta dễ bận rộn với điều tạm bợ và quên những điều liên quan tới đời đời. Quá bận tâm với những điều mắt thấy được thì dễ quên với những điều mắt không thấy được. Quá chăm chú nghe những lời mời gọi của thế gian, thì khó nghe được tiếng gọi êm dịu của Thiên Chúa.



    Lời mời gọi của Chúa dành cho ta là lời mời gọi của ân sủng. Những kẻ được qui tụ là những nẻo đường không có quyền đòi hỏi gì nơi nhà vua cả. Họ không bao giờ có thể ngờ rằng mình sẽ được dự tiệc cưới và càng không xứng đáng để dự tiệc đó. Những việc xẩy đến với họ không bởi điều gì khác hơn là lòng quảng đại của nhà vua mở rộng đôi tay đón tiếp họ. Bởi ân sủng, lời mời được ban ra, và bởi ân sủng mà người ta được nhóm lại.



3. Dụ ngôn chiếc áo cưới

Chúng ta có thể coi chiếc áo cưới là phần nối tiếp của dụ ngôn khách mời dự tiệc, hoặc coi như là một dụ ngôn riêng. Tuy coi như dụ ngôn riêng nhưng cũng là câu chuyện nối tiếp và giải rộng ý nghĩa câu truyện trước, trong câu truyện ở đây có một thực khách đến dự tiệc của nhà vua, nhưng không chịu mặc lễ phục.



Thuần phong mỹ tục coi lễ cưới là ngày lễ trọng đại của gia đình, tất nhiên có nghi thức long trọng với những trang phục đẹp đẽ chỉnh tề. Những hạng người bê bối thô lỗ tục tằn, vô lễ, vô kỷ luật đều bị loại bỏ vì nó bôi nhọ nếp sống văn hóa trong sáng và đạo đức.



Nếu ai nhận dụ ngôn chiếc áo cưới gắn liền với dụ ngôn trên thì thắc mắc : ra đường mời vào, ở giữa ngã ba đường cái thì làm gì có áo cưới ? Trả lời cho thắc mắc đó, ta để ý : người đó không chữa tội gì cả, là dấu anh ta có lỗi, không cần biết nguyên do. Theo thói quen, thời xưa khách qua cửa đã có người trao áo cho, không biết người Do thái có thói quen nào ? Có áo mà không mặc là lỗi tại mình vì thế nên không mở miệng chữa tội được câu nào.

Muốn vào dự tiệc cưới thì tối thiểu phải có y phục lễ cưới. Theo thánh Matthêu, muốn vào dự tiệc cưới trong nước Thiên Chúa thì mỗi người phải nhận thức rằng Giáo hội càng ngày càng đông, nhưng Giáo hội không phải là quán cơm bình dân, ai vào cũng được, không có một chút điều kiện tối thiểu. Đành rằng Chúa rất thương kẻ có tội và Giáo hội của Ngài đầy tội nhân hơn là các vị thánh, nhưng dù sao, muốn vào Giáo hội, Chúa cũng đòi hỏi có sự ước muốn trở lại chân thật, một “chiếc áo trắng rửa tội”, một sự ao ước “mặc lấy Chúa Kitô”.



Theo ý kiến của một số giáo phụ, chiếc áo cưới ám chỉ đức ái, tối thiểu là cuộc sống ăn ngay ở lành. Còn theo ý kiến của các nhà chú giải Thánh kinh hiện đại, thì chiếc áo cưới ám chỉ sự hoán cải hay sự trở về, tức là tinh thần sám hối chân thật.



II. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA



1. Dấn thân gia nhập vào Hội thánh

Thiên Chúa mời gọi ta : Ngài muốn có những người tham dự tiệc cưới đó. Ngài có sáng kiến trước. Lời mời gọi đó được chuyển đến ta qua các vị sứ giả của Chúa, nhất là Chúa Kitô. Chúa Kitô đến trên trần gian để mời gọi ta và sửa soạn cho ta có bộ áo cưới, tức là cứu rỗi ta. Việc sửa soạn áo cưới được cụ thể hóa bằng việc mến Chúa yêu người, tức là đời sống đức tin nhờ ơn thánh.



Nhân loại chúng ta đáp lại lời mời gọi qua trung gian là Chúa Kitô và Giáo hội. Chúng ta đến dự tiệc cưới không phải với tính cách là “khách” mà thôi, nhưng còn với tư cách là con cái trong gia đình, nhờ đó sự vui vẻ thân mật càng tăng thêm. Hiện thời bữa tiệc đó đã bắt đầu nhờ Chúa Kitô vì ta đã có ơn thánh và hằng ngày tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể chờ ngày Chúa lại đến.



Tuy chấp nhận lời mời gọi của Chúa đâu phải là sự dấn thân mang tính chất nhất thời. Đó là một tiến trình đòi hỏi phải liên tục dấn thân và thích ứng bởi vì cuộc sống thường nhật rất dễ khiến chúng ta sao lãng và bỏ quên mất sự sống đời đời, bởi vì thức ăn tầm thường của cuộc đời này dễ nhét đầy bụng chúng ta và làm cho chúng ta quên đi bữa tiệc vĩnh cửu.



Chấp nhận lời mời của Chúa không chỉ là vấn đề gật đầu một lần rồi sau đó quên tuốt đi, và việc này giống như câu nói “Tôi đồng ý” trong hôn nhân. Câu “tôi đồng ý” này đâu phải là điểm kết cho một tiến trình mà chính là điểm khởi đầu. Nhận lời Chúa cũng giống như tốt nghiệp đại học bởi vì sự tốt nghiệp không phải là điểm kết thúc cho công cuộc học vấn mà chỉ là bệ phóng cho sự học hỏi tiến xa hơn mà thôi.


2. Dự tiệc Thánh Thể hằng ngày

Qua các bài đọc Chúa nhật hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta tham dự bữa tiệc của Nước Trời. Trong Thánh kinh, nhiều bữa được nhắc đến : như bữa ăn tổ phụ Abraham khoản đãi ba người khách lạ dưới lều vải (St 18,1-8), như bữa tiệc người cha già mừng người con đi hoang trở về (Lc 15,22-32). Chúa Giêsu đã đi dự đám cưới ở làng Cana (Ga 2,1-10), Ngài cũng dọn bữa ăn cho các môn đệ sau một đêm lao lực (Ga 21,1-14), cho dân chúng được ăn no nê tự 5 chiếc bánh và 2 con cá. Tất cả để báo hiệu bữa tiệc Thánh Thể.



Thì, hôm nay, tiên tri Isaia ví Nước Trời như một bữa tiệc mà Chúa khoản đãi mọi dân tộc, nhất là những ai đói khát tự do, công chính. Chúng ta cũng hãy sốt sắng tham dự vào bữa tiệc thánh là Lời Chúa và Thánh Thể, hãy “hân hoan vì Chúa khoản đãi và lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt”.



3. Y phục xứng kỳ đức

Tục ngữ Pháp có câu :”La soutane ne fait pas un moine” : chiếc áo dòng không làm nên ông thầy tu. Câu tục ngữ ấy có ý nói rằng muốn trở thành một tu sĩ thực thụ thì cần phải có đời sống xứng đáng với bậc tu của mình. Người ta quí trọng tu sĩ là do đời sống thánh thiện của họ chứ không phải do cái áo của họ. Cho nên quần áo thì phải đi đôi với đức độ, nghĩa là phải có cả bề trong lẫn bề ngoài.



Cung cách một người thể hiện tinh thần của người đó. Khi đến thăm một người bạn, ta sẽ không mặc bộ đồ làm vườn mà đến. Chúng ta biết rõ rằng quần áo không thành vấn đề đối với bạn chúng ta, cũng không phải chúng ta muốn trình diễn, nhưng vì vấn đề phải tôn trọng nên chúng ta đến nhà bạn một cách gọn gàng và chỉnh tề. Chuẩn bị trước như thế là chúng ta bầy tỏ cảm tình và sự tôn trọng của mình đối với bạn.



Đối với nhà của Chúa cũng vậy, ví dụ này không quan hệ gì đến việc ăn mặc của chúng ta khi đến nhà thờ để trình diễn, nhưng cần có trang phục cho linh hồn, tấm lòng và tâm trí của chúng ta. Đó là sự khao khát, trông đợi, lòng khiêm nhường và thống hối, đức tin và sự tôn kính. Đây là bộ áo lễ nếu không mặc vào thì sẽ không dám đến gần Chúa. Điều thường xẩy ra là chúng ta hay đến nhà Chúa mà không sửa soạn chút nào. Nếu mỗi người chúng ta đều sửa soạn trước khi đến nhà thờ bằng lời cầu nguyện ngắn, suy nghĩ và tự kiểm điểm bản thân thì sự thờ phượng mới đúng là sự thờ phượng thật. Một sự thờ phượng đem lại nhiều tốt lành cho tâm hồn mỗi người, cho Hội thánh và cho thế giới.



Chúng ta đã nhận lời mời của Chúa mà vào dự tiệc Nước Trời. Đây là một vinh dự lớn lao Chúa dành cho ta. Nhưng vinh dự ấy đòi chúng ta phải vươn lên bằng một đời sống lành thánh, một đời sống kết hợp với Chúa, để có thể nói như thánh Phaolô :”Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Trách nhiệm của chúng ta là phải giữ mình không để cho vật dục hay của cải trần gian lôi kéo xuống giống như con vật, ngược lại phải vươn lên làm con cái ánh sáng để xứng đáng là công dân Nước Trời.



Truyện: Đại bàng con

Chuyện kể rằng: Có một con gà rừng đang ấp trứng, nhưng lẫn trong ổ của nó một trứng đại bàng. Đúng ngày giờ, trứng nở thành con. Đại bàng con nô đùa vui vẻ bên đàn gà rừng như anh chị em ruột.

Một ngày kia, đang bưới móc kiếm ăn cùng đàn gà rừng, đại bàng con bỗng thấy một con đại bàng lớn bay lượn trên không trung thật oai phong và đẹp mắt. Cậu liền hỏi gà mẹ :

  • Mẹ ơi, sao mình không bay như chim kia trên trời ?
  • Chúng ta đâu phải đại bàng mà bay được !
  • Thế chúng ta là ai ?
  • Chúng ta là gà rừng !

Bỗng một ngày, đang khi bươi chải kiếm ăn trên đống rác cậu lại thấy đại bàng mẹ bay lượn trên đầu gọi :

  • Bay lên con ơi, bay lên đại bàng con của mẹ. Thế giới của con là trời cao đất rộng, chứ không phải là đống rác này ! Bay lên đi con.

Cậu cố bay lên, nhưng lại rơi xuống. Trong khi các chú gà rừng cười cợt chế nhạo :

  • Chúng ta là gà rừng, làm sao mà bay được.

Cậu suy nghĩ, nếu ta là gà rừng sao đại bàng kia cứ bảo ta là đại bàng con. Và khi bay lên ta thấy cũng đâu có khó khăn gì, có lẽ chưa quen thôi. Nào hãy thử lần nữa xem.



Thế là cậu đại bàng đủ lông đủ cánh bay lên, và bay lên mãi. Cậu bay theo mẹ về một chân trời mới. Lần đầu tiên trong đời, cậu được nhìn thế giới từ trên cao, lòng cậu mênh mang, hạnh phúc ngập tràn (Thiên Phúc, Như Thầy đã yêu, năm A, tr 145-146).



Kitô hữu là người được Thiên Chúa tuyển chọn, làm con cái của Ngài. Họ là những con đại bàng, luôn ngước mắt nhìn cao, mong bay lên cùng Thiên Chúa là Cha đầy yêu thương. Họ luôn sống trong tâm tình của thánh Augustinô :”Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa. Tâm hồn con luôn thao thức cho tới khi nào được nghỉ yên trong Chúa”.



Đừng bao giờ nghĩ mình là giống gà rừng, để cúi đầu bươi chải, an phận với những hạnh phúc nhỏ nhoi tầm thường. Tuy được những con sâu bọ là miếng mồi ngon đấy, nhưng chúng cũng nằm trên đống rác, đống phân. Chúng ta hãy vươn mình lên, vươn lên mãi cho tới trời cao, nơi quê hương thật của chúng ta ở đó.



Chúng ta hãy thực hiện lời thánh Phaolô đã dạy :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người”(Pl 3,20-21).


lm. Giuse Đinh Lập Liễm

MẶC LẤY CHÚA KITÔ

Lm. Ignatiô Trần Ngà

Trong một trăm người đang sống trên lục địa Á châu, chỉ có hai người gia nhập Hội Thánh Chúa. Hạnh phúc cho ai được liệt vào số ít những người may mắn nầy. Trong số một trăm người đang sống trên giải đất Việt Nam, chỉ có bảy người có diễm phúc tham dự tiệc cưới vua trời, tức được gia nhập vào Hội Thánh Chúa. Chúng ta cũng được may mắn thuộc về thiểu số nầy. Đây quả là một hồng phúc lớn lao cho chúng ta.



Để xứng hợp với tư cách của vị khách được Thiên Chúa ưu ái mời vào dự tiệc Nước Trời, Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải vứt bỏ tấm áo dơ bẩn đang mặc để khoác vào mình y phục xứng đáng.



Khi mặc đồ tang chế mà đi dự tiệc cưới, người ta nghĩ là bạn bị khùng nặng và xua đuổi bạn tức khắc. Khi bước vào bệ kiến Đức Vua mà trang phục lôi thôi lếch thếch, nói năng hồ đồ lỗ mãng thì không khỏi bị kết tội khi quân. Khi bước vào đời quân ngũ mà ăn mặc rách rưới như kẻ bần cùng, thiếu tác phong quân nhân, thì bạn sẽ bị tống cổ ra ngay vì làm ô danh quân đội.



Hội Thánh của Chúa luôn mở rộng cửa để tiếp nhận tất cả mọi người từ khắp tứ phương thiên hạ bất kể sang hèn tốt xấu. Nhưng một khi đã gia nhập đại gia đình nầy, các thành viên phải cởi bỏ tấm áo xấu xa để khoác lên người trang phục xứng đáng, nghĩa là phải có những phẩm chất phù hợp với Tin Mừng.


Một con sâu tuy nhỏ nhưng cũng đủ để làm rầu nồi canh. Vài ba giọt mực tuy không nhiều nhưng cũng đủ để làm hư tấm vải trắng. Chỉ một ít tín hữu sống trái nghịch với Tin Mừng và giáo huấn Hội Thánh, cũng đủ để làm cho khuôn mặt của Giáo Hội trở nên khó thương trước mặt người khác.



Vì thế nên một khi đã gia nhập Hội Thánh mà cách ăn thói ở không phù hợp thì đương sự sẽ bị Thiên Chúa lên án nặng nề. Đoạn Tin Mừng sau đây nhắc nhở chúng ta điều đó.



"Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy: Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?" Người ấy câm miệng không nói được gì. Nhà vua liền bảo những người phục dịch: "Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng."

Là người được Thiên Chúa mời gọi gia nhập vương quốc Thiên Chúa, chúng ta phải xem lại cách ăn thói ở của chúng ta sao cho thích đáng.



Xưa kia, Augustinô ban đầu theo đuổi phù du ảo ảnh của thế gian, nhưng đến năm 33 tuổi, lần đầu tiên con người lầm lạc nầy tiếp cận với kinh thánh và đoạn văn đầu tiên đập vào mắt Anh là lời dạy của thánh Phaolô trong thư Rô-ma như sau: "Như giữa ban ngày, anh em hãy sống đoan trang tiết độ, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đảng, không kình địch ghen tương; nhưng hãy mặc lấy Đức Giê-su Ki-tô và đừng lo tìm thoả mãn những đam mê xác thịt." (Rm 13, 13-14)



Nhờ ơn Thánh Linh tác động, Augustinô bừng tỉnh trước Lời Chúa. Anh cảm thấy những câu Lời Chúa nầy như nói riêng với chính mình. Thế là từ đây, Augustinô từ bỏ quãng đời tội lỗi, từ bỏ những đam mê xác thịt, rũ bỏ bộ áo bẩn thỉu hôi hám để mặc áo mới, mặc lấy Đức Giê-su Ki-tô. Anh được lãnh bí tích rửa tội vào năm 33 tuổi, hiến mình cho Chúa và ba năm sau, trở thành một linh mục thánh thiện, về sau được cất nhắc lên chức giám mục và trở thành vị thánh chói ngời đồng thời cũng là thầy dạy trong Giáo Hội với tước hiệu tiến sĩ Hội Thánh.



Trong ngày lãnh bí tích rửa tội, ngày chúng ta chính thức gia nhập Hội Thánh, linh mục chủ sự thay mặt Hội Thánh trao cho chúng ta tấm áo trắng với lời kêu gọi: "Con đã trở nên tạo vật mới và đã mặc lấy Chúa Ki-tô. Vậy con hãy nhận chiếc áo trắng nầy, hãy mang lấy và giữ nó tinh tuyền cho đến khi ra trước toà Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, để con được sống muôn đời".

Xin cùng khẩn cầu Thiên Chúa giúp chúng ta đừng luyến tiếc áo cũ đã hoen ố vì vô vàn thói xấu tật hư. Hãy dứt khoát cởi bỏ nó để quyết tâm mặc lấy áo mới, mặc lấy Đức Ki-tô, mang những tâm tình cao đẹp như Chúa Giê-su, cư xử ôn hoà nhân ái như Chúa Giê-su, biết thứ tha, yêu thương và phục vụ như Chúa Giê-su… Nhờ đó, chúng ta sẽ được cùng với Chúa dự tiệc vui muôn đời.

Lm. Ignatiô Trần Ngà

DỰ TIỆC

Lm. Vũ Đình Tường

Hầu như ai trong chúng ta cũng có lần tham dự tiệc. Hoặc là do chính gia đình mình tổ chức hoặc là do người thân quen tổ chức mời tham dự. Tiệc có thịt và rượu là món chính, ngoài ra còn những món phụ khác làm cho bữa tiệc thêm thịnh soạn. Cũng có thể là món phòng trường hợp có thực khách thích rau hơn thịt, cá. Có bữa tiệc không có thịt cũng chẳng cá được gọi một tên đặc biệt là tiệc chay. Dù tiệc mặn hay chay vấn đề tổ chức, thiệp mời cũng đòi hỏi nhiều công sức. Nếu không cẩn thận sẽ quên việc này, sót việc nọ làm cho việc tổ chức thành luộm thuộm, vá víu và hậu quả là niềm vui giảm, lo lắng tăng và bất bình, cãi vã, đổ thừa là điều ắt phải có.



Tiệc mừng thường đi sau tin vui để đón tin vui. Tin vui dù lớn hay nhỏ đều quan trọng, cần thiết trong cuộc sống. Tin vui được coi là một phần trong cuộc sống, là ước vọng làm cho cuộc sống thêm hạnh phúc, ý vị. Tổ chức tiệc to nhỏ lệ thuộc vào niềm vui lớn nhỏ và hoàn cảnh tài chánh gia đình. Tùy theo cách mời mà thực khách đoán biết tầm mức quan trọng khi được mời. Mời qua điện thoại, mời lúc gặp ngoài đầu đường, cuối thôn, gặp nhau mời tới cho thêm vui. Mời có danh thiếp là tiệc mời quan trọng, trịnh trọng nhất. Theo phong cách đó người được mời dự tiệc nếu không là thân nhân thì cũng là người quen của gia đình. Vì thế vui mừng chấp thuận hay từ chối lời mời đều có ý nghĩa, nguyên nhân riêng của nó. Có nhiều lí do khách từ chối tham dự tiệc như cách trở ngàn trùng, giấy phép xuất nhập cảnh, sức khoẻ hay ngay cả hoàn cảnh tài chánh gia đình không cho phép và cũng có khi vì công ăn việc làm.


Dụ ngôn nhà vua tổ chức tiệc cưới cho hoàng tử (Mat 22,1-14) bị các thực khách từ chối tham dự mang một ý nghĩa đặc biệt. Thứ nhất không phải một người mà nhiều người cùng từ chối. Thứ hai lí do đưa ra rất chung chung, bận công ăn việc làm. Thử hỏi mấy ai không bận công ăn việc làm. Thứ ba thiệp gởi mời trước ngày khai tiệc để khách có giờ chuẩn bị. Thứ tư đây là tiệc cưới hoàng gia, đúng ra phải hãnh diện, vui mừng mới phải. Thực khách lại chối từ không tham dự. Tệ hơn nữa còn xỉ vả, giết chết gia nhân hoàng tộc. Quả là hành động khiêu khích. Giết người vô tội trở thành kẻ có tội. Lí do khách vin vào từ chối là hành động phản kháng nhà vua. Hoàng tử chỉ là nạn nhân của phản kháng và gia nhân bị giết là vật tế thần của khiêu khích. Đối với thứ dân từ chối tham dự tiệc cưới của gia đình là hình thức phản kháng cho biết chưa thân thiết mấy, tình bạn còn lỏng lẻo nên coi nhẹ lời mời, không quan tâm, liệt vào ưu tiên hàng đầu.



Khách dự tiệc cũng cần chuẩn bị chu đáo vừa cho mình vừa khỏi làm mất mặt chủ tiệc. Một người tham dự tiệc cưới mà mà mặc áo công nhân đi dự sẽ lạc lõng. Dù không ai nói gì, mọi người nhìn vào cách ăn mặc lập dị đó cũng đủ cho chủ tiệc buồn. Như thế tham dự tiệc vui đã không chia vui, mang lại niềm vui; trái lại mang đến nỗi buồn, nỗi lo cho chủ tiệc.


Nước trời thường được ví như ngày hội vui, tiệc cưới. Tiệc thiên quốc do Chúa các đạo binh thiết đãi. Là ngày vui mừng hoan hỉ vì không còn tiếng rên xiết, không còn than van. Vui vì sự chết bị tiêu diệt. Ngày người ta không chôn xác người mà chôn chiếc khăn tang, vùi sâu vào lòng đất vì không bao giờ cần đến nó nữa. Nước trời được ví như tiệc cưới. Khách mời nằm trong danh sách chọn lựa. Không phải mời cách trống không, chung chung mà sai gia nhân đi mời. Tới ngày chủ còn sai gia nhân nhóm đi nhắc nhở khách, nhóm nhắc lại lời mời. Khách được mời không đáp nghĩa. Họ cũng không chuẩn bị để dự tiệc và cũng chẳng sẵn sàng. Trái lại còn chê trách, phản kháng lời mời gọi.



Nghĩ người rồi nghĩ đến ta. Tiệc Thánh Thể chính là hình ảnh tiệc cưới nước trời. Mỗi Kitô hữu hãy thành tâm nhìn lại thái độ, hình thức, phong cách chúng ta chuẩn bị tâm hồn, trong ngoài khi tham dự thánh lễ. Tham dự với tâm hồn sốt sắng, thành tâm, yêu mến. Trái lại tham dự có tính cách hời hợt, làm cho có lệ, cho xong tránh tội. Đến trễ về sớm, đứng ngoài sân ngó vào, vừa nói chuyện vừa tham dự thánh lễ. Tất cả những tâm tình thái độ trên cách nào đó bộc lộ nội tâm và tâm tình tham dự tiệc cưới nước trời. Coi thường bí tích Thánh Thể có khác chi nhóm thực khách được nhà vua mời tham dự tiệc cưới, họ đã không đi còn viện lí do bài bác, phê bình, chê trách.



Chúng ta hãy xin ơn biết yêu mến, quí trọng Bí Tích Thánh Thể.


Lm. Vũ Đình Tường

TIỆC CƯỚI, ÁO CƯỚI

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

Đọc xuyên suốt Tin Mừng Chúa Giêsu, chúng ta hiểu được thế nào là Nước Trời mà Ngài luôn công bố. Chúa Giêsu đã dùng nhiều dụ ngôn để nói về Nước Trời. Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu ví : “ Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình “ ( Mt 22, 2 ). Tin Mừng cho thấy ý nghĩa sâu xa của dụ ngôn.



Tiệc cưới trong đoan Tin Mừng Matthêu 22, 1-14 có một cái gì thật khác lạ, có một cái gì đó lạ đời bởi vì Ông chủ tức Vị Vua mở tiệc cưới cho hoàng tử nhưng các khách được mời đều kiếm lý do để từ chối, người lý do này kẻ lý do khác, thậm chí họ còn sỉ nhục các đầy tớ vua sai đi mời và giết đi. Rồi sau cùng, vua sai đầy tớ đi mời tất cả mọi người bất kể tốt xấu vào dự tiệc cưới vua đã dọn sẵn. Vua đi vào quan sát và thấy một thực khách vào dự lễ cưới nhưng lại không mặc áo cưới. Vua ra lệnh cho gia nhân :” Trói chân tay nó lại quăng nó ra chốn tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng ! Vì kẻ được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít “ (Mt 22,14 ).



Tại sao những khách được mời tới dự tiệc trong dụ ngôn lại từ chối lời mời đến dự tiệc cưới, lời mời của một vị vua ? Dụ ngôn muốn ám chỉ đến Kinh sư, Pharisêu và những người chống đối Chúa Giêsu, những người đã bất mãn với thái độ thân tình của Chúa Giêsu đối với những người thu thuế và những người tội lỗi. Thực tình, họ đang chế diễu Chúa Giêsu, không muốn chấp nhận Ngài là Đấng Cứu Thế. Những hạng người này đang âm mưu giết Chúa và khi đứng dưới chân Thánh Giá, họ cười nhạo Ngài.

Chúa Giêsu đã dùng bữa ăn để nói lên những giá trị cao quí nhất trong đời sống con người. Bữa ăn là nơi gặp gỡ, hiệp thông, trao ban, chia sẻ, vui mừng, hân hoan. Vì ý nghĩa cao quí ấy, Chúa đã dùng bữa ăn, tiệc cưới để nói lên những thực tại Nước Trời. Chiếc áo cưới là tâm tình gặp gỡ, chia sẻ, trao ban, vui mừng, phấn khởi con người phải mặc lấy để thuộc về Nước Trời.



Chiếc áo cưới cũng có nghĩa là chiếc áo trắng mỗi Kitô hữu đều mặc ngày lãnh nhận Bí tích rửa tội. Chiếc áo trắng là tâm hồn trong trắng, đơn sơ, thanh khiết của những môn đệ Chúa đã được thanh tẩy bằng máu Chúa Kitô và được thanh luyện bằng Lời Chúa. Chiếc áo trắng là tâm hồn thánh thiện, đạo đức khi người Kitô hữu lãnh nhận Mình Máu Chúa Kitô.



Cuộc đời người môn đệ Chúa không bao giờ được đóng khung trong cái nhãn hiệu mình là người Công giáo mà lại quên đi những thực tại trần gian này rồi sẽ qua mau, cuối cùng chỉ còn lại sự sống vĩnh cửu và Nước Trời mà Kitô hữu luôn khát khao tìm kiếm. Chúa phán “…Nếu người ta được cả thế gian mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ?” ( Mt 16, 26 ).



Có những người sau hết sẽ lên trước nhất và những người trước hết sẽ nên sau hết. Điều này, quả thực rất đúng với người Do Thái vì họ được Thiên Chúa tuyển chọn nhưng họ đã chối từ Chúa, không tin nhận Chúa là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Người Kitô hữu là người đã mặc chiếc áo trắng ngày lãnh nhận Bí tích rửa tội, họ mặc lấy Đức Kitô, mặc lấy con người mới, nghĩa là họ tin tưởng, tín thác nơi Chúa và tin tưởng ơn cứu chuộc do Chúa mang đến cho họ.

Người môn đệ Chúa sẽ mất Nước Trời, nếu họ chỉ nói “ Lạy Chúa ! Lạy Chúa “, nhưng không mặc lấy Đức Kitô và không lắng nghe và thực thi Lời Chúa trong đời sống của mình.

    Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội.

    Nào có ai đứng vững được chăng ?

    Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ,

    Lạy Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en (Tv 129, 3-4 ).



Lạy Thiên Chúa toàn năng, ước gì ân sủng Chúa vừa mở đường cho chúng con đi, vừa đồng hành với chúng con luôn mãi, để chúng con sốt sắng thực hành những điều Chúa truyền dạy (Lời nguyện nhập lễ, Chúa nhạt XXVIII thường niên, năm A).



GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

  1. Tại sao Chúa Giêsu lại hay dùng bữa ăn để nói về Nước Trời?


  1. Áo cưới ám chỉ gì trong dụ ngôn này?


  1. Người không mặc áo cưới là người thế nào?


  1. Vua trong dụ ngôn này ám chỉ ai?


  1. Những người trước muốn nói đến những người nào?


Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

TIỆC CƯỚI VÀ Y PHỤC TIỆC CƯỚI

Lm. Anmai, CSsR

Bài đọc thứ nhất trích sách ngôn sứ Isaia chúng ta vừa nghe đấy khá quen thuộc với Kitô Hữu chúng ta. Thường trong các thánh lễ an táng, lời ngôn sứ này được công bố để nói lên niềm tin, niềm an ủi, niềm cậy trông mà Thiên Chúa hứa ban cho con người, đặc biệt khi gia đình rơi vào cảnh chia ly, mất mát người thân yêu trong gia đình.



Niềm an ủi đấy được ngôn sứ Isaia công bố rõ rệt : “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc : tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế”. Không chỉ được đãi tiệc và rượu cách thịnh soạn mà còn : “Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người, và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy. “



Và ngôn sứ Isaia lại nói tiếp với chúng ta : “Ngày ấy, người ta sẽ nói: "Ðây là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta từng trông đợi Người, và đã được Người thương cứu độ. Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông. Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ."



Lời của ngôn sứ Isaia vang vọng cách đây hơn hai ngàn năm, lời hứa của Đức Chúa qua môi miệng ngôn sứ Isaia vẫn còn tồn tại và Đức Chúa vẫn đãi tiệc cho dân của Chúa mỗi ngày trên bàn tiệc Thánh, trên cuộc lữ hành trần thế. Hình ảnh bữa tiệc thịnh soạn mà Isaia loan báo đó được hiện tại hoá mỗi ngày nơi Bàn Tiệc Thánh Thể. Bàn Tiệc Thánh Thể mà Chúa mời gọi mỗi người đến tham dự như là hình ảnh Bàn Tiệc Nước Trời mà Chúa nói trong trang Tin Mừng theo Thánh Matthêu hôm nay.



Trang Tin Mừng kể một lễ cưới long trọng cuûa một ông vua mở tiệc cưới cho hoàng tử. Câu chuyện tiệc cưới này có cái gì khác thường, từ thực khách cho đến những sự tham dự, và nhất là cách xử sự của chủ tiệc, cho chúng ta thấy có điều gì không bình thường, và đó chính là điều Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta. Trong thực tế, có lẽ chẳng có tiệc cưới nào diễn ra như thế. Đúng, đây không phải là một tiệc cưới bình thường, mà là tiệc cưới Nước Trời : đức vua mở tiệc cưới là Thiên Chúa. Hoàng tử của nhà vua là Chúa Giêsu. Các đầy tớ được sai đi mời khách là các ngôn sứ. Khách được mời lần đầu là dân Do Thái. Họ đã từ khước lời mời của Thiên Chúa và giết hại các ngôn sứ, thậm chí họ còn giết luôn cả hoàng tử Giêsu. Những người được mời kế tiếp là dân chúng ở khắp hang cùng ngõ hẻm, tức là mọi người, bất kỳ ở đâu, cũng được mời gọi vào nước Chúa.



Câu chuyện của Chúa Giêsu tưởng chừng như xa rời thực tế nhưng thật sự quá hay, quá thiết thực với mỗi Kitô Hữu.



Thử nhìn lại cuộc đời mỗi người, đành biết rằng cần phải kiếm miếng cơm manh áo để đắp đổi đời sống qua ngày nhưng xin hỏi rằng miếng cơm manh áo đấy có phải là tất cả cùng đích của cuộc đời, của con người không ? Một thân xác xem ra “nặng ký”: đẹp về ngọai hình, cân đối về thể chất, vạm vỡ về sức lực hay tròn trịa về ký lô đi nữa mà chẳng có một chút gì để cho Thiên Chúa hiện diện, chẳng có một chút gì dành cho đời sống tâm linh thì thử hỏi thân xác đó có thể làm được gì ? Đẹp, to, béo, tròn nhưng chỉ cần một cơn gió thoảng qua thôi thì cái thân xác to béo đấy cũng chỉ nằm gọn trong chiếc quan tài 4 miếng dài và 2 miếng vuông thôi.



Phải nói thẳng với nhau một thực trạng đau lòng đó là ngày hôm nay, con người ta cứ mãi miết để lo cho thân xác mình mà lại đánh mất đi cái lương thực tâm linh, lương thực nuôi hồn người ta đó chính là Bàn Tiệc Thánh Thể.



Chúa Giêsu đã hơn một lần nhắc nhở các môn đệ cũng như nhắc nhở mỗi người chúng ta :” người ta sống không nguyên bởi cơm bánh nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.” Ngày hôm nay, chạy theo trào lưu của xã hội, con người đã đánh mất cái cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời. Họ đánh mất Thiên Chúa để rồi họ chẳng cần tìm đến Thiên Chúa nữa, họ cứ tưởng rằng : họ viện cớ này, viện cớ kia cho công việc làm ăn riêng tư của họ để họ khước từ Bàn Tiệc của Chúa thì họ thanh thản và bình an.



Họ cứ cắm cúi và thậm chí hao mòn sức khoẻ để đầu tư vào những kho tàng mà sẽ bị mối mọt đục khoét, họ quên đi kho tàng của họ là ở trên trời, nơi đó trộm cướp không đào ngạch và mối mọt không đục khoét được. Nhiều người ngày hôm nay đã vịn cớ vào công ăn việc làm, vào miếng cơm manh áo để không còn mặn mà với Bàn Tiệc Lời Chúa, Bàn Tiệc Thánh Thể nữa.



Con người ngày nay không chỉ khước từ và viện cớ là bận rộn với công việc để không đến được với Bàn Tiệc Thánh, mà như Chúa nói hôm nay trong Tin Mừng là họ có thể giết luôn cả người con yêu dấu của Đức Vua. Chính cái lối sống nhiều khi là phản chứng Tin Mừng, phản bội lòng tin, lòng cậy, lòng mến mà Đức Vua mời gọi đã nói lên việc họ giết Hòang Tử. Hoàng Tử được Đức Vua sai đến loan báo một lòng tin, một lòng cậy, một lòng mến, nhưng nhiều người đã không tha thiết gì với lời loan báo ấy, bằng cách đẩy ra khỏi mình lòng tin, cậy,mến và như thế là họ đã giết hoàng tử như nhà vua tiên báo.



Cũng chẳng cần đợi đến ngày chung cuộc, chủ tiệc sẽ mời họ ra không cho dự bàn tiệc Thiên Quốc nữa. Nhưng chính ngày hôm nay, bất cứ giây phút nào trong cuộc đời, Chủ Tiệc cũng có thể mời họ về và khi này họ phải về tay không và họ mất cả chì lẫn chài. Kho tàng dưới đất mà bấy lâu nay đổ mồ hôi, sôi con mắt tìm kiếm cũng đành phải để lại cho người khác hưởng dùng.Còn họ không thể bước vào Bàn Tiệc Thiên Quốc được vì ngày mỗi ngày trong đời tạm này họ có thiết tha gì với Thiên Chúa đâu ?



Chúng ta để ý một chút, chi tiết này cực kỳ quan trọng đó là đang bữa tiệc diễn ra, đức vua phát hiện có một anh không mặc y phục lễ cưới nên đã bị vua sai đầy tớ đuổi anh ra ngoài không cho anh dự tiệc cưới nữa. Tôi trộm nghĩ rằng, anh ta là người cũng đon đả đi vào dự tiệc khi được mời nhưng anh ta không chuẩn bị một y phục của lễ cưới. Chúa Giêsu, trong trang Tin Mừng này không hề mô tả y phục của lễ cưới Nước Trời, lễ cưới của Hoàng Tử là gì nhưng ta có thể hiểu ý Chúa Giêsu rằng : anh ta đã không chuẩn bị cho mình tư cách để đi dự tiệc. Chúa hoàn toàn không đặt vấn đề gì về sính lễ, về qùa cáp như người đời thường suy tính. Chúa chỉ gợi lên là không mặc y phục lễ cưới ! Y phục ấy phải chăng là thái độ, tâm tình phải có khi đi dự tiệc cưới Con Chiên. Thái độ, tâm tình đó phải chăng là lòng mến, là tình yêu, là lòng bác ái đối với Vua và Hoàng tử. Chắc có lẽ anh chàng này đi dự tiệc cưới của Hoàng Tử nhưng còn khoác trong mình bộ áo của hận thù, ghen ghét, kiêu căng nên bị Vua đuổi ra chăng ?



Tiệc cưới của Hoàng tử này ta nên nhớ là mời tất cả mọi người khắp hang cùng ngõ hẻm, không phân biệt giàu nghèo. Chủ tiệc sai đầy tớ đi mời tất cả những người phải nói là đầu đường xó chợ vào dự tiệc thì chắc chắn rằng chiếc áo mà chủ tiệc nói không phù hợp với tiệc cưới đây không phải là chiếc áo bằng vải, bằng vật chất mà thực khách khi dự tiệc phải mang. Cái áo cưới ở đây được nhà vua nhắc đến chính xác là chiếc áo tâm hồn, là tấm lòng của thực khách mà chỉ duy nhất Nhà Vua - Thiên Chúa quyền năng - nhận ra mà thôi.



Rồi đây, ngày tận thế cũng sẽ đến và như lời Chúa đã hứa : bất luận ai đi nữa, giàu hay nghèo cũng được mời để vào dự tiệc cưới Hoàng tử. Chuyện quan trọng hôm nay Chúa nói rồi, Chúa nói cho mỗi người chúng ta là chúng ta phải chuẩn bị y phục như thế nào để khi vào dự tiệc cưới chúng ta sẽ không bị chủ tiệc đuổi ra ngoài. Y phục mà Chúa muốn, y phục mà Chúa cần mỗi người có không phải được dệt bằng lụa là gấm vóc, không phải được mua từ cửa hiệu Việt Tiến, may Nhà Bè hay thun Cá Sấu đắt tiền nhưng y phục ấy chính là lòng khiêm hạ, lòng tin, lòng cậy, lòng mến Chúa và nhất là lòng mến đối với anh chị em đồng loại là những người đang sống chung với chúng ta.



Chúng ta đang sống trong cuộc lữ hành trần gian, chúng ta đừng quên rằng quê hương đích thực của chúng ta ở quê Trời. Chúng ta cũng đừng quên rằng tiệc cưới quan trọng nhất, cùng đích nhất của chúng ta chính là tiệc trên Trời. Những tiệc cưới trần gian này ta đi dự sao cũng được, thậm chí ta không đi dự cũng được nhưng chúng ta đừng bỏ lỡ cơ hội như nhiều người đã khước từ trong trang Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe Thánh Matthêu thuật lại.



Dâng Thánh lễ hôm nay, chúng ta tạ ơn Chúa vì Chúa đã cho chúng ta được tận hưởng trước tiệc cưới trên quê trời. Muốn chung vui với chủ tiệc lòng chúng ta phải thanh sạch, chúng ta phải dẹp bỏ mọi oán hờn ghen ghét để dự bàn tiệc Thánh Thể. Cũng thế, muốn tham dự bàn Tiệc Nước Trời, Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy trang bị cho lòng chúng ta những bộ y phục xứng đáng với y phục mà Chúa mong muốn.



Nguyện xin Chúa Giêsu là Chúa, là Vua của chúng ta đến giúp mỗi người chúng ta biết chuẩn bị y phục theo lòng Chúa mong muốn để ngày sau, chúng ta được cùng vào hưởng tiệc cưới Nhà Vua dọn sẵn trên Nước Trời.


Lm. Anmai, CSsR

Y PHỤC XỨNG KỲ ĐỨC

lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Tin mừng hôm nay là sự nối kết của hai dụ ngôn "hai người con" và "các tá điền sát nhân" thành một đề tài giáo huấn về tính phổ quát của ơn cứu độ, con người cần phải thống hối, ăn năn, hoán cải, phục thiện, phải cố gắng không những vào số những người được gọi, mà còn phải vào số những người được chọn nữa, bởi lẽ gọi thì nhiều mà chọn thì ít.



1. Tính phổ quát của ơn cứu độ

Câu chuyện Tin mừng gồm hai phần rõ rệt. Nhà vua mời thực khách dự tiệc cưới của hoàng tử (câu 1-10) và người khách không mặc y phục lễ cưới (câu 11-14).

Điều khó hiểu

  • Thái độ của khách mời: Bình thường khi được các bậc vị vọng mời dự tiệc, khách được mời sẽ rất hãnh diện. Ở đây nhà vua mời dự tiệc cưới của hoàng tử. Vậy mà các khách được mời đều từ chối. Thánh Mátthêu ghi lại hai lý do: "người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán". Thánh Luca thì ghi tới ba lý do: "Người thứ nhất nói: tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; người khác nói: tôi mới tậu 5 cặp bò, tôi đi thử đây; người khác nói: tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được" (Lc 14,18-19). Họ khước từ vì lo làm ăn và hưởng thụ cá nhân. Họ bận rộn, mải mê kiếm sống, không còn giờ cho tình người.Một số khách được mời nóng nảy quá khích, đã không dự tiệc vua mời còn bắt đầy tớ của vua, đánh đập, sỉ nhục và giết chết.
  • Hành động của ông vua: Ông mời khách đến mấy lần, mời đi mời lại, năn nỉ họ tham dự. Ông còn tỏ ra hào phóng là thu nạp mọi người, bất luận tốt xấu, giàu nghèo.Thế nhưng, khi thấy một thực khách không mặc y phục lễ cưới ông ra lệnh trói chân tay, bỏ vào nơi tối tăm bên ngoài mà khóc lóc nghiến răng. Người đọc cảm thấy thật khó hiểu: những người đang ở ngoài đường đột nhiên được mời vào dự tiệc cưới thì làm sao có sẵn áo lễ mà mặc?



Ý nghĩa dụ ngôn

Nên nhớ, đây là một dụ ngôn nằm trong chuỗi ba dụ ngôn theo cùng một chủ đề mà Chúa Giêsu kể cho các thượng tế và kỳ mục Do thái khi họ đến chất vấn Người về thẩm quyền của Người (x. Mt 21,23). Hai Chúa Nhật trước qua hai dụ ngôn "hai người con" (21,28-32) và "các tá điền sát nhân" (21,33-43). Dụ ngôn “tiệc cưới” (22,1-14) là câu trả lời cho những thái độ của các thượng tế và pharisiêu.Thiên Chúa ban hạnh phúc Nước Trời trước tiên cho dân Do Thái, nhưng họ đã từ chối vì chuộng những giá trị trần gian hơn; Thiên Chúa lại ban hạnh phúc ấy cho muôn dân. Tuy nhiên, cũng như người dự tiệc cưới phải mặc áo cưới, tượng trưng cho cách sống. Những người được mời gia nhập Nước Trời cũng phải có một nếp sống mới phù hợp với Tin Mừng.



2. Được mời dự tiệc là niềm vinh dự và là hạnh phúc

Người Do Thái được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài để chuẩn bị ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại. Thế nhưng, họ đã từ chối đặc ân. Họ thờ ơ, không đếm xỉa gì đến lời mời gọi dự tiệc cưới : người thì đi thăm trại, kẻ thì đi buôn, người khác thì bắt đầy tớ nhục mạ và giết đi…



Con người có thái độ thờ ơ, lãnh đạm và coi thường như thế bởi vì họ không yêu mến Thiên Chúa, không cần Thiên Chúa. Nếu yêu thương, tôn trọng người chủ tiệc thì chắc chắn cho dù có vướng bận đến đâu họ cũng sẵn sàng sắp xếp công việc, thời gian để đi dự tiệc. Được mời là một vinh dự, nhưng đáp lời mời là biểu lộ tình cảm của bản thân dành cho gia chủ. Cũng thế, Thiên Chúa mời gọi con người vào hưởng hạnh phúc Nước Trời là do tình yêu của Ngài dành cho nhân loại, còn đáp lời mời này để hân hoan tiến vào Nước Chúa là lời đáp trả tình yêu của con người với Thiên Chúa.



Thiên Chúa mời con người đến tham dự tiệc cưới. Tiệc cưới là tiệc vui tươi, chúc mừng tình yêu của cô dâu chú rễ. Chúa Giêsu là chàng rễ, Giáo hội là cô dâu. Thiên Chúa đã mời gọi các Kitô hữu đền bàn tiệc để chia sẽ niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài (GLCG # 1384).



Được mời và đón nhận lời mời là một biểu lộ của tình yêu từ hai phía, Thiên Chúa và con người dành cho nhau. Thế nhưng, trong cuộc sống Kitô hữu ngày hôm nay, thái độ từ chối Thiên Chúa, thờ ơ với lời mời gọi của Ngài vẫn còn tiếp diễn nơi nhiều người.



Dụ ngôn tiệc cưới luôn mang tính thời sự. Những người từ chối dự tiệc cưới đã viện dẫn nhiều lý do chỉ vì họ không muốn đến. Những người không tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật cũng có rất nhiều lý do để biện minh. Người ta có trăm ngàn lý do để từ chối lời mời tha thiết của Chúa đến dự bàn tiệc Thánh Thể, bàn tiệc Lời Chúa. Nào là chuyện gia đình, bạn bè, chuyện làm ăn, chuyện học hành, chuyện giải trí, chuyện tương lai… nào là quá bận rộn không có thời gian. Có khi chỉ là một cuốn phim đang xem, một trận đá bóng trên tivi, một bữa nhậu… nhiều người đã bỏ lễ Chúa nhật.



Người ta nại vào rất nhiều lý do từ công ăn việc làm đến những lý do bận rộn với những sinh họat xã hội để từ chối các sinh hoạt đạo đức, từ chối tham dự Thánh Lễ. Người ta nại đến nhiều lý do, nhiều hoàn cảnh khó khăn để từ chối gặp gỡ, đón nhận Chúa qua anh chị em chung quanh, để khước từ sống giới răn yêu thương của Chúa.



Là Kitô hữu, chúng ta cần xét mình về thái độ của bản thân trước những lời mời gọi dấn thân vì Nước Trời, vì tha nhân của Chúa. Đừng lấy lý do tôi quá bận rộn với công việc làm, với gia đình mà không dành giờ cho Thiên Chúa, không dành giờ cho Nước Trời, không dành giờ lo đến linh hồn mình. Bận rộn chỉ là bình phong che đậy những lười biếng, những ích kỷ. Đừng hỏi tôi có bận hay không, nhưng hãy hỏi tôi có muốn hay không? Vì lòng muốn sẽ thắng vượt mọi trở ngại, mọi toan tính.



Thánh lễ chính là tiệc cưới Nước Trời mà Thiên Chúa thiết đãi cho chúng ta hưởng nếm trước hạnh phúc, vinh quang và sự sống thần linh. Vậy chúng ta hãy dẹp bỏ đi mọi lo toan của công việc, mọi vướng bận của cuộc sống đời thường để hân hoan tiến đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Sau khi đã vui hưởng Tiệc Thánh, mỗi người sẽ thêm nghị lực, thêm niềm tin, thêm tình yêu.



3. Đến dự tiệc cưới phải mặc áo cưới.

Muốn tham dự tiệc cưới, vào bàn tiệc chưa đủ mà còn phải mặc y phục cho thích hợp. Y phục đó tượng trưng cung cách sống đạo, trang phục bằng những đức tính và tinh thần của Ðức Kitô. Là người Kitô hữu, cần sống cho xứng đáng với danh hiệu Kitô hữu mới được vào Nước Trời. Ân sủng không chỉ là một quà tặng mà còn là một trách nhiệm phải chu toàn.



Chiếc áo cưới vào dự tiệc Nước Trời chính là ơn Thánh tẩy của Bí tích Rửa Tội. Ngày chịu phép rửa tội, tất cả mọi Kitô hữu được nhắn nhủ: "Con đã trở nên tạo vật mới và đã mặc lấy Ðức Ktiô. Chiếc áo trắng này là dấu chỉ tước vị của con. Nhờ lời chỉ bảo và gương lành của thân nhân giúp đỡ, con hãy mang nó tinh tuyền mãi cho đến cõi trường sinh."



Mỗi một Kitô hữu đều có một bộ y phục lễ cưới, đó là chiếc áo trắng ngày chịu phép Rửa tội. Chiếc áo trắng ấy là tâm hồn thanh khiết của những người con cái Chúa đã được tẩy trắng trong máu Con Chiên. Chiếc áo trắng ấy được dệt bằng sợi tơ Lời Chúa mà người tín hữu phải nâng niu, gìn giữ suốt cuộc đời. Chiếc áo trắng ấy phải tinh tuyền cho đến ngày bước vào dự tiệc cưới trong Nước Trời.



Có người đã vào phòng tiệc mà vẫn bị mời ra, vì không mang y phục lễ cưới. Có người theo đạo mà vẫn không được vào Nước Trời vì họ đánh mất chiếc áo trắng ngày Rửa tội. Theo ý kiến của một số giáo phụ, chiếc áo cưới ám chỉ đức ái, tối thiểu là cuộc sống ăn ngay ở lành. Còn theo ý kiến của các nhà chú giải Kinh Thánh hiện đại, thì chiếc áo cưới ám chỉ sự hoán cải hay sự trở về, tức là tinh thần sám hối chân thật. Như thế, chiếc áo cưới ám chỉ sự hoán cải tâm hồn, một tâm hồn trong sạch, một tấm lòng bác ái yêu thương và một đức tin vững mạnh.



Đành rằng “chiếc áo dòng không làm nên thầy tu”, nhưng qua cách ăn mặc cũng chứng tỏ cho người khác thấy phần nào con người của mình. Khi đến thăm gia đình của người bạn với quần áo lịch sự, chứng tỏ rằng chúng ta kính trọng người bạn đó. Khi đến nhà thờ dâng thánh lễ ngày Chúa nhật, chúng ta mặc y phục đẹp nhất của mình, chứng tỏ mình kính trọng Thiên Chúa, tôn trọng anh chị trong cộng đoàn, và biểu lộ sự tự trọng đối với chính bản thân mình.



Quần áo bề ngoài xã hội như vậy, nhưng còn y phục của tinh thần và linh hồn nữa. Mỗi lần đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta cũng phải mặc lấy y phục phẩm hạnh của bàn tiệc mà Chúa Giêsu đòi hỏi. Y phục của lòng tin, cậy, mến. Y phục của lòng ăn năn sám hối và sự kính trọng đối với Thiên Chúa.



Y phục phải xứng với kỳ đức. Chiếc áo cưới của Kitô hữu không được dệt bằng lụa là gấm vóc, không được mua từ hàng hiệu đắt tiền nhưng chính là lòng khiêm hạ, lòng tin, lòng cậy, lòng mến Chúa, lòng mến đối với mọi người.



Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa. Xin cho con chỉ khao khát một mình Chúa, quên đi chính bản thân, yêu mến Chúa và làm mọi sự vì Chúa. Xin cho con biết tự hạ, biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa. Ước gì con biết hãm mình và sống trong Chúa. Ước gì con biết nhận từ Chúa tất cả những gì xảy đến cho con và biết chọn theo chân Chúa luôn.

    Xin đừng để điều gì quyến rũ con, ngoài Chúa.

    Xin Chúa hãy nhìn con, để con yêu mến Chúa.

    Xin Chúa hãy gọi con, để con được thấy Chúa.

    Và để con hưởng nhan Chúa đời đời. Amen

    (Thánh Augustinô)

lm. Giuse Nguyễn Hữu An

CHIẾC ÁO CƯỚI MANG NHẢN HIỆU GIÊSU

Lm. Giuse Phạm Ngọc Ngôn Csjb

Với dụ ngôn “tiệc cưới”, Tin mừng hôm nay muốn khép lại những thắc mắc hay đúng hơn là những hạch hỏi sách nhiễu do các thượng tế và kỳ mục Dothái đưa ra nhằm “hạ bệ” Chúa Giêsu, nhưng đồng thời đó cũng là dụ ngôn- cách nào đó, Chúa Giêsu muốn gửi đến không chỉ cho giới thượng tế và kỳ mục, mà còn cho hết mọi thành phần dân Chúa với lời nhắn : Hãy duyệt xét lại lời mời tham dự bàn tiệc Nước Thiên Chúa và không ngừng chuẩn bị cho mình có được bộ y phục lễ cưới trong ngày trọng đại ấy.



Mở đầu dụ ngôn, Chúa Giêsu sánh ví Nước Trời như bữa tiệc cưới của hoàng tử diễn ra trong triều đình. Tiệc cưới trong đám thường dân đã là việc trọng đại huống gì là tiệc cưới của bậc vua chúa trong triều. Tin hoàng tử kết hôn được loan đi cùng với đó là “thiệp hồng” báo tin ngày thành hôn của hoàng tử cũng được gửi đến tất cả các bậc vị vọng trong triều đình cũng như các quan cận thần. Để tránh cho quan khách sự cố do lu bu nhiều chuyện mà quên việc đại sự, nhà vua còn cẩn thận sai đầy tớ đến từng nhà để mời họ tới. Những tưởng trước sự quý mến và hết mực tha thiết của vua, quý quan khách sẽ mau mắn đáp lại, thế nhưng họ tỏ ra ù lỳ, không chịu đến.



Trước sự khinh thường của các nhân vật hệ trọng, nhà vua không tỏ ra khó chịu, tức giận hay ngã lòng. Trái lại, ông nhẫn nại sai những đầy tớ khác đến với họ một lần nữa và lần này thông điệp ông muốn gửi đến họ là lời mời cách khẩn thiết và rõ ràng : “Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến tham dự tiệc cưới”. Còn lời tha thiết nào hơn những lời mà nhà vua vừa gửi đến cho những nhân vật VIP này. Thế nhưng họ chẳng thèm đếm xỉa. Chưa hết, đã không đếm xỉa, khinh thường lời mời của nhà vua thì thôi, đàng này họ lại bắt đầy tớ vua sỉ nhục và giết chết nữa chứ. Thật là tội tày đình. Bởi thế việc vua nổi cơn thịnh nộ cũng là điều dễ hiểu.



Rõ ràng thái độ phạm thượng của đám người “ưu tuyển” này đã không vì thế làm cho tiệc cưới nhà vua đang tổ chức cho hoàng tử vắng khách. Trái lại, từ khắp các ngả đường, đủ mọi thành phần chứ không còn thành phần ưu tuyển nữa, tất cả đều được mời vào tham dự tiệc cưới. Phòng cưới chật ních khách. Thế nhưng trong bữa tiệc đó, chúng ta thấy có một người không mặc y phục lễ cưới bị nhà vua tra hỏi. Điều này xem ra vô lý vì trước đó, nhà vua cho đầy tớ ra các ngả đường gặp ai bất luận tốt xấu đều mời vào cả, vậy tại sao vua lại tra vấn anh ta vì anh ta không mặc y phục lễ cưới? Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy dụ ngôn nói đến việc anh này “câm miệng không nói được gì” trước sự tra vấn của nhà vua. Tại sao như vậy? Chúng ta có thể lý giải thế này. Hẳn nhiên anh ta không nằm trong số bị ép vào dự tiệc, vì nếu bị ép, anh ta đã lên tiếng khống chế rồi. Như thế anh là người được nhà vua mời trước, nhưng vì lôi thôi, thiếu sự chuẩn bị nên đến giờ vào tiệc cưới, chiếc áo lẽ ra đã được chuẩn bị từ lâu nay lại không có.



Nếu bữa tiệc cưới được nhà vua thết đãi tượng trưng cho Nước Trời thì y phục lễ cưới tượng trưng cho một lối sống chuẩn mực, phù hợp với công dân của nước ấy. Đành rằng “chiếc áo không làm nên thầy tu”, nhưng qua cách ăn mặc, cách nào đó chúng ta cũng thấy được tính cách của người đó. Như thế, y phục lễ cưới mà dụ ngôn muốn nhắm đến là gì? Được Thiên Chúa mời gọi vào bàn tiệc nước Thiên Chúa là một hồng ân, nên cách nào đó, chiếc áo mà chúng ta cần phải có chính là một đời sống phù hợp với những yêu cầu đòi hỏi cơ bản mà Thiên Chúa muốn chúng ta thực hiện. Chiếc áo đó chính là đời sống của Đức Kytô như thánh Phaolô đã từng nhắc nhở các giáo đoàn của ngài. Qua bí tích rửa tội, mỗi người chúng ta trở nên con người mới, nghĩa là con người được tái tạo trong Đức Kytô qua cái chết và phục sinh của Người. Chính vì thế, thánh Phalô khuyên chúng ta vì đã trở nên “con người mới”, nên chúng ta cần phải “mặc lấy Đức Kytô”, nghĩa là cần phải được biến đổi theo hình ảnh của Người (x. Gl 3, 27.28; Ep 4, 24). Như thế, chiếc áo mà chúng ta mặc cần phải được biểu lộ không chỉ nơi đời sống cá nhân của mỗi người mà còn phải tỏ hiện trước mặt cộng đồng nữa. Cho hay, mặc lấy Đức Kytô chính là mặc lấy sự công chính, mặc lấy sự thánh thiện và ngược lại, không mặc lấy Đức Kytô cũng đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ không thể trả lời câu chất vấn như nhà vua đã đặt ra cho anh chàng dự tiệc không mặc y phục lễ cưới trong dụ ngôn hôm nay.



Tạ ơn Chúa vì Kytô hữu- qua bí tích rửa tội, chúng ta được Thiên Chúa “gửi thiệp hồng báo tin” tham dự tiệc cưới Nước Trời. Chính vì thế cuộc sống nơi trần thế là thời gian để chúng ta dệt nên “chiếc áo con người mới” và “chiếc áo mang nhãn hiệu Đức Kytô” được thêm công chính và thánh thiện. Có như thế, ngày vào bàn tiệc thiên quốc sẽ là ngày chúng ta hân hoan tiến bước, đồng bàn với Đức Vua, với Hoàng Tử Giêsu chứ không phải là ngày “câm miệng không nói được gì”, là ngày khốn cùng, bị đẩy vào nơi “khóc lóc và nghiến răng”.


Lm. Giuse Phạm Ngọc Ngôn Csjb

NẾU CUỘC SỐNG THIẾU TÌNH YÊU

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Ở đời có yêu nhau người ta mới dám hy sinh dành thời giờ cho nhau, mới hy sinh làm vui lòng nhau. Có yêu nhau người ta mới chẳng quản ngại ngăn sông cách núi để “Tam tứ núi cũng trèo – Thất bát sông cũng lội, thập cửu đèo cũng qua”. Ngược lại nếu không có tình yêu thì cuộc đời sẽ không có hy sinh và càng không cần làm vui lòng nhau. Phải chăng đó cũng là lối cư xử thiếu tình yêu của con người đối với Thiên Chúa mà bài tin mừng hôm nay Chúa Giê-su đề cập đến? Phải chăng lời Chúa hôm nay là bức tranh tương phản giữa tình yêu quảng đại của Thiên Chúa và thái độ vô ơn, bất kính của con người?

Thiên Chúa là chủ tiệc. Thiên Chúa thiết đãi một bữa tiệc chứa chan hạnh phúc cho con người. Nhưng tiếc thay, con người đã từ chối lòng tốt của Thiên Chúa. Ngay từ đầu trong vườn địa đàng, Adam đã từ chối chung bàn với Thiên Chúa. Ông muốn loại trừ Thiên Chúa. Ông muốn bước đi theo lối đi của ông. Một lối đi theo ý mình. Một lối đi không có Thiên Chúa. Hậu quả là đau khổ và sự chết đã đi vào kiếp người. Cũng từ đây tình yêu của Thiên Chúa theo đuổi con người suốt dọc dài lịch sử ơn cứu độ. Thiên Chúa vẫn tiếp tục kiên nhẫn mời gọi, dẫn dắt con người trở về trong sự hiệp nhất với Ngài. Các tiên tri và Chúa Giê-su đều dùng hình ảnh bữa tiệc để nói về niềm vui của sự xum vầy bên Chúa và bên nhau trong hoan lạc hạnh phúc.

Thế nhưng, cho thì nhiều mà đáp trả chẳng bao nhiêu. Con người qua mọi thời đại vẫn tìm nhiều cách để khước từ lời mời gọi đầy yêu thương của Chúa. Nhiều người vẫn đang tìm cho mình một lối đi không có Thiên Chúa. Họ muốn tự hành xử theo ý mình và bắt người khác theo ý mình. Một thế giới không có Thiên Chúa chỉ dẫn đến chiến tranh hận thù, nghị kỵ và kết án lẫn nhau. Một thế giới không có Thiên Chúa sẽ dẫn đến một nhân loại gồm toàn những người quá đề cao cái tôi đến nỗi chẳng ai chịu nghe ai. Đó là kinh nghiệm đắng cay nhưng đáng tiếc, chẳng mấy ai chịu sửa sai!

Có nhiều người hôm nay nhân danh đạo tại tâm để từ chối việc đến nhà thờ, ngay cả thánh lễ Chúa nhật họ vẫn dửng dưng xem thường. Họ cho rằng đạo tại tâm là không cần biểu lộ ra bên ngoài nhưng họ quên rằng cái tâm đó phải thể hiện ra bên ngoài bằng thái độ giữ đạo chân thành, không giả dối, không khoe trương. Đây là điều mà Chúa Giê-su đã từng nói: “nghe và thực hành Lời Chúa” mới là điều quan trọng. Và chính Chúa thêm rằng: “Ai xưng mình là môn đệ của Thầy trước mặt người đời, thì Thầy mới xưng nó trước mặt Cha Thầy”.

Có nhiều người viện lý do ghét người này người nọ để từ chối việc đến nhà thờ. Họ cho rằng “tin đạo nhưng không tin người có đạo”. Điều đó có thể đúng, nhưng không thể “vơ đũa cả nắm” càng không thể “đánh lận con đen”, Đạo và người có đạo như nhau. Đạo là đường. Người có đạo đang đi trên con đường đó. Đường ta ta đi. Tại sao vì một vài người mà mình lại bỏ đạo? Tại sao ta không tiếp tục đi để nâng đỡ anh em đang vấp té trên đường? Tại sao ta không trở thành bạn đồng hành để giúp anh em sai lỗi biết sống và thực hành đạo? Xem ra đó chỉ là nguỵ biện cho thái độ từ chối thông hiệp với Thiên Chúa của chính mình!

Bên cạnh những người bỏ đạo còn có những người lấp lửng nửa vời. Họ nại vào lý do “có thực mới vực được đạo”. Họ không đi lễ vì phải lo kế sinh nhau. Lo đồng tiền bát gạo trước, rồi khi rãnh mới tranh thủ đi lễ. Họ là những người thờ thần tài trên cả Thiên Chúa. Họ say mê tìm kiếm của cải trần gian mau qua, mà lãng quên giá trị vĩnh cửu là Nước Trời. Họ là những người sống theo chủ nghĩa thực dụng. Cái gì có lợi trước mắt là làm ngay. Họ quên rằng: mọi sự thế gian này sẽ qua đi, và những gì họ đã một đời bán mạng để tìm kiếm cũng thuộc về người khác. Công việc tìm kiếm danh vọng của họ chỉ là “dã tràng xe cát biển đông”.

Hình ảnh vị khách đã không mặc áo “xứng kỳ đức” có thể là chính chúng ta. Những người mang danh ky-tô hữu nhưng không có nếp sống phù hợp với tư cách của người môn đệ Chúa. Chúng ta vẫn khoác trên mình biết bao thói hư tật xấu, biết bao những đam mê lầm lạc. Chúng ta chưa dám mặc lấy Đức Ky-tô. Chúng ta không dám sống như lời thánh Phaolo đã từng nói: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là Đức Ky-tô sống trong tôi”. Vì thế, cuộc đời chúng ta vẫn đầy những lầm lạc, gian dối và tội lỗi.

Phải chăng, bài dụ ngôn này là lời nhắc nhở chúng ta hãy chỉnh đốn lại lối sống cho phù hợp với tình yêu của Thiên Chúa? Hãy nhìn lại tương quan của mình với Thiên Chúa cho đúng, để có cách sống cho phù hợp. Chúng ta là thụ tạo hãy biết lệ thuộc vào Đấng tạo hoá. Chúng ta là tôi tớ hãy sống theo ý của chủ. Chúng ta là môn đệ của Chúa hãy từ bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới. Con người của ân sủng không bị lệ thuộc vào những đam mê thấp hèn làm mờ lương tri. Chúng ta là con Chúa hãy sống thông hiệp với Chúa và với nhau để xây dựng một thế giới hiệp nhất, yêu thương, thắm đượm tình Chúa tình người.

Ước gì chúng ta luôn biết chọn Chúa làm gia nghiệp thay cho những phù vân ở đời mau qua. Ước gì chúng ta luôn trân trọng tình Chúa để dám dành thời giờ cho Chúa hơn là lao mình vào những danh vọng trần gian. Xin Chúa giúp chúng ta gìn giữ nét đẹp của phẩm giá con người bằng chiếc áo ân sủng của Chúa luôn gìn giữ chúng ta trong sạch và tinh tuyền. Amen

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

CẦN MỘT TẤM LÒNG

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Một trong những cung cách giảng dạy của các danh sư là dùng các câu chuyện kể. Khi sinh thời, Chúa Giêsu cũng đã từng làm người kể chuyện. Cách kể chuyện của Chúa hẳn rất có duyên khiến cho đám đông thính giả say sưa nuốt từng lời, từng câu nói. Chúa Nhật XXVIII TN A này, Mẹ Hội Thánh cho chúng ta nghe lại câu chuyện Chúa Giêsu kể năm nào : “ Nước Trời giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho hoàng tử. Đến hẹn, vua sai gia nhân đi mời quan khách. Ngày xưa, đi dự tiệc cưới của hoàng cung có phải mang theo quà cáp hay phong bì chăng ? Ngày nay rất nhiều người cứ đến mùa cưới là như trong tư thế sẵn sàng đi trả nợ đời. Cứ mỗi tấm thiệp mời ăn cưới là một tờ giấy báo nợ không bằng. Tìm được cớ hợp lý để thoái thác tham dự một tiệc cưới kể như lập một chiến công, dù không trọn vẹn, vì cũng phải nhờ người gửi quà biếu, nhưng dẩu sao cũng tiết kiệm được một buổi công làm. Tuy nhiên hầu hết đây là những trường hợp “được hay bị mời”, kiểu phải đáp lễ, ít có liên hệ họ hàng hay thân thuộc.



Trở lại với câu chuyện dụ ngôn Chúa kể. Được vua mời dự tiệc cưới hoàng tử quả là một vinh dự to lớn mà nhiều người thời phong kiến hằng ước ao. Không chỉ vì mình được nhà vua sủng ái mà còn có nhiều vận hội lớn, mỗi khi được dịp vào hoàng cung, được dịp gặp gỡ bao vị quyền chức cao trọng. Hơn nữa, ngôn sứ Isaia đã minh nhiên nói rõ sự hào phóng của đức vua : Thịt thì béo, rượu thì ngon mà khỏi phải trả đồng nào ( x. Is 25,6; 55,1 ). Thế mà những người được mời lại nỡ tâm từ chối với những lý do không chút tương xứng : đi thăm nông trại, đi buôn bán. Có kẻ lại bắt đầy tớ của vua mà hành hạ và giết chết ! Không thể hình dung và cũng chẳng thể hiểu được.



Chuyện hình như không thể xảy ra trong đời thường thì lại rất có thể có trong đời sống đức tin, và thực sự đã hiển nhiên với lịch sử đoàn dân được tuyển chọn ngày xưa. Israel, họ được Thiên Chúa ưu ái mời gọi đến hưởng nhận bao ân phúc của Người. Chỉ là một dân nhỏ bé giữa các dân, họ chẳng có gì xứng đáng. Tất thảy chỉ vì tình Chúa bao la. Chúa sủng ái họ cách đặc biệt hơn các dân. Thế mà khi sai các đầy tớ là các sứ ngôn đến mời gọi thì họ lại chối từ và còn nhẫn tâm hãm hại các ngài. Chính sự vô tình và sự nhẫn tâm của họ đã kết án họ, đã loại họ ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Và rồi muôn dân khắp thiên hạ đã được mời vào dự tiệc của Thiên Chúa. Thiên hạ sẽ từ Đông chí Tây, từ Bắc chí Nam đến dự tiệc Nước Thiên Chúa, còn con cái trong nhà sẽ bị loại ra ngoài. Người ta bị loại chỉ vì thiếu một tấm lòng.



Chúa Giêsu kể thêm một câu chuyện khác cũng về tiệc cưới của hoàng tử. Khi đức vua vào phòng tiệc thì thấy một người không mặc y phục lễ cưới. Đi dự một đám cưới mà trên người chỉ có chiếc “may – ô” và cái quần cộc hay với bộ đồ đen của “đám tang” thì quả là xấc xược với đôi tân hôn, với chủ tiệc và với cả quan khách. Lại còn ương ngạnh, không thèm trả lời khi được chất vấn, thì quả là người chẳng coi ai ra gì, đúng hơn là chẳng biết nghĩ đến kẻ khác. Đi dự một lễ hội, tiệc tùng hay đình đám thì chuyện mặc y phục gì, kiểu dáng ra sao, màu sắc thế nào…không nguyên là để làm đẹp bản thân mà tiên vàn là để tôn trọng chủ nhà, tôn trọng nội dung, bầu khí buổi lễ, buổi tiệc…Đã là người biết nghĩ, thì không ai ăn mặc hở hang, lòe loẹt đi dự đám tang và cũng chẳng có ai mặc toàn màu đen đi dự đám cưới.



Nguời không biết nghĩ đến kẻ khác thì không xứng đáng dự tiệc nước trời, vương quốc của tình yêu. Vào đạo, gia nhập Hội Thánh…mà chỉ biết lo cho bản thân mà thôi, cho dù là phần rỗi linh hồn mình, thì không xứng đáng lãnh nhận ân tình của Chúa. Chốn khóc lóc và nghiến răng là nơi dành cho những kẻ chỉ biết sống cho riêng mình.



Được làm con cái Chúa thì phải lấy danh Chúa làm trọng. Nguyện xin cho danh Cha cả sáng. Được làm tín hữu trong Hội Thánh thì phải mến yêu người mẹ sinh ta trong đức tin. Xin gìn giữ Hội Thánh Chúa trong chân lý và binh an. Được làm con dân nước Việt thì phải đồng hành với dân tộc trong mọi hoàn cảnh lịch sử. Xin cho quê hương được thái bình thịnh vượng trong công lý. Những lời cầu xin cũng là những ý chỉ định hướng cuộc đời ta, hành vi của ta.



Những ngày vừa qua, truyền thông đại chúng nước nhà đất Việt chúng ta đã dùng xảo kế làm méo mó chân dung một vài đấng bậc trong Hội Thánh, gieo rắc ác cảm nơi tâm hồn nhiều bà con lương dân và khác đạo. Chính quyền Hà Nội lại còn dùng bạo lực đối xử cách bất công với nhiều tín hữu Công giáo. Là người đang cùng chung bữa căn nhà Hội Thánh, chúng ta hẳn đau xót cách này cách khác. Thế nhưng, sau một vài ngày, một vài tuần, lòng ta có lại dửng dưng như chưa có chuyện gì xảy ra ? Hy vọng rằng sẽ chẳng có ai tự bằng lòng với một vài lời kinh hiệp thông cầu nguyện để che dấu tấm lòng ích kỷ chỉ lo cho riêng mình, sợ bị phiền toái, sợ bị bách hại hay sợ ảnh hưởng đến đường thăng tiến tương lai.

Trước tình cảnh đất nước nhiễu nhương vì nạn tham nhũng, gian dối, bạo lực, bất công… là đồng bào, là người con cùng một dạ mẹ tổ quốc, chúng ta có dừng lại ở một vài xuýt xoa, than thở, tán gấu vĩa hè…để rồi phủi tay xem như chuyện của người khác phải lo, phải liệu, chứ không phải của tôi ? Hy vọng rằng sẽ chẳng có ai đóng khung các mối lo toan bằng vòng tay của bản thân hay các cánh cửa gia đình riêng mình.



Lạy Chúa xin cho chúng con có một tấm lòng.


Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

LỜI MỜI GỌI VÔ ĐIỀU KIỆN

Lm. An Phong, OP

Tin mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn tiệc cưới của con trai Ðức Vua. Nhưng các người được mời lại không chịu tới, vì bận trăm ngàn công việc khác nhau. Ðức Vua đã cho mời tất cả mọi người khác, bất luận tốt xấu. Trong số những người đến sau này, có một người "không mặc áo cưới".

Tiệc cưới là bàn tiệc Cứu Ðộ Thiên Chúa dọn cho mọi người. Những người được mời là dân Israen. Họ đã khước từ Thiên Chúa. Những người đến sau là tất cả những ai - kể cả chúng ta - tin vào Ðức Giêsu. Còn người không mặc áo cưới là người không có lòng sám hối, không đoạn tuyệt với quá khứ xấu xa (nếu có) khi đã bước vào Giáo hội.

Hẳn là không ít người hãnh diện vì mình là "đạo gốc", "đạo dòng" và dường như tự cấp cho mình một "giấy thông hành bảo đảm vào Nước Trời". Nhưng liệu "một kitô-hữu hữu danh" có thay cho "một kitô-hữu chính danh" hay không ? Rất có thể một trong số chúng ta là người "không mặc áo cưới".

Thiên Chúa luôn là Ðấng kêu gọi con người đến tham dự bàn tiệc Cứu Ðộ. Ngài là một người Cha hào phóng, rộng lượng, yêu thương con người hết mình. Ngài muốn mọi người được cứu độ. "Cha yêu con bằng một tình yêu vô tận, miên trường" (Gr 31,3) và con người chỉ việc đáp lại tình thương đó, "các bạn phải yêu mến Thiên Chúa là Chúa bạn hết tâm hồn…" (Ðnl 6,5). Một lời mời gọi vô điều kiện đòi một lời đáp trả vô điều kiện.

Ðôi lúc chúng ta đi tìm hạnh phúc ngoài bàn tiệc Thiên Chúa. Chúng ta dành cho Thiên Chúa điều tối thiểu, và muốn mình được tối đa bổng lộc. Chúng ta nghĩ rằng mình còn nhiều việc phải lo, và những việc đó không can dự gì đến Thiên Chúa. Chúng ta quên mất rằng : "Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ" (Mt 6,24).

Qua bàn tiệc Thánh Thể mỗi ngày, Thiên Chúa đang mời gọi và dẫn đưa chúng ta đến bàn tiệc cứu độ đời đời. Bàn tiệc Thánh Thể của Ðức Kitô luôn sẵn sàng dành cho chúng ta; miễn là chúng ta "mặc áo cưới", tức là "sám hối và tin vào Tin mừng".

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã mời con dự tiệc Mình Máu Thánh Chúa;

Nơi đây, Chúa cho con một tình yêu thương lớn lao,

tình yêu của người "hy sinh mạng sống vì bạn hữu".

Xin Chúa cho con biết đón nhận hồng ân lớn lao đó,

Ðể con vui mừng vì được ơn Ngài Cứu Ðộ.

Lm. An Phong, OP

TIỆC CƯỚI CHO MUÔN DÂN

Học viện Đaminh

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay vẽ lên bức tranh đầy màu sắc hy vọng của ơn cứu độ được ban cho muôn dân. Ngôn sứ Isaia không chỉ tiên báo cảnh hồi hương cho một dân tộc bị lưu đày nhưng ông còn cho thấy một viễn tượng lớn lao hơn nữa qua hình ảnh Thiên Chúa sẽ mở tiệc thiết đãi muôn dân. Đó là hình ảnh của ngày viên mãn, của bữa tiệc cánh chung mà tất cả những ai đáp lời đều tìm thấy cho mình một chỗ trong bữa tiệc ấy. Tuy nhiên “kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít”, tuỳ thuộc vào sự đáp trả thế nào của mỗi người trước lời mời gọi của Thiên Chúa. Lời đáp trả xứng đáng là không cậy vào sức riêng của mình để thấy mình đáng được dự phần trong bữa tiệc ấy nhưng là hoàn toàn tin rằng Đức Giêsu Kitô có thể làm cho chúng ta, vốn là những kẻ tội lỗi không đáng dự phần, được trở nên những vị thánh trong nước của Người.

Những lời loan báo đầy tính khải huyền của ngôn sứ Isaia không chỉ hướng đến việc Thiên Chúa sẽ phán xét và phá tan các thế lực dân ngoại, Người sẽ làm cho thành trì chúng ra bình địa tan hoang, Người sẽ cho Giêrusalem được phục hồi, mà còn cho thấy viễn cảnh của ngày cánh chung, ngày Đức Chúa hoàn tất mọi sự. Quả thế, Thiên Chúa sẽ thiết đãi muôn dân một bữa tiệc, không phải là tiệc mừng chiến thắng mang tính tạm thời, nhưng là tiệc của tất cả những ai được tuyển chọn, sau cuộc xét xử, khi Thiên Chúa sẽ huỷ diệt sự chết. Đó là hình ảnh của ngày muôn dân thiên hạ, chẳng kể gì dân Do-thái, sẽ đến dự tiệc của Đức Chúa bởi chính Người là Đức Chúa họ từng trông đợi.

Quả thế, hình ảnh Nước Trời trong dụ ngôn “Tiệc cưới” của Đức Giêsu cũng là bữa tiệc được mở ra cho hết thảy mọi người. Đức Giêsu cho thấy người Do-thái chính là “các quan khách đã được mời trước”. Họ là dân tuyển chọn của Thiên Chúa. Họ đã được các ngôn sứ rao giảng về sự công bằng, lòng thương xót và sự tín thác vào một Thiên Chúa duy nhất. Họ đã nghe nhưng lại không đón nhận những lời rao giảng ấy. Thế nên, họ là những kẻ không nghe lời mời gọi “dự tiệc” của Thiên Chúa và đã khước từ Người bằng nhiều lý do. Vì lẽ đó, họ cũng khước từ chính Đức Giêsu. Tuy nhiên, Đức Giêsu chứng tỏ cho họ thấy kế hoạch của Thiên Chúa không thất bại khi các Tông đồ được sai đến “các ngả đường”, đến với mọi dân. Do vậy, Hội thánh được mở ra cho hết thảy mọi người chứ không chỉ là người Do-thái.

Đối với các Kitô hữu, thánh lễ là bàn tiệc duy nhất của Chúa Kitô. Chính Chúa Kitô Phục Sinh đã quy tụ những con người phải chết và bị chia rẽ, để nhờ Thần Khí Thiên Chúa, họ được biến đổi và được sống lại hầu có thể tham dự bữa tiệc dành cho kẻ sống. Chính trong ý nghĩa phong phú ấy mà mỗi Kitô hữu cần nhớ hơn rằng Thiên Chúa, qua tiệc Mình và Máu Con Chiên, mời gọi chúng ta mỗi ngày sẵn sàng tham dự tiệc cưới dành cho toàn thể nhân loại. Thế nên, mỗi tín hữu mang lấy nơi mình nhiệm vụ làm sao cho tất cả mọi người được hợp nhất và được hoà giải với nhau trong Chúa Kitô. Vì vậy, điều đòi hỏi nơi những ai đang dự tiệc cưới là ý thức về ơn gọi của mình. Y phục lễ cưới không phải là một đòi buộc của hình thức bên ngoài nhưng là dấu chỉ của niềm tin và sự trung tín vào Thiên Chúa. Đó là chiếc áo của những người không cậy vào sức riêng mình để thấy mình xứng đáng được dự phần nhưng tin vào Đấng đã đổ máu mình ra hầu tẩy xoá tội nhân loại, có thể làm cho mình được nên sạch và đáng được cùng Người chung phần trong Nước Trời.

Thế giới hôm nay đang cần những chứng nhân của niềm hy vọng về một bữa tiệc viên mãn cho hết thảy những ai khắc khoải kiếm tìm những giá trị chân thật và vĩnh cửu. Chúng ta đang chứng kiến một thế giới của sự từ chối hoặc xem nhẹ các giá trị vĩnh cửu. Sự đánh đổi giữa “bữa tiệc” và những toan tính riêng tư kéo theo một trào lưu của sự tục hoá và giản lược các giá trị. Nguy cơ chủ nghĩa vô thần thống trị có thể khiến chúng ta chao đảo trước câu trả lời về tính chân thật cho một bữa tiệc cánh chung khả dĩ tồn tại. Thế nên, đời sống Kitô hữu là một đòi hỏi khẩn thiết minh chứng cho bữa tiệc cánh chung và lời mời gọi muôn dân hiệp nhất nên một trong một thân thể duy nhất là Hội thánh, có Đức Kitô là Đầu và là Đấng đưa Hội thánh đến sự viên mãn trong ơn gọi của mình.

Tóm lại, bữa tiệc của Thiên Chúa là cuộc thiết đãi lớn dành cho muôn dân. Đó là ơn cứu độ được ban cho hết thảy những ai đáp lời mời tham dự “tiệc cưới” Chiên Thiên Chúa. Quả thế, trong Đức Kitô Giêsu, mọi người được mời gọi trở nên khách mời của Thiên Chúa. Chính niềm tin vào Đấng đã chết và sống lại làm cho hết thảy những ai không cậy vào sức riêng mình được dự phần trong bữa tiệc dành cho kẻ sống. Nhờ niềm tin ấy, họ kiên trì tiến bước và nhẫn nại chịu đựng những khốn khó khi phải đối mặt với lời từ chối của thế gian. Đó là kinh nghiệm chúng ta nhận được từ thánh Phaolô, để cùng người, chúng ta sống như một Kitô hữu và chiến đấu như một chiến sĩ của đức tin vì Đức Kitô, bởi lẽ: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu đựng được hết” (Pl 4,13).

Học viện Đaminh

ĐƯỢC GỌI VÀ ĐƯỢC CHỌN

Học viện Đaminh

Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục dùng dụ ngôn để nói chuyện với các thượng tế và kỳ mục. Câu chuyện nói về tiệc cưới được vua cha tổ chức cho con cũng như về thái độ của những khách mời và cách hành xử của nhà vua. Các thượng tế và kỳ mục nghe và hiểu rằng Đức Giêsu đang ám chỉ họ.

Quả thực, Đức Giêsu đến khai mở một thời đại mới, đó là niềm vui trọng đại không chỉ cho dân Israel mà còn cho toàn thể nhân loại. Quan khách là dân Israel, những người được Thiên Chúa tuyển chọn và có mối tương giao với Người ngay từ sớm. Thế nhưng họ lại thờ ơ, hờ hững trước tin vui này. Không những thế, họ còn bắt và bách hại gia nhân là các ngôn sứ và tông đồ. Hậu quả là họ phải lãnh cơn thịnh nộ của Thiên Chúa và nhường phần vinh dự cho những người khác, những người tội lỗi và dân ngoại.

Tuy nhiên, chúng ta đừng vội cười chê những người Do Thái, vì thái độ của họ đôi khi cũng là thái độ của chính chúng ta. Thực tế, đôi lúc chúng ta tự hào mình là Kitô hữu, là đoàn viên Huynh đoàn, là thành viên của hội đoàn này, của ban ngành nọ, nhưng chúng ta lại bỏ qua những lời mời gọi của Đức Giêsu, của Tin Mừng. Đức Giêsu đến khai mở Nước Trời là tin vui cho toàn thể chúng ta. Thế nhưng chúng ta đón nhận và sống tin vui này như thế nào? Với Bí tích Thanh tẩy, chúng ta được mời gọi tham dự vào đời sống Nước Trời, với nghi thức khấn hứa, chúng ta được mời gọi sống trọn vẹn hơn, triệt để hơn cho Nước ấy qua linh đạo của Dòng. Tuy nhiên, có mấy khi ta mau mắn đạp lại những lời mời gọi đó.

Nếu như Lời Chúa vẫn còn xa lạ với ta, thánh lễ và giờ kinh vẫn ở bên ngoài ta, các sinh hoạt của Huynh đoàn nhàm chán đối với ta, thì hãy xem lại, rất có thể đó là dấu hiệu của một sự khước từ.

Nếu chúng ta vẫn còn sống trong ghen ghét, hận thù, ganh tỵ, mánh khóe, dối gian, lọc lừa, thì hãy coi chừng, vì đó là thái độ nghịch lại với điều răn yêu thương.

Được lãnh Bí tích Thanh tẩy được tham gia Huynh đoàn, điều đó không có nghĩa là chúng ta đương nhiên được sống trong hạnh phúc Nước Trời. Nếu chúng ta không xứng đáng với những gì đã lãnh nhận thì hãy coi chừng. Có thể chính chúng ta sẽ là người bị đuổi ra khỏi phòng tiệc vì đã không “ăn mặc” cho phù hợp như trường hợp được đề cập đến trong đoạn cuối của bài Tin Mừng hôm nay.

Quả thực, câu chuyện không đơn thuần chỉ dừng lại ở việc ăn mặc mà thôi, nhưng qua đó, tác giả Matthêu muốn nhấn mạnh việc ai đã được ơn kêu gọi nhưng lại không “ăn mặc” các nhân đức cho phù hợp với ơn gọi đó thì chính họ bị loại trừ. Ở đây không phải là Thiên Chúa loại trừ cho bằng là chính họ đã tự loại mình, vì việc “ăn mặc” các nhân đức như thế nào là phụ thuộc vào quyết định của họ.

Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít. Tất cả chúng ta hãy tin rằng mình đã được gọi. Là người Kitô hữu, là đoàn viên Huynh đoàn Đa Minh, chúng ta hãy xác tín mình đã được gọi vào hưởng tiệc cưới cùng với toàn thể Giáo hội. Còn việc có được chọn hay không thì tùy thuộc vào thái độ sống đức tin của mỗi người chúng ta. Nếu chúng ta luôn chu toàn các bổn phận của một người tín hữu, các trách nhiệm của một đoàn viên thì chúng ta hãy vững tin rằng mình đã được Thiên Chúa chọn gọi vào dự tiệc vui với Con dấu ái của Người.

Gợi ý chia sẻ:

  1. Anh chị có cảm nhận được niềm hạnh phúc khi mình được chọn trở thành một đoàn viên Huynh đoàn không?
  2. Anh chị thể hiện niềm vui đó như thế nào?


Học viện Đaminh

Tác giả: Têrêsa Ngọc Nga
   dunglac@gmail.com