Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Têrêsa Ngọc Nga
Bài Viết Của
Têrêsa Ngọc Nga
Valentine 2011 - Slideshow (1355)
Tôi Đã Học Biết - Slideshow (1262)
Kinh An Bình Thánh Phanxicô Assisi - Slideshow (1242)
Trò Truyện của Chim - Slideshow (1186)
Cuộc Sống Yên Hàn - Slideshow (1159)
An Lạc - Slideshow (1122)
Nếu không có Tình Yêu - Slideshow (1120)
Đừng (2) - Slideshow (1116)
Lời Trò Chuyện Của Một Loài Chim - Slideshow (1031)
12 Cách Để Được Hạnh Phúc - Slideshow (1028)
Nếu Một Ngày 2 - Slideshow (1025)
Nếu Một Ngày 1 - Slideshow (1024)
Nếu Không Có Tình Yêu - Slideshow (1020)
Những Người Bạn Cần Nhớ Đến - Slideshow (1003)
Lời Khuyên Hữu Ích cho Tình Yêu (2) - Slideshow (990)
Lời Khuyên Hữu Ích Cho Tình Yêu - Slideshow (988)
Cây Đèn Thần - Slideshow (985)
Thích Một Người - Slideshow (967)
Cầu Nguyện - Slideshow (964)
Nếu Không Có Tình Yêu - Slideshow (446)
Những Tâm Tình Còn Mãi - Slideshow (437)
Ăn Chay - Slideshow (434)
Tình Yêu Valentine - Slideshow (427)
Chúc Mừng Kỷ Sửu - Slideshow (398)
Các bài suy niệm Chúa Nhật 4 Phục Sinh
HÃY NÂNG TÂM HỒN LÊN THÁNG 5

1 THÁNG NĂM

Sự Đảm Bảo Của Thiên Chúa 

Để hiểu dụ ngôn về Người Mục Tử Tốt Lành, chúng ta cần xác tín khả năng quán thông trước mọi sự của Thiên Chúa và giá trị vô hạn của chúng ta trước mặt Ngài: “Chúng sẽ không bao giờ hư mất. Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi … Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha” (Ga 10, 28 – 29). Lời khẳng định thật mạnh mẽ. Có thể nói, toàn bộ tấn kịch cứu độ được phản ảnh trong những lời này.

Đức Kitô nói rõ: “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì cao trọng hơn tất cả … Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10, 29 – 30). Xuyên qua Thập Giá và Phục Sinh, mối hiệp nhất thần linh của Chúa Cha và Chúa Con được bày tỏ trọn vẹn. Mối hiệp nhất này được diễn tả trong công cuộc sáng tạo con người, trong sự quan phòng cứu độ của Thiên Chúa, và trong hành động cứu chuộc của Ngài.

Trong hành động cứu chuộc, một cách nào đó, Thiên Chúa dấn mình trọn vẹn để đảm bảo rằng những gì mà Ngài đã tạo nên theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài sẽ không bị tước mất khỏi Ngài. Thiên Chúa đảm bảo rằng hành động cứu độ của tình yêu vĩnh cửu ấy sẽ được hoàn tất nơi con người.

Giáo Hội là chứng nhân của tình yêu ấy. Giáo Hội là chứng nhân của công cuộc cứu độ con người được thực hiện nơi Đức Kitô. Giáo Hội là chứng nhân của Mầu Nhiệm Phục Sinh – qua cuộc phục sinh này, sứ mạng của Đấng Mục Tử Tốt Lành đã được thực hiện với tầm mức sâu xa nhất. Trong Sách Công Vụ Tông Đồ, chúng ta nhận được cùng một lời chứng ấy khi Phao-lô và Barnaba nhắc lại những lời trong Sách Ngôn Sứ Isaia: “Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất” (Cv 13, 47).

2 THÁNG NĂM

Viên Đá Góc

Đức Kitô là viên đá góc: “Người là viên đá mà quí vị là thợ xây loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường” (Cv 4, 11). Những người không đón nhận lời chứng của Tin Mừng và xử tử Đức Kitô trên Thập Giá là những người đã loại bỏ viên đá này. Những người cố sức tổ chức thế giới và đời sống xã hội không cần đến Đức Kitô và chống lại Người, chẳng phải họ đang loại bỏ Người một lần nữa đó sao? Thế nhưng, viên đá bị loại bỏ – và bị loại bỏ quá nhiều lần này – chính là viên đá góc.

Công trình cứu độ con người chỉ có thể đứng được trên nền móng duy nhất là Đức Kitô. Chỉ nơi Người mới có nền tảng vững chắc để xây dựng trật tự và hòa bình đích thực giữa con người với con người. Chỉ nhờ Người, chúng ta mới có thể được đổi mới tâm linh và triển nở đến mức sung mãn theo sự tiền định từ đời đời dành sẵn cho mình. Chỉ qua Người, thế giới con người chúng ta mới có thể trở thành ‘người’ đích thực hơn.

3 THÁNG NĂM

No Thỏa Và An Bình

Trong Đức Kitô

Thánh Vịnh 23 sửa soạn cho chúng ta nhận hiểu ý nghĩa của dụ ngôn Người Mục Tử Tốt Lành. Đây là một thánh vịnh rất quen thuộc với tất cả chúng ta.

Hình tượng của thánh vịnh này rất phong phú – và có thể được phân vào hai khung cảnh khác nhau. Trước hết, đó là hình ảnh “đồng cỏ xanh tươi” – biểu trưng sự an toàn và sự bổ dưỡng thần linh mà Chúa cung ứng cho chúng ta; rồi “những dòng nước trong lành” xua tan nơi ta cơn khát; hình ảnh “đường ngay nẻo chính” nhắc nhở ta rằng mình đang trên hành trình tiến về một điểm tới cuối cùng trước mặt; “thung lũng âm u” tượng trưng cho những chông gai mà chúng ta phải đương đầu trên hành trình ấy. Đó là những hình ảnh được rút ra từ mối quan hệ giữa mục tử và đàn chiên.

Nửa sau của thánh vịnh là những hình ảnh đặc tả khung cảnh vui vầy. Thánh vịnh nói về một “bàn tiệc” mở rộng – diễn tả ơn phúc dồi dào mà ta được ban cho qua sự hiệp thông với Chúa; hình ảnh “xức dầu thơm” cho thấy thái độ ân cần săn sóc của Người; và “ly rượu đầy tràn chan chứa” nói lên tấm lòng ưu ái và quảng đại mà Chúa luôn dành cho ta.

Trọn cả thánh vịnh, nhất là câu cuối cùng, nhắc cho ta về niềm no thỏa và an bình tuyệt diệu ta nhận được trong Đức Kitô, Đấng Mục Tử tốt lành.

“Lòng nhân hậu và tình thương Chúa

ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,

và tôi được ở đền Người

những ngày tháng, những năm dài triền miên.”

Đức Kitô hướng dẫn chúng ta theo đường nẻo “yêu thương và nhân hậu” mà Người bước đi trong cuộc đời dương thế của Người – và cuối cùng, Người về đến “nhà của Chúa” để dọn chỗ sẵn cho ta.

4 THÁNG NĂM

Một Nơi Chốn An Toàn Và Thảnh Thơi

Đức Kitô tuyên bố Người không chỉ là “mục tử” mà còn là “cửa” cho chiên ra vào nữa (cf. Ga 10, 7). Như vậy, Người sử dụng hai ẩn dụ khác nhau có sức diễn tả đặc biệt. Hình ảnh “người mục tử” tương phản với hình ảnh “kẻ làm thuê”. Hình ảnh “mục tử” khắc họa rõ rệt mối quan tâm sâu sắc của Đức Kitô đối với đàn chiên của Người, quan tâm đến độ Người đã thí mạng mình để cứu độ chúng ta: “Mục tử tốt lành hy sinh mạng sống mình cho chiên” (Ga 10, 11). Thư Ê-phê-sô cũng trình bày tương tự: “Đức Kitô đã yêu mến Giáo Hội. Người đã hiến mình cho Giáo Hội” (Ep 5, 25). Việc của chúng ta là phải nhận hiểu ra rằng Người là Chúa duy nhất của mình và đi theo “tiếng của Người” (Ga 10, 4), chứ không ngây ngô trao thân gửi phận cho kẻ làm thuê – vì kẻ làm thuê rốt cục chỉ quan tâm đến tiền lương của mình, “không lo lắng đến đàn chiên” (Ga 10, 13).

Suy tư này soi sáng cho chúng ta hiểu ẩn dụ kia – ẩn dụ “cửa” hay “cổng cho chiên ra vào”. Đức Giêsu nói: “Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu; người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (Ga 10, 9). Người mục tử dẫn chúng ta đến chỗ an toàn và nghỉ ngơi. Chúng ta có thể vào qua cửa ra vào và gặp được sự an toàn và thư thái ấy.

5 THÁNG NĂM

Những Cành Nho Vươn Tới Mọi Thế Hệ

Để hiểu thực tại Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, chúng ta cần đọc lại biểu tượng cây nho và các cành nho một cách kỹ lưỡng – và cần nghiền ngẫm ý nghĩa của biểu tượng ấy trong đáy lòng mình. “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái – vì không có Thầy, anh em sẽ chẳng làm gì được.” (Ga 15, 5).

Những cành nho nói trên không chỉ tượng trưng cho các cá nhân, mà còn tượng trưng cho các dân tộc thuộc mọi thời đại và mọi thế hệ. Những cành nho ấy siêu vượt trên thời gian và trên cả sự chết, vì Dân Thiên Chúa đã được qui tụ trong Đức Kitô. Dân tộc vĩ đại này của Thiên Chúa tạo thành một thân thể nhờ Đức Kitô. Nhờ Người, với Người và trong Người, mọi dân tộc trở nên một – như những cành của một thân nho. Và cây nho này là một cấu trúc hữu cơ sống động cung cấp cho tất cả chúng ta một sự sống duy nhất trong Đức Kitô.

6 THÁNG NĂM

Nhà Trồng Nho Cố Vun Xới

Để Có Một Mùa Bội Thu

Trong kết hiệp với thân nho, mỗi cành đều có chỗ riêng của mình. Thật vậy, sự sống của Đức Kitô truyền tới mỗi cành nho và nuôi dưỡng nó. Khi Đức Kitô tuyên bố: “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là Người trồng nho”, Người cũng cho biết: “Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Ngài chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn” (Ga 15, 1 – 2).

Và Đức Kitô nói tiếp: “Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em” (câu 3). Khi nói “anh em”, dù sử dụng từ ngữ số nhiều, người cũng đang nhắm nói với từng người. Người đang nghĩ đến từng cành nho.

Người tiếp: “Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em” (câu 4). Rồi liền theo đó, Người xác nhận: “Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy”.

Khi nói “anh em”, Đức Kitô có ý chỉ “từng người trong anh em”. Và hình ảnh mà Người trình bày xoáy vào một thân nho duy nhất. Chỉ nơi Người, các cành nho mới nhận được sự sống. Và mỗi cành nho đều tìm được sự sống nơi Người. Cây nho có nhiều cành, nhưng “nhiều” ở đây không phải là một “mớ” hay “đống” tản mác rời rạc được chất lại với nhau. Mỗi cành nho đều được nâng đỡ bởi cây nho. Mỗi cành nho đều được gắn kết với cây nho bằng mối liên lạc độc đáo của riêng mình. mối quan hệ giữa từng người chúng ta với Đức Kitô cũng có tính biệt vị như thế. và qua mối quan hệ với Đức Kitô, chúng ta cũng được đi vào mối thông hiệp với Cha.

7 THÁNG NĂM

Chúng Ta Kiếm Tìm Sự Tự Do Đích Thực

Mùa Phục Sinh là mùa cử hành một cuộc hạnh ngộ riêng tư với Đức Kitô. Cũng như các Tông Đồ, chúng ta cảm nhận Đức Kitô Phục Sinh là một thực tại. Cử hành mùa Phục Sinh cũng chính là múc lấy nguồn sức sống vô giá cho mỗi người trẻ bước đi trong cuộc đời. Đức Giêsu khai mở cho ta nhìn thấy tương lai của mình và Người mời gọi chúng ta đón nhận tiếng gọi của Người bằng con mắt đức tin. Nơi Chúa Phục Sinh, chúng ta gặp gỡ sự tự do đích thực; vì trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã trao ban chính Ngài cho con người và cứu độ con người.

Thiên Chúa cứu chúng ta ra khỏi sự điêu vong, khỏi sự chết, khỏi tình cảnh thất vọng, khỏi những xáo trộn ngổn ngang, khỏi vòng cương tỏa của sự dữ.

Đức Kitô Phục Sinh đem ta về với sự thật và sự sống sung mãn bằng con đường vượt thắng tội lỗi. đó chính là sự tự do đích thực. Đức Kitô trở thành nền móng của sự tự do mới mẻ này. Mỗi bạn trẻ đã từng biết Đức Kitô đều được mời gọi sống triệt để sự tự do ấy bằng cả tâm hồn.

Các bạn trẻ không thể tiếp tục lãnh đạm với những giá trị lớn lao này – những giá trị mà định mệnh của nhân loại tùy thuộc vào đó. Các bạn trẻ không thể thụ động đối với xã hội hay đối với chính mình. Một khi người trẻ nhận hiểu được sự tự do đích thực, việc nhận hiểu đó sẽ đặt ra cho họ trách nhiệm và thôi thúc họ trao ban ý nghĩa đích thực cho mọi hành động của mình. Tự do không phải là một món đồ vật để có thể bị liệng bỏ đi – như rất nhiều thứ bị liệng bỏ đi trong xã hội tiêu thụ của chúng ta hôm nay. Đó là một đảm nhận có tính nền tảng, một tiếng gọi thúc bách chúng ta sống hết mình cho sự thật.

8 THÁNG NĂM

Một Tặng Phẩm Của Cuộc Phục Sinh 

Trong phòng tiệc ly, Đức Giêsu đã nói với các Tông Đồ về cuộc ra đi của Người và Người giải thích tại sao Người phải ra đi. “Nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em. Nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em” (Ga 16, 7).

Sau những lời ấy, Đức Giêsu chia tay với các môn đệ. Người từ giã thế giới này bằng một cách thê thảm nhất mà trí tưởng tượng người ta có thể hình dung: bị xét xử như một tên tội phạm, một kẻ gian manh, bị kết án tử và bị đóng đanh. Thật không có gì phải ngạc nhiên khi cuộc Thương Khó của Đức Kitô đã là nỗi hãi hùng của các Tông Đồ đến thế. Cứ theo suy nghĩ của loài người, thì đó là cả một nỗi ê chề thất vọng.

Nhưng rồi Đức Giêsu xuất hiện giữa họ, khai mở lòng trí họ để họ hiểu sứ mạng và mục đích của Người. Người khai mở tâm trí họ để giúp họ nhận ra Thánh Kinh hướng chỉ về Người như thế nào.

Song họ cần có Đấng Bảo Trợ, tức Chúa Thánh Thần, để giúp họ nhận hiểu trọn vẹn. Và kìa, Đức Kitô đã trao ban Thánh Thần cho họ – ngay trong ngày phục sinh, ngay cả trước khi “gửi” Thánh Thần đến vào dịp Lễ Ngũ Tuần. Người nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Như vậy, Thánh Thần đã được trao ban cho các Tông Đồ như là hoa trái của công cuộc cứu độ của Đức Kitô trên thập giá. Toàn bộ mầu nhiệm Vượt Qua được đóng ấn bằng tặng phẩm vĩ đại là Chúa Thánh Thần.

9 THÁNG NĂM

Ngài Đổi Mới Mọi Sự

Có một số nơi chốn đặc biệt mà chúng ta được dẫn tới để cảm nghiệm trong mùa Phục Sinh. Trước hết, đó là căn gác thượng ở Giê-ru-sa-lem. Căn gác thượng này đã trở thành nơi lẩn tránh cho các Tông Đồ; tại đó, Giáo Hội của những khoảnh khắc ban đầu phục sinh bắt đầu triển nở. Không lâu sau đó, căn gác ấy trở thành địa chỉ của một cuộc Xuất Hành mới – cuộc Xuất Hành của Dân Thiên Chúa trong giao ước mới đi vào thế giới. Tại nơi chốn thánh thiêng này, những lời của Sách Khải Huyền được ghi khắc: “Này đây, Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21, 5).

Căn gác thượng này vốn cũng là nơi đánh dấu cuộc chia tay của Đức Kitô. Thật hàm súc ý nghĩa sự kiện rằng sau khi Giu-đa rời khỏi phòng Tiệc Ly, Đức Giêsu đã cho biết bằng cách nào Thiên Chúa Cha sẽ được tôn vinh nơi Người. Người cũng nói về cách thế mà chính Người sẽ được tôn vinh. Những lời ấy được Người nói ra đúng lúc mà kẻ phản bội sửa soạn cuộc giao nộp Người trong vườn.

Theo suy nghĩ thường tình nhân loại, thì người ta không kỳ vọng một diễn từ như thế. Bởi tất cả những gì sắp sửa xảy ra – theo cách nghĩ của con người – quả là một sự phủ nhận vinh quang của Đức Kitô. Người bị lăng nhục và bị hành hạ! Nhưng, lời Đức Giêsu vượt quá sự nhận hiểu nhân loại. Chúng ta nhận ra trong những lời ấy mầu nhiệm thần linh của Đức Kitô.

Nơi thập giá Đức Kitô, Thiên Chúa được tôn vinh là tình yêu và sự thật, công lý và từ bi. Thiên Chúa Cha cũng đã tôn vinh Đức Kitô, và dấu chứng của sự tôn vinh này là cuộc phục sinh của Người vào ngày thứ ba. Đó là lý do tại sao Đức Giêsu đã nói những lời ấy tại bữa tiệc chia tay. Những lời thật bất bình thường song đồng thời cũng thật tràn trề một sự thật khác: sự thật cứu độ. Nói lên những lời ấy, Người đang đổi mới mọi sự.

10 THÁNG NĂM

Cơn Đau Sinh Nở Giáo Hội

Trong Mùa Phục Sinh, phụng vụ qui hướng đặc biệt về Sách Công Vụ Tông Đồ. Chúng ta dõi bước theo cuộc hành trình tông đồ của Phao-lô và Barnaba đến nhiều thành phố khác nhau trên khắp đế quốc Rô-ma – ở những nơi đó, Tin Mừng lần đầu tiên được công bố và Giáo Hội được khai sinh.

Sự phát triển từng bước ấy của Tin Mừng và của Giáo Hội chính là hoa trái của mầu nhiệm Vượt Qua đã diễn ra tại Giê-ru-sa-lem. Tất cả những sự kiện ấy – đều có mối gắn kết với căn gác thượng ngày nào – đã tiếp tục cùng một công cuộc cứu độ của Đức Kitô. Chúng ta nhìn thấy công cuộc cứu độ của Đức Kitô được xúc tiến xuyên qua hoạt động rao giảng Tin Mừng và xuyên qua đời sống Giáo Hội như được ghi lại trong Sách Công Vụ Tông Đồ.

Tất cả đã trở thành có thể – duy chỉ nhờ quyền năng của Đức Kitô Khổ Nạn và Phục Sinh và nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đấng được Người gửi đến. Các Tông Đồ nhắc chúng ta rằng chúng ta phải trải qua nhiều thử thách trước khi có thể bước vào triều đại của Thiên Chúa (Cv 14, 22). Đó là con đường mà Đức Kitô dã giới thiệu cho mọi Kitôhữu. Giáo Hội đang được khai sinh trong tâm hồn những con người môn đệ, trong những cộng đoàn mới, trong mọi nơi chốn mà Thánh Thần Chúa tác động. Giáo Hội đang được khai sinh và đơm hoa kết trái nhờ ở mầu nhiệm Vượt Qua vĩ đại là cái chết và cuộc phục sinh của Chúa. Giáo Hội vẫn được khai sinh như thế qua hàng bao thế kỷ. Và hôm nay, sau ngót hai ngàn năm, chúng ta vẫn gắn kết với di sản cuộc khai sinh mang tính cứu độ ấy của Giáo Hội.

11 THÁNG NĂM

Ơn Bình An Để Lại

Chúa Giê-su chuẩn bị cho các môn đệ Người đón nhận cuộc ra đi của Người. Người nói: “Thầy ra đi … Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đến cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy” (Ga 14, 28). Giáo Hội đọc lại những lời này khi đến gần ngày thứ bốn mươi sau cuộc phục sinh của Đức Kitô – tức ngày Lễ Thăng Thiên.

Tuy nhiên, Đức Kitô không chỉ nói: “Thầy ra đi”, mà thực tế Người còn nói: “Thầy trở lại với anh em”. Cuộc ra đi này chỉ đánh dấu sự kết thúc sứ mạng mê-si-a trên dương thế của Người. Cuộc ra đi ấy không phải là sự tách ly các môn đệ ra khỏi Đức Kitô. Sứ mạng mê-si-a của Đức Kitô kết thúc bằng sự kiện Chúa Thánh Thần đến và bằng cuộc khai sinh Giáo Hội.

Trong Giáo Hội, Đức Kitô luôn luôn hiện diện và không ngừng hoạt động bằng quyền năng của Thánh Thần. Người hướng dẫn chúng ta đi về nhà Cha. Sứ mạng của Giáo Hội là hướng dẫn mọi con người đi tới định mệnh chung cuộc này – định mệnh mà ai cũng được dành sẵn cho trong Thiên Chúa.

Như vậy, sự ra đi của Đức Kitô không hề gây hoang mang lo lắng. Ngược lại, đó là cả một sự bình an tràn trề. Người nói: “Thầy để lại bình an cho anh em; Thầy ban bình an của Thầy cho anh em” (Ga 14, 27). Hằng ngày chúng ta lặp lại những lời ấy trong phụng vụ Thánh Lễ trước khi hiệp lễ. Và Người thêm: “Lòng anh em đừng xao xuyến, cũng đừng sợ hãi … Thầy ra đi, và Thầy sẽ trở lại với anh em” (câu 27 – 28).

12 THÁNG NĂM

Mệnh Lệnh Cuối Cùng

“Mọi quyền hành trên trời và dưới đất đã được trao cho Thầy” (Mt 28, 18). Vào ngày thứ bốn mươi sau phục sinh, sự sống mới nơi Đức Kitô biểu hiện chiều kích thiêng liêng của nó vượt quá thời gian. Ngày Thăng Thiên, trọn vẹn uy quyền của Đức Kitô Phục Sinh đã được mở ra cho thấy. Đó là “uy quyền trên trời và dưới đất”. Sức mạnh và uy quyền đó, Đức Kitô đã có từ muôn thuở, vì Người là Con đồng bản tính với Chúa Cha. Giê-su Na-da-rét, trong tư cách là một con người, đã chiến thắng xuyên qua thập giá của Người; và Thiên Chúa Cha đã trao cho Người mọi quyền uy và sức mạnh. Quyền hành ấy đến từ sức mạnh cứu độ.

Và với quyền hành ấy, Đức Kitô đã trao cho các Tông Đồ mệnh lệnh cuối cùng của Người trên dương thế: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế!” (Mt 28, 19 – 20). Sứ mạng của các Tông Đồ là rao giảng Tin Mừng: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21).

Khi chúng ta nghe những lời ấy, những lời chứa đầy sức mạnh cứu độ của Đức Kitô, chúng ta nghĩ ngay đến Nhóm Mười Hai là những người đầu tiên đã nghe lệnh truyền ấy.

Nhưng chúng ta không thể tách rời mệnh lệnh này trong biến cố Thăng Thiên ra khỏi hoa trái của nó trong đời sống Giáo Hội và trong lịch sử của các quốc gia và các dân tộc. Hoa trái đó là sự cứu rỗi các linh hồn.

13 THÁNG NĂM

Một Nhịp Cầu Từ Lễ Phục Sinh

Đến Lễ Hiện Xuống

“Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Ngài là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Ngài sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu” (Ga 15, 26 – 27).

Giờ đây, chúng ta trở lại với những lời này của Đức Kitô. Và chúng ta trở lại với căn gác thượng ở Giê-ru-sa-lem, nơi mà những lời ấy được nói lên. Lời hứa ấy phải trở thành sự thật trong cùng căn gác thượng ấy, vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Lời của Đức Kitô dẫn chúng ta đi từ Lễ Phục Sinh tới Lễ Hiện Xuống. Những lời ấy như một nhịp cầu.

Chúa Thánh Thần không ngừng đến với các môn đệ của Đức Kitô như Đấng An Ủi được Chúa Cha sai đến. Ngài đến như Thần Khí sự thật để làm chứng về Đức Kitô.

14 THÁNG NĂM

Gặp Gỡ Với Thiên Chúa Hằng Sống 

Sứ mạng của Chúa Thánh Thần được liên kết với sứ mạng của Chúa Con. Một đàng, Thánh Thần sửa soạn cho toàn bộ sứ mạng cứu thế của Đức Kitô – và rút ra từ sứ mạng ấy một sự khởi đầu mới. Chúa Thánh Thần lại đến với chúng ta từ Thập Giá và Phục Sinh. Lời chứng của Ngài dẫn chúng ta vào mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Lời chứng ấy cũng giúp chúng ta hiểu về ơn cứu độ của mình. Giờ dây chúng ta biết rằng Thiên Chúa là tình yêu. Chúng ta biết rằng tình yêu của Thiên Chúa đã biến đổi con người và biến đổi thế giới: “Cho đến nay Cha tôi vẫn làm việc” (Ga 5, 17) – Đức Giêsu đã xác nhận với chúng ta như thế.

Công việc ấy của Chúa Cha – được hoàn chỉnh qua Chúa Con – là công việc được thực hiện trước mắt con người. Nó trở thành một phần trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Và những con người chứng kiến ấy – đặc biệt là các Tông Đồ – là những chứng nhân của Đức Kitô. Lời chứng của họ là lời chứng nhân loại, dựa trên những gì họ nghe thấy, xem thấy và tiếp xúc (1 Ga 1, 1); lời chứng ấy dựa trên sự gặp gỡ của họ với Thiên Chúa hằng sống.

Lời chứng nhân loại này xây dựng nên Giáo Hội ngay từ buổi khởi đầu – Giáo Hội hiểu như là cộng đoàn các môn đệ Đức Kitô. Đó là cộng đoàn đức tin chiêm ngắm mầu nhiệm vốn giấu ẩn nơi Thiên Chúa qua bao đời trước (Ep 3, 9). Vì thế, lời chứng nhân loại này của các Tông Đồ ngay từ trong gốc rễ được liên kết với lời chứng do Đấng An Uûi – tức Thần Khí sự thật – làm chứng về Đức Kitô. Lời chứng ấy cắm rễ trong Thánh Thần. Chính bởi xuất phát từ Thánh Thần mà lời chứng ấy có được năng lực biến đổi. Và năng lực biến đổi này đem lại cho người ta đức tin vào Đức Kitô.

15 THÁNG NĂM

Một Sức Thôi Thúc Hiến Trao Sự Sống 

Chúng ta trở lại với lệnh truyền của Đức Kitô trong ngày Thăng Thiên: “Hãy đi … và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” Chúng ta nhận ra âm vang mãnh liệt của tiếng gọi ấy nơi Tông Đồ Phao-lô: “Rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tôi tự hào, mà đó là một bổn phận bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9, 16). Rồi, ngài giải thích: “Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công; còn nếu tôi không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó.” (câu 17)

Như vậy, “khốn cho tôi” nếu tôi không rao giảng Tin Mừng, vì sứ mạng này được ủy trao bởi Đức Kitô phục sinh. Đó là giá mà Con Thiên Chúa đã trả cho con người. Chúng ta đã được mua với một giá đắt (cf. 1Cr 6, 20; 7, 23).

Những lời đanh thép ấy của Phao-lô cho chúng ta thấy sức mạnh của Đức Kitô Khổ Nạn và Phục Sinh quả thực lớn lao biết bao. Những lời ấy tiếp tục làm chứng cho năng lực của mệnh lệnh tông đồ được ban bố trước biến cố Thăng Thiên.

16 THÁNG NĂM

Tiếng Gọi Bước Tới Vinh Quang

Vào ngày thứ bốn mươi, “Người đã được đưa lên trời” (Cv 1, 2). Phụng vụ ngày lễ Thăng Thiên cử hành biến cố hồng phúc này. Nơi chốn thực sự của cuộc vinh thăng Đức Kitô không phải là trên mặt đất này mà là trong cung lòng Chúa Cha. “Lên trời” ở đây ám chỉ việc đi đến một nơi hoàn toàn khác với cõi trần gian.

Đó là sự hiệp thông hoàn toàn với Thiên Chúa – Đấng Thiên Chúa hiệp nhất Cha, Con và Thánh Thần. Đó là vị Thiên Chúa “làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1, 23), vị Thiên Chúa là “Cha vinh hiển”.

Nơi chốn của sự thông hiệp hoàn toàn với Thiên Chúa chính là nơi mà Đức Kitô được vinh thăng. Ở đó Người được tôn thờ trong tư cách là Con đời đời đồng bản tính với Cha, và là Chúa Tể của mọi loài đã được cứu chuộc. Thật vậy, Chúa Cha đã đặt tất cả dưới chân Người và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh – mà Hội Thánh là Thân Thể Người, là sự viên mãn của Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1, 22 – 23).

Đức Kitô, Chúa Tể của tạo vật đã được giải cứu, được tuyên dương nơi cuộc Phục Sinh và được vinh thăng nơi cuộc Thăng Thiên. Người tiếp tục hoạt động với chính quyền lực thần linh đã thể hiện nơi Người trong cuộc sống dương thế. Quyền lực này, được đóng ấn bởi mầu nhiệm phục sinh, dẫn dắt loài người và mọi tạo vật tiến đến vinh quang của Chúa Cha.

Hoa quả của quyền lực ấy là toàn bộ kho tàng vinh quang được kế thừa bởi các thánh. Quyền lực ấy cũng thể hiện một cách vô cùng lớn lao cho chúng ta là những tín hữu (Ep 1, 18 – 9). Vì thế, tính trang trọng của sự kiện Chúa Thăng Thiên nói với chúng ta về tiếng gọi bước tới vinh quang, tiếng gọi mà loài người và mọi tạo vật phải nhận ra nơi Thiên Chúa qua Đức Kitô – Đấng đã được đưa lên trời.

17 THÁNG NĂM

Một Vương Quốc

Không Thuộc Thế Giới Này

Trong bữa Tiệc Ly, Đức Kitô nói với các Tông Đồ một cách rất rõ ràng về việc Chúa Thánh Thần sẽ đến. Sau khi Người sống lại, Người lại nhắc lại lời loan báo và lời hứa ấy “về điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép Rửa trong Thánh Thần” (Cv 1, 4 – 5).

Rồi các Tông Đồ hỏi Người: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc It-ra-en không?” Các Tông Đồ vẫn tỏ ra không hiểu. Giống như những đồng bào Do Thái của các ông, các ông nghĩ rằng Đức Kitô sẽ cứu họ khỏi ách đàn áp chính trị.

Câu trả lời của Đức Giêsu: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt” (Cv 1, 7). Có những thời gian khác nhau trong lịch sử thế trần: những thời gian của các dân tộc và của các quốc gia, những thời gian của cầm quyền và những thời gian của suy vong. Nhưng ở đây Đức Giêsu đang nói đến một thời gian khác: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên anh em, và anh em sẽ là chứng nhân của thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Samaria và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1, 8).

Đức Giêsu đang đề cập đến một thời gian khác hẳn, một lịch sử khác hẳn, một vương quốc khác hẳn với vương quốc trần thế của It-ra-en. Thánh Thần sẽ đưa anh em ra khắp các phố phường của Giê-ru-sa-lem; và rồi sẽ sai anh em đi tới tận những chân trời góc biển xa xôi. Anh em sẽ rao giảng cho mọi dân tộc, mọi ngôn ngữ, mọi văn hóa, mọi lục địa.

Các thánh vịnh cũng nói lên cùng âm hưởng ấy: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả úy, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu. Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân” (Tv 47, 2 – 3. 9). Vương quốc vốn “không thuộc thế gian này” ấy lại được mặc khải một lần nữa trong những lời này. Chúng ta nhớ lại biến cố thăng thiên – trong đó Đức Kitô được tôn dương làm Vua cao cả trên các tầng trời.

Vương quốc ấy được nhận ra xuyên qua lịch sử của mọi dân tộc và mọi quốc gia. Nó được nhận ra nơi Đức Kitô trong tư cách là sự hoàn thành mọi sự.

18 THÁNG NĂM

Chúng Ta Không Bị Bỏ Mồ Côi

“Thầy sẽ xin Cha, và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác – để ở với anh em luôn mãi: đó là Thần Khí sự thật…” (Ga 14, 16 – 17). “Thầy sẽ không bỏ anh em mồ côi; Thầy sẽ đến với anh em” (Ga 14, 18).

Đức Giêsu nói những lời này để chuẩn bị cho các môn đệ đón nhận cuộc ra đi của Người khi sứ mạng mê-si-a của Người trên dương thế gần đến hồi kết thúc. “Thầy sẽ không bỏ anh em mồ côi; Thầy sẽ đến với anh em”, khi nói những lời ấy, Đức Giêsu muốn nói về những ngày sau phục sinh – tức 40 ngày mà Người sẽ tiếp tục trải qua với các môn đệ. Những lời đó, đồng thời, cũng nhằm hướng chỉ đến Chúa Thánh Thần.

Đức Kitô Phục Sinh không để các môn đệ Người “mồ côi”. Người không để Giáo Hội “mồ côi”. Thật vậy, Người trao cho chúng ta Thánh Thần.

19 THÁNG NĂM

Vị Khách Tuyệt Diệu

Của Linh Hồn Ta

Đức Kitô gọi Chúa Thánh Thần là “Đấng Bảo Trợ” khác – hay Đấng An Ủi – bởi vì, bằng một cách thế khác với cách thế của Đức Kitô, Chúa Thánh Thần cũng mang đến cùng một Tin Mừng cứu độ và ân sủng. Tất cả những gì đã được Đức Kitô mặc khải bằng lời nói và hành động – và đã xác nhận mạnh mẽ qua cuộc phục sinh của Người – cũng chính là công việc mà Thần Khí sự thật sẽ thể hiện. Thánh Thần sẽ ở lại mãi mãi với Giáo Hội như hơi thở của Chúa Cha và Chúa Con, như tặng phẩm từ trên cao, và như “vị khách tuyệt diệu của linh hồn con người”. Công Đồng Vatican II đã chỉ ra cho ta thấy công trình của Thánh Thần xuyên qua toàn thể lịch sử của Giáo Hội. Hoa quả của Thánh Thần là sự thật, tình yêu và ánh sáng. Những hoa quả này triển nở nơi con người nhờ hơi thở của Thánh Thần.

20 THÁNG NĂM

Một Lời Hứa Được Hoàn Thành

“Đấng Bảo Trợ – là Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy – Ngài sẽ dạy cho anh em mọi điều và sẽ nhắc anh em nhớ lại tất cả những gì Thầy đã nói với anh em” (Ga 14, 26). Đức Kitô thốt lên những lời này vào buổi chiều hôm trước khi Người bước vào cuộc khổ nạn và lãnh nhận cái chết thập giá, buổi chiều Người chia tay với các Tông Đồ. Chúng ta ôn lại những lời này trong Mùa Phục Sinh. Chính trong Mùa Phục Sinh mà lời hứa về Chúa Thánh Thần sẽ được hoàn thành trọn vẹn.

Ngay buổi chiều sau khi sống lại, Đức Kitô đã trao ban Thánh Thần cho các Tông Đồ tụ họp trong căn gác thượng. Người nói với họ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22). Người mang Thánh Thần – như một quà tặng – đến cho Giáo Hội. Chính Chúa Thánh Thần sẽ được mặc khải xung quanh các biến cố của Lễ Ngũ Tuần – cũng như trong tư cách là một quà tặng trao ban cho Giáo Hội. Trong những ngày này và những tuần lễ này, tất cả chúng ta được mời gọi cảm nghiệm đặc biệt về mối gắn kết giữa Lễ Phục Sinh và Lễ Hiện Xuống. Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa tiếp tục đổ tràn Thánh Thần của Ngài xuống trên Dân Ngài.

21 THÁNG NĂM

Di Sản Của Chúng Ta 

Đức Kitô nói với các Tông Đồ về Chúa Thánh Thần: “Ngài sẽ dạy cho anh em mọi sự và sẽ nhắc anh em nhớ lại tất cả những gì Thầy đã nói với anh em.” Giáo huấn tông truyền của Giáo Hội luôn luôn bắt rễ trong sự hiện diện năng động của Thần Khí sự thật. Chính Thánh Thần bảo đảm cho chân lý của Tin Mừng. Ngài canh giữ để đảm bảo rằng Giáo Hội sẽ chuyển trao từ thế hệ này sang thế hệ khác tất cả những gì Giáo Hội đã nghe được từ Đức Kitô.

Trong vai trò bảo vệ và hướng dẫn sự phát triển của truyền thống, Chúa Thánh Thần chính là nguồn mặc khải vô hình đối với Giáo Hội. Ngài sẽ “nhắc cho anh em nhớ” – như lời Đức Giêsu nói. Truyền thống là di sản của chúng ta. Truyền thống là “sự nhớ lại” tất cả những gì Đức Kitô đã nói với Giáo Hội: đó chính là toàn bộ di sản mặc khải và đức tin.

“Thánh Truyền và Thánh Kinh gắn bó mật thiết với nhau và liên lạc với nhau. Cả hai đều xuất phát từ cùng một nguồn mạch thần linh, vì thế – một cách nào đó – cả hai nối kết với nhau để tạo thành một thực thể và chuyển động về cùng một mục đích” (Hiến Chế MK 9). Trong Truyền Thống và trong Thánh Kinh, chúng ta gặp thấy sự hiện diện của Đức Kitô, vị Mục Tử Tốt Lành – một sự hiện diện xuyên suốt bao thế kỷ.

22 THÁNG NĂM

Trạng Sư Thần Linh

Của Chúng Ta 

Tông Đồ Gio-an nói với những người nhận thư thứ nhất của ngài bằng những ngôn từ chứa chan tình cảm – ngài gọi họ là “những người con bé nhỏ” và kêu mời họ tránh xa sự tội (1Ga 2, 1). Tuy nhiên, ngài cũng viết: “Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: Đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính. Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền tội, vì tội lỗi chúng ta – không những vì tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội lỗi cả thế gian nữa” (câu 1 – 2).

Qua những lời ấy trong lá thư được viết vào cuối thế kỷ thứ nhất của ngài, Thánh Gio-an công bố cùng một sự thật mà Phê-rô rao giảng chỉ ít lâu sau cuộc Thăng Thiên của Chúa. Đó là chân lý nền tảng về sự hoán cải và về ơn tha thứ nhờ năng lực của cái chết và cuộc Phục Sinh của Đức Kitô.

23 THÁNG NĂM

Đường Về Emmau

“Bấy giờ mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Họ mới bảo nhau: ‘Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24, 31 – 32). Là những con người thuộc thế hệ hôm nay tuyên xưng niềm tin vào Đức Kitô, chúng ta cần đạt cho được cùng một cảm nghiệm như hai môn đệ trên đường về Emmau ngày nào. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Giê-su giúp cho ta hiểu Kinh Thánh; hãy xin Người đốt nóng lòng chúng ta khi Người nói chuyện với chúng ta.

Tâm hồn chúng ta cần được đốt nóng lên. Vì đức tin không thể chỉ là những dữ kiện cứng ngắt, lạnh lùng được kiểm nghiệm bởi trí óc. Không, đức tin phải được làm cho nhạy cảm bởi tình yêu. Đức tin phải sống hoạt xuyên qua các công việc thiện hảo nơi chúng ta – những công việc khai mở chân lý của Thiên Chúa.

Cả chúng ta cũng thừa hưởng lời chứng từ các Tông Đồ – mặc dù chúng ta không phải là những chứng nhân trực tiếp của từ Đấng Phục Sinh. Chúng ta trở thành chứng nhân của Đức Kitô – bởi vì, đó là căn tính của mọi Kitôhữu.

24 THÁNG NĂM

Thiên Chúa Rọi Ánh Sáng Ngài

Trên Tội Lỗi Chúng Ta

Chúa Thánh Thần hoạt động như một nguồn ánh sáng soi chiếu tâm hồn, giúp tội nhân nhận ra tội lỗi của mình. Bao lâu con người còn khép mắt lại trước tội lỗi của mình, bấy lâu họ không thể được biến đổi. Thánh Thần soi rọi ánh sáng của Thiên Chúa trong linh hồn người ta, xét xử lương tâm người ta và làm cho tội nhân được giải phóng khỏi tình trạng mù tối vốn không cho họ thấy thân phận tội lỗi của mình. Đó là lý do tại sao những người tham gia vào vụ xử án Đức Giêsu (qua việc yêu cầu tử hình Người) đã bất thần khám phá ra rằng thái độ của họ là tội lỗi.

Thánh Thần cũng sản sinh lòng sám hối và thúc đẩy tội nhân xưng thú tội lỗi. Thánh Thần giúp chúng ta hiểu rằng ơn thứ tha của Thiên Chúa luôn có sẵn đó cho ta, nhờ lễ hy sinh của Đức Kitô. Ai cũng có thể nhận được ơn tha thứ đó. Chương 2 Sách Công Vụ Tông Đồ kể rằng sau diễn từ của Phê-rô, các thính giả đã hỏi: “Vậy thì chúng tôi phải làm gì đây?” Bằng cách nào tội nhân có thể quay lưng lại với tội lỗi? Không có con đường nào để vượt thoát ra được nếu ơn tha thứ bị đóng lại trước mặt tội nhân! Nhưng thực tế thì ơn tha thứ luôn rộng mở; và con người chỉ cần làm một việc là bước vào để lãnh nhận sự thứ tha. Thánh Thần làm dậy lên trong lòng người ta niềm tin tưởng vào tình yêu thứ tha của Thiên Chúa. Thánh Thần đưa dẫn người ta vào nẻo đường cứu rỗi trong Chúa Giê-su Kitô.

25 THÁNG NĂM

Giấc Mơ Xa Vời

Bỗng Thành Hiện Thực

Kể từ ngày Lễ Hiện Xuống, cuộc giao hòa của tất cả các dân tộc trong Thiên Chúa không còn là một giấc mơ xa xăm nữa. Cuộc giao hòa ấy đã trở thành hiện thực – và mở rộng không ngừng theo nhịp lan rộng của Giáo Hội mang trong mình Tin Mừng cứu độ. Chúa Thánh Thần, Đấng là Thần Khí tình yêu và hiệp nhất, hiện thực hóa mục tiêu của cuộc hiến thân cứu chuộc của Đức Kitô – bằng cách qui tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác về một mối.

Khi Thánh Thần hiệp nhất mọi người trở thành Dân Thiên Chúa, có hai điều quan trọng được ghi nhận rõ ràng. Bằng cách dẫn đưa người ta gắn kết với Đức Kitô, Thánh Thần đem họ vào trong mối hiệp nhất của Giáo Hội là Thân Mình Đức Kitô. Như vậy, Thánh Thần giao hòa con người với nhau trong tình huynh đệ – dù giữa họ có những nét khác biệt về địa dư và về văn hóa. Nói cách khác, Thánh Thần làm cho Giáo Hội trở thành một nguồn hiệp nhất và hòa giải. Hơn nữa, Chúa Thánh Thần hòa giải cả những người bên ngoài Giáo Hội – bằng một cách nào đó. Ngài khơi lên trong mọi người niềm khát vọng hiệp nhất sâu rộng hơn và Ngài thúc đẩy những cố gắng của người ta để họ vượt qua những mối xung đột ngổn ngang vẫn còn phân rẽ thế giới.

26 THÁNG NĂM

Tin Mừng Cho Mọi Người 

Bạn là tín hữu? Bạn hãy sống đức tin của mình và hãy chuyển trao đức tin cho con em mình. Hãy nêu chứng tá đức tin bằng chính cuộc sống. Bạn hãy yêu mến Giáo Hội như một hiền mẫu. Hãy sống trong Giáo Hội và vì Giáo Hội. Hãy dành chỗ cho mọi người trong trái tim bạn. Hãy thứ tha nhau và hãy gieo rắc hòa bình bất cứ nơi nào bạn có mặt.

Bạn không phải là tín hữu? Hãy tìm kiếm Thiên Chúa, vì Ngài đang kiếm tìm bạn đó!

Bạn đang gặp đau khổ? Hãy vững lòng. Vì Đức Kitô đã từng nếm cảm niềm đau; Người sẽ ban cho bạn sức mạnh để đương đầu với nỗi ê chề của bạn.

Bạn là người trẻ? Hãy làm một cuộc đầu tư tốt nhất cho cuộc đời mình, vì cuộc đời bạn là một kho tàng hết sức quí giá.

Và với tất cả mọi người, tôi sẽ nguyện chúc: Xin ân sủng Thiên Chúa đồng hành với các bạn trong mỗi phút giây của cuộc sống thường ngày.

Và xin đừng quên: Hãy ân cần đón nhận các trẻ thơ ngay từ khoảnh khắc đầu tiên của các em. Ước gì lời chào tốt lành từ ban sơ dành cho các em sẽ mở ra cho các em một cuộc sống tràn đầy ân phúc – đó là niềm mong mỏi của bạn, của tôi, và là niềm mong mỏi của toàn thể Giáo Hội.

27 THÁNG NĂM

Thánh Thần Đổi Mới

Bộ Mặt Trái Đất 

“Xin sai Thánh Thần Chúa đến để Ngài đổi mới bộ mặt địa cầu!” Phải chăng lời cầu nguyện ấy chỉ dành riêng cho các Tông Đồ? Chỉ dành riêng cho nhóm bé nhỏ những người liên kết trực tiếp với Đức Giêsu thuở ấy? Phải chăng lời cầu xin ấy chỉ dành riêng cho họ?

Không! Đó là lời cầu xin của cả trái đất này. Hết thảy mọi tạo vật, ngay cả dù không có lời lẫn không có tiếng, đều kêu lên: “Công trình Ngài, lạy Chúa, quả thiên hình vạn trạng!… Những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất … Nếu Chúa lấy sinh khí lại, là chúng tiêu vong ngay, và trở về cát bụi. Ngài gửi sinh khí tới, là chúng được dựng nên, và Ngài đổi mới mặt đất này” (Tv 104, 24. 29 – 30). “Chính Thần Khí mới làm cho sống” (Ga 6, 63). Chính Chúa Thánh Thần đổi mới bộ mặt địa cầu.

Xin sai Thánh Thần đến trên chúng con, lạy Chúa!

28 THÁNG NĂM

Nỗi Xao Xuyến

Không Ngừng Gặm Nhấm Tạo Vật

Con người có khả năng cầu nguyện. Vì thế, con người trở thành tiếng nói của mọi loài thụ tạo. Các Tông Đồ cầu nguyện với nhau và với Đức Maria trong căn gác thượng ở Giê-ru-sa-lem. Giáo Hội cầu nguyện nhân danh toàn thể mọi tạo vật.

Thật vậy, muôn loài đã bị lâm vào cảnh hư ảo (Rm 8, 20) do tội lỗi là cái chống lại Thần Khí trao ban sự sống. Và kìa, trước mắt chúng ta , con người đang đạt được những bước tiến bộ kỳ diệu trong các lãnh vực khoa học và kỹ thuật. Những thành tựu ấy đặc biệt mở ra cho thấy sự phong phú ẩn giấu trong tạo vật. Song nó cũng mở ra cho thấy sự tội đồn trú trong lòng con người và lan tràn ra các xã hội xét như một phần của lịch sử chúng ta.

Đó là lý do tại sao một nỗi xao xuyến đang dậy lên trong thế giới. Nhiều người sợ rằng thế giới tạo vật và mọi công cuộc của con người có thể còn lâm vào bế tắc hơn nữa – khi chúng ta kinh nghiệm những mối khủng hoảng và những đe dọa đang ngày càng gia tăng. Vì thế mọi tạo vật – xuyên qua lời cầu nguyện của mọi con người (hơn là xuyên qua các công trình của con người) – lên lời rên siết kêu nài. Thánh Phao-lô nói: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Ngài” (Rm 8, 19).

Chúng ta hãy cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho chúng con biết nói lên bằng mọi thứ ngôn ngữ của thế giới hiện đại – ngôn ngữ của văn hóa và văn minh; ngôn ngữ của sự đổi mới xã hội, kinh tế và chính trị; ngôn ngữ của công lý và giải phóng; ngôn ngữ của các hệ thống thông tin và của các phương tiện truyền thông đại chúng. Lạy Chúa, xin cho chúng con biết công bố khắp mọi nơi về bao công trình kỳ diệu của Chúa. Xin Thánh Thần Chúa tràn ngập trên chúng con! Xin hãy đổi mới bộ mặt địa cầu xuyên qua sự mặc khải vinh quang của con cái Ngài”.

29 THÁNG NĂM

Vinh Danh Chúa Ba Ngôi

Lạy Chúa Ba Ngôi, chúng con tôn vinh Chúa! Chúng con ca mừng tán dương Ngài, Đấng duy nhất trong thần tính. Chúa là Đấng duy nhất trong Ba Ngôi Thần Linh: một mầu nhiệm khôn dò! Ôi, Đấng duy nhất trong thần tính. Ôi, Đấng duy nhất trong mối hiệp thông ba ngôi vị cùng một bản tính thần linh! Chúng con ngợi ca vinh quang Chúa Ba Ngôi. Chúng con chúc tụng Chúa, “Đấng đang có, đã có, và sẽ đến” (Kh 1,4).

“Ngài là Thần Khí sự thật, khi Ngài đến, Ngài sẽ hướng dẫn anh em đến với sự thật trọn vẹn” (Ga 16, 13).

Vâng, khi Ngài đến, Ngài sẽ hướng dẫn anh em. Ngài không chỉ là Đấng đang có mà còn là Đấng sẽ tới; do vậy, Ngài sẽ đưa dẫn chúng ta tới gần sát hơn với mầu nhiệm sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Vốn vẫn hoàn toàn vượt trên chúng ta trong uy phong và dũng lực của Ngài, Thiên Chúa đã trở thành Thiên Chúa của ơn cứu độ cho chúng ta. “Và chúng ta đã nhìn thấy vinh quang của Ngài” (Ga 1, 14).

30 THÁNG NĂM

Công Cuộc Của Thiên Chúa Ba Ngôi

“Khi Thần Khí sự thật đến, Ngài sẽ tôn vinh Thầy, vì Ngài sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy; vì thế Thầy đã nói: Ngài sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16, 13 – 15).

Đức Kitô đã nói những lời đó vào buổi tối trước khi vào cuộc Khổ Nạn. Người đang nói về Chúa Cha, về chính Người, và về Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là Đấng “lấy từ Chúa Con” – trong sự hoàn thành nhiệm cục cứu độ. Ngài lấy những gì thuộc về Chúa Con và những gì – nơi Chúa Con – thuộc về Chúa Cha: “Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy”.

Từ Chúa Cha, qua Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần – đó là công cuộc sáng tạo. Từ Chúa Cha, qua Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần – đó là công cuộc cứu chuộc. Đó là công cuộc đổi mới thiêng liêng của tất cả những gì đã được tạo dựng. Bất luận cái gì được đổi mới trong Chúa Thánh Thần qua cuộc hy sinh của Chúa Con đều phải qui hồi về với Chúa Cha là Đáng Sáng Tạo. Và, như vậy, mọi sự đều tham dự vào sự sống. Thiên Chúa “không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống” (Mc 12, 27).

31 THÁNG NĂM

Một Tinh Thần Nhập Thể

Con người, được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, vừa là một hữu thể tinh thần vừa là một hữu thể thể lý. Con người được liên kết với thế giới chất thể xuyên qua nhân tính của mình, tuy nhiên con người cũng vượt trên thế giới chất thể – bởi vì con người là tinh thần. Con người là một ngôi vị. Chân lý này về con người là một phần của đức tin chúng ta. Thánh Kinh mặc khải rằng Thiên Chúa “tạo nên con người theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài”. Chân lý này về bản tính con người đã không ngừng được quyền giáo huấn của Giáo Hội chuyển đạt qua bao thế kỷ.

Chân lý về bản tính con người không ngừng được khảo cứu qua sự nghiên cứu của triết học hay của các khoa học nhân văn khác. Chúng ta có thể nhận thấy điều này trong nỗ lực nghiên cứu của khoa nhân loại học. Chúng ta thấy rằng con người là một tinh thần nhập thể, hay một tinh thần ở trong một thân xác. Hoặc ta cũng có thể nói rằng con người là một thân xác được khuôn hình trong một tinh thần bất tử. Một cách nào đó, có thể suy luận ra điều này bằng cách nghiên cứu trình thuật sáng tạo trong Sách Sáng Thế. Đặc biệt, chúng ta nên sử dụng trình thuật Gia-vít – là trình thuật có sử dụng những hình ảnh có tính nhân hình học (anthropomorphic). Trong đó, chúng ta đọc thấy: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2, 7).

Tác giả: Têrêsa Ngọc Nga
   dunglac@gmail.com