Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Cao Phương Kỷ, Lm
Bài Viết Của
Cao Phương Kỷ, Lm
Đoạn I: Tồng quát về thông điệp
Đoạn I: Quảng diễn một số đề tài qua nhãn quan Văn Hoá Việt Nam
Phần II của Thông Điệp: Hội Thánh như một "Cộng Đống Yêu Thương" thực hành bác ái
Những thực hành bác ái. Đàm Đạo, Chia Sẻ
Đời Sống Tâm Linh của Dân Việt.
Chia Sẻ Đàm Đạo: Làm Thế Nào Để Giúp Dân Nước Việt Tiến Bộ?
Lời Truyền Phép Thánh Thể:
Tôn Thờ Ngôi Lời Nhập Thể, Chúa Giêsu Kytô Con Thiên Chúa Nhân Vụ "The Da Vinci Code"
Thông Điệp “Thiên Chúa là Yêu Thương”
Khắc khổ và thần nhiệm
Cần truyền giáo bằng phương tiện truyền thông, báo chí và văn hóa.
ĐỨC GIÁO HOÀNG của DÂN CHÚNG (The People’s Pope)
NHỮNG THỰC HÀNH BÁC ÁI. ĐÀM ĐẠO, CHIA SẺ

( Bài số 04 , tiếp theo kỳ trước)

THIÊN CHÚA= TÌNH THƯƠNG

ĐẠO THIÊN CHÚA= ĐẠO TÌNH THƯƠNG 

ĐOẠN II. QUẢNG DIỄN MỘT SỐ ĐỀ TÀI Qua NHÃN QUAN VĂN HÓA VIỆT NAM 

(Phần II của Thông Điệp: Hội Thánh, như “Một Cộng Đồng Yêu Thương” Thực Hành Đức Bác Ái ) 

Nhiều Cơ Cấu để Phục Vụ Đức Bác Ái trong Bối Cảnh Xã Hội Ngày nay (số 30) 

-   Trước khi đề cập đến những Hoạt Động Bác ái riêng của Hội Thánh, ĐTC Bênêditô XVI luợc kê một số những Hiệp Hội đã được thành lập để tranh đấu cho cuộc chiến Công Bằng và Bác Ái trên toàn thế giới ngày nay.

a/ Nhờ Phương tiện Truyền Thông thu hẹp lại khoảng cách giữa các quốc gia dân tộc, tạo nên sự”gần gũi”, nhưng cũng gây nhiều xô đẩy, căng thẳng, và hiểu lầm. Nhờ kỹ thuật Truyền thông , chúng ta biềt được tức khắc nhanh chóng những nhu cầu và những đau khổ của thế giới về mọi phương diện tinh thần và vật chất. Do đó, những hoạt động Bác ái có thể và nên bao quát mọi người  và mọi nhu cấu.

Mặt khác,  tiến trình toàn cầu hóa, có nghĩa là chúng ta có nhiều phương tiện để viện trợ nhân đạo như thực phẩm, quần áo, nhà ở cho các anh chị em thiếu thốn. Toàn cầu hóa, nghĩa là vượt biên giới của các nước để liên đới với các nước khác, bằng cách giảm nợ, giảm thuế, hay cung cấp tài nguyên cần thiết.

b/ Ngày nay đã phát sinh nhiều cơ quan đoàn thể Đạo và Đời hợp tác với nhau. Những Hiệp Hội của Hội Thánh , vì trung thành với nhiệm vụ chứng nhân Tình Bác ái, nên đã giúp cho các cơ quan dân sự thêm hiệu lực hơn trong việc phục vụ. Rất nhiều Đoàn thể mang tính chất nhân đạo, nhiều đoàn Thiện Nguyện đảm trách nhiều công tác phục vụ. Thật đáng ghi ơn và ca ngợi những đoàn thể đó. Đặc biệt những Đoàn thể giúp Giới Trẻ đào luyện tình Liên đới, sẵn sằng hiến dâng của cải và bản thân để phục vụ tha nhân. Nhờ Tình Yêu vị tha của Văn Hóa sự Sống để đối chọi với sự nghiện ngập của văn hóa sự chết.

Trong Hội Thánh Công Giáo, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Vị Tiền Nhiệm, đã viết Thông Điệp:”Sollicitudo Rei Socialis”, nhằm cổ động tình Nhân Bản chân chính, nhìn nhận Con Người được tạo dựng giống hình ảnh Chúa, và muốn giúp Con Người sống đúng với phẩm giá. Thông Điệp” Ut Unum Sint”,  nhấn mạnh việc tôn trọng nhân quyền, và trợ giúp những người nghèo, thấp kém, bất lực.

 

Nét Đặc Sắc  trong các Hoạt Động Bác Ái của Hội Thánh (số 31)

- Tại sao nhân loại lập ra nhiều cơ quan đoàn thể đểu cứu trợ tha nhân khi gặp cảnh quẫn bách, như ta vẫn thấy trong thế giới ngày nay? –Bởi vì mệnh lệnh “Thương Người đồng loại” đã được Tạo Hóa khắc ghi trong tâm khảm con người, và nhờ Hội Thánh Thiên Chúa Giáo hiện diện trên địa cầu này, luôn cổ động  Mệnh lệnh này, thường bị coi nhẹ trong dòng thời gian. Hoàng đế Julianô đã là một bằng chứng về sức mạnh của Thiên Chúa Giáo vượt qua biên giới của Hội Thánh. Do đó, Hội Thánh cần bảo tồn vẻ huy hoàng của Đức Bác ái, vì đây không phải chỉ là cơ quan cứu trợ tầm thường. Vậy đâu là đặc điểm của Bác ái Thiên Chúa Giáo?

- a/ Theo gương sáng  trong dụ ngôn “người Samaritanô nhân hậu”, việc Bác ái phải đáp ứng lập tức đối với những hoàn cảnh đặc biệt như: nạn đói, trần trụi, bệnh tật, tù nhân, giam cầm. Cơ quan đầu não Bác ái CARITAS( cấp địa phận, quốc gia và quốc tế), cần thực hiện mọi kế hoạch để cung cấp tài nguyện, trên hết là các nhân viên có khả năng. Những nhân sự làm việc trong cơ quan Bác Ái này, phải là những chuyên viên thành thạo. Nhưng chưa đủ, vì liên hệ đến các nhân vị, nên các chuyên viên còn cần tấm lòng nhân đạo. hơn nữa, họ cần được huấn luyện để hiệp thông với Thiên Chúa trong Chúa Cứu Thế, để thức tỉnh Tình Thương và mở rộng tâm hồn hướng về tha nhân. Bởi vậy, Bác Ái Thiên Chúa Giáo không còn là một mệnh lệnh áp đặt từ phía bên ngoài, nhưng phát xuất từ Đức Tin sống động linh hoạt nhờ Đức Mến.

- b/ Bác Ái của Hội Thánh đứng độc lập với các phe nhóm và các ý thức hệ.  Hoạt động Bác ái không phải là phương tiện để thay đổi ý thức hệ , hay  để phục vụ một mưu lược trần gian này, nhưng là cách thế biểu lộ Tình Thương mà nhân loại cần, ở đây, bây giờ . Chủ thuyết Mác xít là một hình thức cực đoan nhất trong các triết thuyết, chủ trương kế hoạch bần cùng hóa: theo họ, trong  tình thế của một quyền lực bất công, việc thi hành Bác ái  là phục vụ cho hệ thống bất công đó, vì ít ra giúp tình cảnh đó đươc dễ chịu hơn. Vì thế, làm cho cách mạng chậm lại, và ngăn cản cuộc tranh đấu cho thế giới tốt đẹp hơn. Do đó, Bác ái được coi là cách để giữ “statu quo”( nguyên trạng).Đây là một triết thuyết vô nhân đạo( inhuman). Vì con người trong hiện tại phải bị sát tế cho thần “Môlốc” trong tương lai- Một tương lai mờ ảo chẳng biết bao giờ mới thực hiện được. Không thể có một thế giới nhân bản hơn bằng cách từ chối những hành vi nhân đạo, nhân ái, ở đây, bây giờ. Chương trình Bác ái của người tín hữu Thiên Chúa Giáo- của người Samaritanô nhân hậu- của Chúa Cứu Thế là: “Một trái tim biết nhìn thấy”. Trái tim nhìn thấy ở đâu cần Tình Thương thì hành động ngay. Dĩ nhiên, khi Hội Thánh hoạt động  Bác ái với tư cách là sáng kiến của một cộng đồng, thì sự đáp ứng  tự phát từ các cá nhân phải được phối kết trong một kế hoạch, dự liệu và hợp tác với các tổ chức tương tự.

- c/ Hoạt động Bác Ái không được coi là phương cách để kiếm thêm tín đồ. Tình Thương  là quà tặng nhưng không, không được dùng làm phương tiện để đạt một mục tiêu khác. Nói như thế không có nghĩa là: mọi hoạt động Bác ái phải gác Thiên Chúa và Chúa Cứu Thế ra một bên. Vì cần phải luôn luôn quan tâm đến con người toàn diện. Do đó,  nguyên do sâu xa nhất  sinh ra đau khổ là vì  thiếu sự hiện diện của Thiên Chúa. Những ai nhân danh Hội Thánh mà hoạt động việc Bác ái, không được  tìm cách áp đặt Đức Tin của Hội Thánh lên người khác. Nên nhớ rằng: một Tình Thương tinh tuyền, quảng đại là chứng tá tốt nhất cho Thiên Chúa  là Đấng chúng ta tin thờ và khiến chúng ta yêu mến tha nhân. Người tín hữu biết lúc nào nên nói về Chúa, khi nào không nói gì là tốt hơn, để cho Tình Thương lên tiếng mà thôi. Họ biết Chúa là Tình Thương(1 Gioan, 4:8), và cảm thấy Chúa hiện diện, chính là lúc ta chỉ làm vì Tình Yêu. Trở lại vấn nạn Mác Xít đã đề cập ở trên, ai khinh thị Tình Thương, thì cũng khinh dể  Thiên Chúa, và cả con người nữa; do đó, hành động mà bất cần Thiên Chúa. Bởi vậy, Yêu Thương là cách tốt nhất để bảo vệ niềm Tin nơi Thiên Chúa, và nơi con người. Các cơ quan Bác ái của Hội Thánh phải tăng cường ý thức này  nơi các nhân viên, để họ dùng hành vi- lời nói, sự im lặng, gương sáng- làm chứng tá khả tín cho Chúa Cứu Thế.

 

- Đối với những người có trách niệm làm việc Bác ái trong Hội Thánh (32-39)     

- Chủ thể chính thức của mọi cơ quan, tổ chức Hoạt động Bác ái  Công Giáo, chính là Hội Thánh.(32)

Ở mọi bình diện, từ cấp Giáo xứ, Giáo phận đến Hội Thánh toàn cầu, mọi hoạt động Bác ái đều do Hội Đồng Giáo Hoàng Đồng Tâm”COR UNUM” chỉ dẫn và phối trí các tổ chức.- Theo cơ cấu tổ chức của Hội Thánh, căn cứ vào Sách Tông Đồ Công Vụ(2:42-44), Các Vị Giám Mục , là những vị Thừa Kế của các Thánh Tông Đồ, có trách nhiệm đầu tiên về Hoạt động Bác ái trong Giáo phận. Trong quá khứ hay hiện tại, Hội Thánh vẫn coi mình là một Gia Đình, các phần tử cần được giúp đỡ lẫn nhau, và cùng nhau sẵn sàng  giúp những người ở ngoài nữa.- Đọc sách Lễ Truyền chức Giám Mục, sẽ thấy khi nhận chức, các vị Giám mục phải cam kết , nhân danh Chúa, giúp đỡ người nghèo, người cần sự an ủi. Trong Giáo Luật cũng nhắc nhở các Giám Mục trách nhiệm điều hợp các hoạt động  tông đồ khác nhau. Mới đây, cuốn Kim Chỉ Nam về Thừa Tác Vụ của các Giám Mục đã khám phá ra: bổn  phận thực thi Bác Ái là trách nhiệm của Hội Thánh và của từng Giám Mục Địa Phận. Cần nhấn mạnh rằng: từ khởi thuỷ, sứ mệnh của Hội Thánh là: thi hành  Bác ái,  giảng Lời Chúa và ban Nhiệm Tích.

- Các Nhân Viên, Nhân Sự hoạt động Bác ái trong Hội Thánh, phải được hường dẫn bởi Đức Tin thúc đẩy bởi Đức Mến(coi: Thư gửi Galata,5:6),  không được tìm cảm hứng nơi những ý thức hệ nào muốn cải biến thế giới này. Phải tâm niệm lời Thánh PhaoLô Tông Đồ trong Thư 2, gửi Côrintô:” Tình Yêu Chúa Kytô thôi thúc chúng ta”(5:14).Do đó, họ là những người được Tình Yêu Chúa thúc đẩy, chinh phục, và thức tỉnh trong họ tình Yêu tha nhân. Cần ý thức rằng: nơi Chúa Cứu Thế, Thiên Chúa đã ban chính Mình cho chúng ta, dầu phải chết, nên chúng ta cũng phải sống cho Chúa , với Chúa và cho tha nhân, không còn cho chính bản thân mình nữa. Ai yêu mến Chúa Kytô, thì cũng yêu mến Hội Thánh , và ước ao Hội Thánh  tăng trưởng về hình ảnh và dụng cụ Yêu Thương  từ nơi Chúa chảy ra. Mỗi nhân viên trong tổ chức Bác ái muốn hoạt động với Hội Thánh, và với Vị Giám Mục, để Tình Thương của Chúa lan rộng khắp thế giới. Họ muốn làm Chứng tá Tình Thương của Thiên Chúa và của Chúa Kytô, vì thế họ tự do làm điều thiện hảo cho mọi người.

- Cộng Tác, Hòa Hợp với các Tổ Chức Phục vụ khác (số 34)

Tuy nhiên, các nhân viên thuộc Tổ chức Bác ái của Hội hánh cần tôn trọng nét đặc thù của người môn đệ Chúa, như Thánh Phao lô đã viết trong bài Tán Tụng Đức Bác Ái(1 Cor, 13): “ Nếu tôi cho đi mọi của tôi có, nếu thân xác tôi bị thiêu, nhưng tôi không có Đức bác Ái, thì tôi chẳng được gì cả(câu 3). Bài Tán Tụng  này phải là Magna Carta (Hiến Chương) của mọi công tác phục vụ trong Hội Thánh, cũng là những suy tư trong Thông Điệp này. Chỉ hành động mà thôi không đủ, nhưng phải biểu lộ rõ ràng Tình Yêu tha nhân, một Tình Yêu được nuôi dưỡng vì kết hợp gặp gỡ với Chúa Kytô. Chia sẻ những nhu cầu hay đau khổ với tha nhân, chính là chia sẻ chính bản thân mình với họ: Nếu ban cho mà không hạ nhục người lãnh nhận, là khi tôi cho tha nhân chẳng những của cải tôi có, mà còn cho họ chính bản thân; tôi phải hiện diện, hiện thân nơi quà tặng nữa. 

- Khiêm Tốn trong khi Phục Vụ Tha Nhân (35)

Người phục vụ không được coi mình hơn người cần giúp đỡ, dầu họ khổ cực đến đâu. Chúa Cứu Thế đã chọn chỗ thấp hèn nhất-Cây Thập Tự- nhờ sự khiêm hạ nhất để cứu chuộc chúng ta và  cứu giúp chúng ta. Nên nhớ rằng: kẻ giúp đỡ cũng là  kẻ được giúp đỡ; có khả năng giúp đỡ tha nhân, không phải là một công trạng của chính mình tạo ra. Bổn phận giúp đỡ là một ân huệ( Chúa ban). Càng giúp đỡ tha nhân, thì càng am hiểu lời Chúa Cứu Thế dạy:” Chúng ta là những đầy tớ vô dụng”(Luca, 17:10). Ta nhìn nhận rằng: ta không hơn ai, hay hiệu năng hơn ai, nhưng vì Chúa ban ơn giúp sức cho ta làm. Nhiều khi, vì những nhu cầu đòi hỏi quá giới hạn, quá khả năng, khiến chúng ta nản lòng, thất vọng. Chính lúc ngặt nghèo đó, ta nhận thấy ta chỉ là dụng cụ trong tay Chúa; nhận thức này gỡ ta khỏi thói tự phụ nghĩ tưởng rằng: chỉ mình ta có trách nhiệm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Với lòng Khiêm Hạ, hãy làm điều gì ta có thể làm được, và với lòng Khiêm Nhường, ta phú thác mọi sự cho Chúa. Chính Chúa cai quản thế giới, không phải chúng ta. Ta hiến dâng cho Chúa công việc phục vụ, bao lâu ta có khả năng, và Chúa cho đủ sức làm. Vì đó là nhiệm vụ của người đầy tớ trung tín của Chúa phải làm:” Tình Yêu Chúa Kytô thúc bách chúng ta”(2 Cor,5:14)

 

- Hai Thái Độ Cực Đoạn, trước những Nhu Cầu lớn lao của thế giới: (số 36)

Một là, ta bị lôi cuốn bởi ý thức hệ muốn thay quyền cai quản của Chúa, để làm mọi việc, vì hình như Chúa không muốn làm; hai là, chúng ta bất động, đầu hàng, cho rằng chẳng có thể hoàn thành được. Trong những hoàn cảnh ấy, mối tình giao hảo với Chúa Kytô rất cần, giúp ta đi đúng đường  hướng, không khinh miệt con người, một thái độ thiếu xây dựng, lại còn phá hoại, và không đầu hàng, cam phận, không để cho Tình Yêu hướng dẫn để phục vụ tha nhân.

- Cầu Nguyện rất cần thiết, vì là phương thế giúp đem lại nghị lực mới từ nơi Chúa ban cho. Cầu Nguyện không làm mất thì giờ, ngay khi tình thế có vẻ nguy ngập, chỉ cần hành động mà thôi. Tâm tình Đạo Đức không  phá hoại công cuộc chống nghèo đói của tha nhân, dầu nguy khốn đến đâu. Gương Mẹ Chân Phước Têrêsa thành Calcutta cho biết: Cầu Nguyện không giảm bớt hiệu năng Phục vụ  tha nhân, nhưng còn là nguồn bất tận sinh ra các công việc Bác ái.

- Cầu Nguyện Chống lại chủ nghĩa Duy Hành Động và chủ Thuyết Tục hóa đang lan tràn.(số 37)    

Nên nhớ rằng: Cầu nguyện không có nghĩa là có thể thay đổi chương trình kế hoặch của Chúa đã tiên liệu, xếp đặt. Cầu nguyện chính là tìm gặp gỡ với Chúa Cha của Chúa Giêsu Kytô, để xin Thiên Chúa hiện diện với sự an ủi của Chúa Thánh Thần cho ta và trong công việc của ta làm. Tình giao hảo với Chúa và phú thác theo Thánh Ý Chúa, có thể ngăn ngừa ta khỏi hạ phẩm giá con người, đồng thời cứu ta khỏi làm mồi cho tà thuyết cuồng tín và bạo động, khủng bố. Tâm tình Đạo Đức chân chính giúp ngăn cản việc  xét đoán Chúa, cho phép sự bần cùng xẩy ra, và thiếu lòng thương xót đối với tạo vật. Người ta lên án Chúa để bênh vực con người, nhưng khi chính những hành động của con người  tỏ ra bất lực, vô hiệu, thì còn  lấy ai nữa mà nương tựa?

 

- Trước những Đau Khổ khó hiểu, có vẻ phi lí, hãy noi Gương Ông Gióp (38)

-Hãy đọc những lời than khóc của Ông Gióp trong Sách Kinh Thánh (coi: Job, 23:3, 5-6, 15-16).Nhiều khi chúng ta không hiểu tại sao Chúa lại không can thiệp? Nhưng Chúa không cấm ta than thở như Chúa Giêsu trên Thánh Giá:” Lạy Chúa, Lạy Chúa sao Chúa nỡ bỏ con?”(Matt 27:46). Chúng ta cứ tiệp tục thưa cùng Chúa trong lúc cầu nguyện trước Nhan Thánh Chúa:” Lạy Chúa, Thánh Thiện và Chân Thật, còn bao lâu nữa?(Rev 6:10).

- Thánh Au Cơ Tinh cho ta câu giải đáp theo lòng Tin đối với những sự đau khổ:”Nếu bạn hiểu được Chúa, thì Chúa không còn là Chúa nữa”( Si comprehendis, non est Deus).Những lời ta phân trần với Chúa không có nghĩa là ta thách thức Chúa, hay nơi Chúa có sự sai lầm, nhược điểm, vô tâm nào.Vì đối với một tín hữu, không thể tưởng tượng là Chúa nhu nhược hay “có lẽ Chúa đang ngủ”( 1 King 18:27). Trái lại, lời ta đang than thở, cũng như khi xưa Chúa Giêsu, trên Thánh Giá, chính là cung cách sâu xa nhất, triệt để nhất để quả quyết niềm Tin vào Uy Quyền tối Thượng của Chúa. Dầu có ngỡ ngàng, không hiểu thấu những gì xẩy ra chung quanh chúng ta, người tín hữu vẫn một niền Tin vào”Tình Thương Xót, Tốt Lành của Chúa”(Tit 3:4). Như mọi người chìm đắm trong cảnh hỗn tạp đau thương của các biến cố Lịch Sử, người tín hữu vẫn vững niềm tin rằng Chúa là Cha chúng ta, Chúa yêu thương chúng ta, dầu ta không hiểu được sụ im lặng của Chúa.

- Ba Nhân Đức cùng hòa hợp: TIN,CẬY, MẾN (39)

Nhân Đức CẬY là: qua việc luyện tập Đức Kiên Nhẫn, ta vẫn tiếp tục làm điều thiện, dầu bị thất bại; nhờ thực hành Đức Khiêm Nhường, ta  đón nhận Mầu Nhiệm nơi Chúa, và phú thác cho Chúa lúc ta sống trong đen tối. – Nhân Đức TIN dạy ta rằng Chúa đã ban Con Một Chúa để cứu chuộc chúng ta, và ban cho chúng ta sự xác tín vinh thắng rất chân thật là: Thiên Chúa là Tình Thương. Do đó, nó cải biến sự nông nổi, thiếu kiên trì và lòng hoài nghi của chúng ta  thành niềm Hy Vọng  vững vàng rằng: Chúa nắm vũ trụ này trong Bàn Tay Chúa, và như hình tượng hãi hùng trong đoạn cuối của sách Khải Huyền diễn tả, mặc dầu tối tăm mù mịt bao phủ, cuối cùng Chúa sẽ chiến thắng vẻ vang. Đức TIN nhìn thấy Tình THƯƠNG Chúa tỏ hiện nơi Trái Tim Chúa bị đâm thâu qua trên Thánh Giá, khiến ta Yêu Mến Chúa. Đức MẾN là ÁNH SÁNG.- cuối cùng, chỉ có ÁNH SÁNG mà thôi- có thể chiếu sáng thế gian mờ tối, và ban cho ta lòng can đảm để tiếp tục sống và hành động. Tình THƯƠNG có thể thực tập được vì chúng ta được tạo dựng giống hình ảnh Chúa. Cảm nghiệm được Tình THƯƠNG như thế, sẽ đem ánh sáng của Chúa chiếu soi vào thế giới- Đây là lời Mời gọi tôi muốn quảng diễn trong THÔNG ĐIỆP này.  

 

KẾT LUẬN (40-42)

Gương các Vị Thánh Nhân (số 40)

-Thánh Martin Thành Tours (+397) là một cựu binh sĩ, làm tu sĩ rồi làm Giám mục; Thánh nhân giầu lòng Thương người. Một hôm, tại cổng thành Amiens, Ngài gặp một người nghèo, liền cắt mảnh áo choàng làm đôi chia cho người ấy một nửa. Chúa Giêsu hiện ra trong giấc mơ, khoác nửa tấm áo đó và nói:” Ta mình trần, con đã mặc cho Ta..như con đã làm cho một người hèn mọn, thì cũng như làm cho Ta”( Mat, 25:36,40). Trong Lịch Sử  Hội Thánh biết bao chứng tá về Bác ái! Phong trào “Tu Rừng” do Thánh Antôn khởi xướng(+356). Trước Tôn Nhan Chúa, là Chúa của Tình Thương Xót, các vị Ẩn Tu nhận thấy những nhu cầu thúc bách, nên đã hiến thân hoàn toàn lo phục vụ Chúa và tha nhân. Do đó, chung quanh các Tu Viện, là những cư xá tiếp khách, đón rước  người tàng tật, các bệnh nhân. Sự kiện lịch sử này giải nghĩa muôn vàn những sáng kiến khác nhằm lo lắng cho hạnh phúc của con người, và đào tạo các tín hữu quan tâm đặc biệt đến người nghèo khổ, cùng kiệt. Đó là dối tượng của việc thành lập các Tu Viện, Dòng Anh em Khất Thực(mendicant Orders), và về sau, sáng lập các Tu Hội Nam, Nữ trong Hội Thánh. Chỉ cần nêu danh một số Thánh Nhân đã đem Ánh Sáng Đức Tin, Cậy, Mến vào thế giới, như: Thánh Phanxicô Assisi, Ignatiô Loyola, Gioan Thiên Chúa, Camilô Lellis, Vinh Sơn, Louise Marillac, Giuse B. Cottolengo, Gioan Boscô, Luigi Orione, Têtrêsa Calcuta…

 

Gương  Thánh Thiện Tuyệt Vời của Mẹ MARIA, Mẹ Chúa Cứu Thế(41)

-Những  tâm tình, hành vi cử chỉ thấm nhuần Đức Bác Ái của Mẹ MARIA, được ghi lại trong Sách Phúc Âm như:

- Viếng thăm, giúp đõ Bà Chị họ Isave, trong thời kỳ mang thai Thánh Gioan Tiền Hô( Luca, 1:56)

- Kinh “MAGNIFICAT”:  Mẹ Maria thốt lên lời ngợi khen Chúa:” Linh Hồn tôi ngợi khen Chúa”( Magnificat anima mea Dominum). Đây là Bài Ca tuyệt diệu, toát yếu tâm tình và chương trình hành động của đời sống của Mẹ. Ta sẽ sẽ thấy những nét đặc biệt như:

- Mẹ rất khiêm nhu, không coi mình là tâm điểm của đời sống, nhưng chính Chúa là Đấng phải ca ngợi, trong khi cầu nguyện và phục vụ tha nhân. Mẹ chỉ là “phận nữ tỳ”, vâng theo Ý Chúa( Luca,1:38.48) 

- Mẹ  là người Phụ Nữ của Niềm Hy Vọng: Mẹ hoàn toàn cậy trông vào những Lời Chúa Hứa ban , như lời Thiên Thần truyền tin. Do đó, Mẹ cũng là người Phụ Nữ của Niềm Tin, như lời Bà Thánh Isave nói: “Phúc cho Chị vì Chị đã tin”( Luca, 1:45)

- Mẹ là người am hiểu và thấm nhuần “LỜI CHÚA”, trong Kinh Thánh. Kinh Magnificat chứng tỏ: Mẹ suy gẫm Lời Chúa trong Kinh Thánh, trưng dẫn Lời Chúa trong Kinh Nguyện. Mẹ thật xứng đáng là Mẹ “Ngôi Lời Nhập Thể”

-Mẹ là người Phụ Nữ biết YÊU THƯƠNG. Mẹ tin những điều Chúa dạy, ước muốn làm theo Ý Chúa, làm sao Mẹ lại không Yêu Mến Chúa? Mẹ sống thầm lặng, kín đáo khi nhận thấy nhu cầu của đôi vợ chồng trẻ trong tiệc cưới Cana, sống trong “hậu trường”, khi Chúa Cứu Thế công khai đi rao giảng. Nhưng khi Giờ Chúa đến, khi các môn đệ chạy trốn, thì Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá( Gioan,19:25-27). Và Ngày CHÚA THÁNH THẦN Hiện Xuống , thì Mẹ hiện diện với các môn đệ (Công Vụ, 1:14)

- Đời Sống của các Thánh Nhân, ở trần gian, và sau khi chết, ở cùng Chúa, hành động với Chúa.(số 42)

- Một điều thật hiển nhiên rõ ràng: các Thánh Nhân ở gần Chúa hơn, nhưng không xa cách nhân loại, mà vẫn còn gần gũi với chúng ta. Điều này thật đúng khi chúng ta hướng về Mẹ Maria. Khi chết trên Thánh Giá, Chúa Giêsu đã trối Mẹ cho Môn đệ Giaon-qua người môn đệ này-cho tất cả các môn đệ của Chúa Giêsu:” Này là Mẹ con”( Gioan,19:27)

- Bởi vậy, mọi người nam, nữ, mọi nơi mọi lúc, đều chạy đến nương nhờ tình Mẫu tử dịu hiền, thanh khiết, diễm phúc, trong mọi hoàn cảnh thiếu thốn, ước nguyện, vui, buồn, cô đơn, mọi dự tính kế hoạch. Ai cũng nghiệm thấy lòng từ ái, ban ơn, giúp đỡ của Mẹ. Lòng tri ân của mọi dân mọi nước trên thế giới đối với Tình Yêu Thương từ ái, hoàn toàn vị tha, không vị kỉ của Mẹ. Lòng Sùng kính Mẹ trên thế giới chứng tỏ một điều chân nhận không sai lầm này: Tình Yêu Thương đó có thể xẩy ra được, vì là kết quả của sự kết hiệp thân mật với Chúa, và linh hồn được thấm nhuần trong Tình Yêu Thương của Chúa; và nhờ đó, linh hồn trở nên nguồn mạch nước, “Tuôn tràn sông nước hằng sống”(Gioan,7:38).

Lạy Mẹ Maria, Đồng Trinh, Từ Mẫu, xin tỏ cho chúng con biết Yêu Thương là gì, và từ đâu Tình yêu Thương bắt nguồn và luôn canh tân sức mạnh. Chúng ta phú thác Hội Thánh  và sứ mệnh trong sự phục vụ Tình Thương của Hội Thánh cho Mẹ.

Ban hành ở Roma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 25, tháng Chạp năm 2005, Lễ Chúa Giáng Sinh, Thông Điệp thứ nhất thời làm Giáo Chủ Hội Thánh Công Giáo.

 

  Qua NHÃN QUAN VĂN HÓA VIỆT NAM

- Vấn Đề: ‘Tình Yêu Thương Vô Cùng của Thiên Chúa và những Đau khổ Trần gian”,  luôn luôn ám ảnh tâm trí con người, đặc biệt nơi các nhà Tôn giáo,  hiền triết Đông –Tây, kim- cổ. Làm sao dung hòa được hai sự kiện không thể chối cãi được: một bên là Tình Thương vô biên của Đấng Tạo Hóa, và bên kia là những đau khổ vật chất, tinh thần của con người, từ khi sinh ra cho đến khi nhắm mắt lìa đời:”Sinh, Bệnh, Lão, Tử”(Phật Giáo). Ngoài những thiên tai như: bão lụt( Katrina, Chan chu), Sóng thần, Động đất, núi phun lửa(Indonesia), ,nhưng còn biết bao những đau khổ do con người tạo ra như: chiến tranh, vũ khí hạt nhân, khủng bố, buôn bán trẻ gái, phụ nữ….

1/- Trước những đau khổ lớn lao, vượt quá sức chịu đựng, người ta thường phản ứng bằng hai thái độ: Một là thái độ tiêu cực: phàn nàn số phận hẩm hiu, không may mắn,  không thể cắt nghĩa,  không hiểu được, ngoài tầm tay, cuối cùng : từ chối sự hiện hữu, và Tình Thương vô cùng của Thiên Chúa. Nhưng trong thực tế, thái độ tiêu cực này không giài quyết được tình trạng đau khổ, lại còn tăng thêm  mối “tuyệt vọng”, vì không còn tin tưởng vào một Quyền Lực siêu việt nào có thể cứu  giúp, an ủi trong cơn thử thách. Đúng như lý luận trong Thông Điệp của ĐTC Bênêditô XVI: Nếu không tin có Thiên Chúa,  mỗi khi con người hoàn toàn chịu bó tay, bất lực trước những đau khổ quá lới lao, lúc ấy,  thử hỏi: con người còn  ai nữa mà  nương tựa, trông cậy?

 

“ Không có Trời, ai ở với ai?" (tục ngữ Việt Nam)

2/-Hai là, thái độ Tích cực: Con người làm hết sức mình với khả năng Chúa ban cho, còn mọi sự PHÚ THÁC nơi Tình Thương Xót Chúa. Thái độ siêu nhiên như Cầu Nguyện với Niềm Tin, Cậy, Mến, vâng theo Thánh Ý Chúa, noi Gương Chúa Giêsu, hấp hối trên Thánh Giá,  Đức Mẹ Maria đứng dưới chân Thánh Giá,  và các Thánh Nam Nữ, sẽ giúp ta tăng sức mạnh tinh thần trong cơn hoạn nạn. Cầu Nguyện và Niềm Tin rất cần thiết để nhân loại biết thống hối, nhận ra sự tàn ác, bạo lực, chiến tranh, lò thiêu người tại Auschwitz-Birkenau, là do  trái tim vị kỉ, hận thù gây ra. Cầu Nguyện để Chúa biến đổi và ban cho con người một TRÁI TIM mới, “cất khỏi con người một Trái Tim bằng đá, và ban cho con người một Trái Tim bằng thịt”(Eze, 36:26). Con người hữu hạn, chúng ta chỉ có thể hiểu được một phần nào Ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa, trước những thiên tai lớn lao. Như lời Kinh Thánh khuyên nhủ: Chúa không ở trong Lửa, Chúa không ở trong Nước, nhưng Chúa ngự trong Tâm Trí con Người . Bởi vậy, con người cần dùng khả năng trí thức Chúa ban để nghiên cứu về khoa học khí tượng, sẵn sàng “Chuẩn bị, đề phòng”(Preparedness”, như hiện nay tại miền bão lụt NewOrleans, Hoa kỳ), và Cứu trợ ( Hội Hồng thập tự quốc tế, quốc gia, Fema v.v), các nạn nhân trên thế giới, không phân biệt quốc gia, tôn giáo, khi thiên tai xẩy đến.

“Dù ai nói ngược nói xuôi,

Ta đây cứ vững Đạo Trời khăng  khăng”

3/- Ngoài ra, cần học hỏi những tư tưởng quí giá, hữu ích của Thông Điệp này:”Deus Caritas est”, để mỗi phần tử trong Hội Thánh ý thức bổn phận giúp đỡ lẫn nhau, phần hồn và phần xác, bằng mọi hoạt động Bác ái, từ thiện, xoa dịu các vết thương đau khổ. Đặc biệt đối với Dân tộc Việt Nam, suốt dòng Lịch Sử, đã chịu đựng quá nhiều gian khổ, Người Việt chúng ta cần trở lại truyền thống Yêu Thương Đồng Bào, Đồng Hương, Đồng Tộc, để chia cơm, sẻ áo, đùm bọc lẫn nhau, và đoàn kết kiến thiết quốc gia trong Công bằng, Bác ái, và tôn trọng Nhân Quyền, Nhân Phẩm Con Người. 

“Bầu ơi! Thương lấy Bí cùng,

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

4/-Các giới chính trị gia, truyền thông xã hội, đã ca ngợi bức Thông Điệp của ĐTC Bênêditô, có sức thuyết phục, chẳng những bằng những dẫn chứng rút từ Sách Kinh Thánh, Truyền Thống trong Hội Thánh Công Giáo, mà còn đặc biệt ở  cách dùng Luận Lý, Triết Lý La-Hy, để phân tách và dẫn giải  về Bản tính của Tình Yêu, và  phương thức tổ chức xã hội của Quốc gia, Quốc tế, dựa trên Công Bằng  và Bác Ái.

-Tại sao lại có nhiều Đau Khổ trên trần gian này, ta có nên thất vọng trước những nhu cầu tràn ngập nhân loại như hết bão lụt lại động đất, liên miên…? Để giải quyết vấn nạn này trên phương diện triết lý siêu hình, ĐTC đã dùng Triết Lý, Luận lý của Thánh Giáo Phụ Âu Cơ Tinh, Giám Mục tại Hipo, miền bắc Phi châu (354-430), khi trích nguyên văn câu:” Si comprehendis, non est Deus”( Nếu bạn hiểu được Chúa, thì không còn là Chúa nữa). Nên biết: ĐTC Bêneditô đã viết một Luận án Tiến sĩ Thần học về Thánh ÂuCơ Tinh, vì thế, Ngài đã thấu triệt Triết lý và Thần học của Thánh Nhân, đặc biệt hai tác phẩm nổi tiếng như:” Confessions”( Tuyên Xưng Quyền Năng Chúa, 400), và “The City of God”( Thành Trì Thiên Chúa, 412-27). Trong hai tác phẩm này, Thánh Nhân ca tụng Sự Khôn Ngoan , Thượng Trí Siệt Việt của Thiên Chúa, và Thành Trì của Thiên Chúa( ám chỉ Hội Thánh) là một Xã hội Yêu Thương trường cửu, trái ngược với Xã hội thế tục, chỉ mưu  tìm kiếm lợi lộc chóng qua mau hết.

- Một văn sĩ đã nói: “các vĩ nhân, các nhà tư tưởng lớn,  đông –tây, kim-cổ, thường gặp nhau”. Do đó, câu phát biểu trên đây của Thánh ÂuCơTinh: vì Bản Thể của Thiên Chúa là Siêu Việt Tuyệt đối, nên loài người là thụ tạo “tương đối” không thể hiểu được, nếu đem đối chiếu với triết lý của Đạo Giáo, tức Lão giáo của Lão Tử, trong cuốn “Đạo-Đức –Kinh” , chúng ta cũng  thấy về phương diện  siêu hình những suy luận và phát biểu tương tự, như trong “ĐẠO- ĐỨC KINH”, Lão tử viết:” 

“ĐẠO khả đạo, phi thường ĐẠO,

DANH khả danh, phi thường DANH,

VÔ DANH, thiên hạ chi thủy,

Hữu danh, vạn vật chi mẫu”.

Theo tư tưởng siêu hình của Lão học, Đấng Tạo Hóa, Chủ Tể của Vũ trụ càn khôn, là Một Nguyên Lý Tuyệt Đối, tạm gọi là “ĐẠO”,vì theo Bản thể Tuyệt đối, thì Vô hình Vô tượng, và VÔ DANH. Chỉ có loài tương đối như con người, cỏ cây, động vật, sông núi, đồ vật .. có hình tượng và có TÊN GỌI mà thôi( Hữu danh). Nếu ta có thể “đặt Tên gọi”, nghĩa là có thể hiểu được Nguyên Lý Tuyệt Đối đó, thì  không còn là Nguyên Lý Tuyệt Đối, là “ĐẠO” Tuyệt Đối nữa. Bởi vậy, theo Lão Tử, “ĐẠO” là “Huyền chi tựu Huyền”( sâu kín lại càng sâu kín thêm), trí khôn con người hữu hạn không thể hiểu hết những chương trình kế hoạch của Đấng Tuyệt Đối được. Truyền thống Văn Hóa Việt Nam, chê cười những người ngạo mạn, tự cao tự đại, coi mình là “đỉnh cao trí tuệ”, vô tín ngưỡng, vô thần,  không nhìn thấy Trời cao mênh mông, vì đầu óc u mê, thiển cận, lấy cái “tương đối” nhỏ bé, làm “Tuyệt Đối” bao la, như câu ca dao mỉa mai:

                                        

“Ếch ngồi đáy giếng coi Trời bằng vung”

( Xin Lưu ý: Muốn tìm hiểu thêm về Ý niệm “ĐẠO” của Lão Giáo, và Tam giáo, xin đọc Sách “Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo”, trang 280-293, tìm “Bảng Chỉ Dẫn (Index), chữ ĐẠO, vào hppt//www.dunglac.net/caophuongky/)

-5./ Vấn đề CĂN TÍNH của Hội Thánh, nói chung, và của mỗi Phẩm Trật như Giám Mục, Linh Mục, Giáo dân. Câu hỏi đặt ra: Căn Tính là gì? Tại sao thi hành những hoạt động Bác ái là thuộc Căn tính của Hội Thánh, mà không phải chỉ là công việc thiện nguyện, tuỳ ý làm để thêm công phúc? Như vậy, cần phải hiểu ý nghĩa chữ “Căn Tính”(Identity) một cách triệt để hơn, chính là Yếu Tính(Essence), là “lý do tồn tại, hiện hữu ( la Raison d’être) của một người hay một sự vật. Chữ “Căn Tính có ý nghĩa siêu hình(metaphysical) hơn là ý nghĩa của thẻ “căn cước”( như:I.D number). Theo ĐTC Beneditô, Căn tính của Hội Thánh toàn thể gồm ba đặc điểm: 1/ Ban các Bí Tích để thánh hóa dân Chúa;2/ Rao giảng Tin Mừng của Chúa Cứu Thế cho nhân loại;3/ Thi hành Đức Bác Ái bằng những công việc từ thiện, giúp đỡ người đau khổ, phần hồn, phần xác. Nếu thiếu một đặc điểm nào, thì làm cho Hội Thánh mất Căn Tính của mình, tức mất Lý do Hiện hữu của mình trên trái đất này. Ba Đặc điểm này cũng áp dụng cho mỗi thành phần trong Dân Chúa: Mỗi vi Giám Mục, mỗi Linh Mục, và  mỗi Tín Hữu-Giáo Dân.

- Trong Văn Hóa Việt Nam, chữ “đạo”( khác với chữ ĐẠO, Nguyên Lý Tuyệt Đối) như trong các kiểu nói: “đạo làm người”, “đạo vợ- chồng”, đạo cha-con”.., ý nghĩa chữ “đạo” là gì? Nhà văn và nhà triết học Trung Quốc Phùng Hữu Lan, trong Sách “Trung Hoa Triết Học Tiểu Sử”(cuốn này viết bằng Anh ngữ”A Short History of Chinese Philosophy”, Edited by Derk Bodde, The Free Press, N.Y,1948, xin coi trang: 166-177: Chapter 15: Confucianist Metaphysics, và Chapter 4: The Rectification of Names, trang 41) Chính họ Phùng đã phân biệt  hai cách viết chữ ĐẠO(chữ Hoa) chỉ Nguyên Lý Siêu Việt Tuyệt Đối, và chữ “đạo”chỉ yếu tính của sự vật. “ĐẠO”chỉ có Một, nhưng “đạo” thì vô vàn vô số.  Vậy “”đạo “là gì?  Đức Khổng Tử đã định nghĩa và giải thích ý nghĩa chữ ấy, trong lý thuyết về luân lý đạo đức, gọi là:”Chính Danh, Định Phận”. Theo thuyết này, mỗi “danh xưng”, mỗi tên gọi, phải  xứng hợp với lý tưởng đạo đức, bổn phận, nghĩa vụ phải làm, do danh xứng đó nêu lên. Khổng Tử viết trong sách Luận Ngữ, XII, câu 11:” Vua cho ra vua, bầy tôi cho ra bầy tôi, cha cho ra cha, con cho ra con” .Danh xưng , danh hiệu phải phù hợp với  thực hiện, tức với bổn phận và trách nhiệm phải làm đi kèm theo. Nếu không làm, thì là “Hữu Danh, vô Thực”. Một ví dụ: thời tao loạn, cương thường, luân lý đảo điên,  nhà thơ trào phúng Tú Xương mô tả  bằng hai câu thơ:

 

“ Nhà kia, lỗi “đạo”, con khinh Bố,

Mụ nọ chanh chua, Vợ chửi Chồng”

-Áp dụng chữ “đạo” trong thuyết” Chính Danh, Định Phận” , thay cho chữ “Căn Tính”, ta sẽ có những “đạo” như:  “đạo Giám Mục”, “đạo Linh Mục”, “đạo Giáo dân”..Ngày nay, thường nghe nói đến ”khủng hoảng về căn tính”(Identity crisis), chẳng qua là vì mỗi danh hiệu không còn tương hợp với trách nhiệm, bổn phận phải thực thi  của người mang danh đó. Bởi vậy, có thể nói mà không sai lầm: Nếu Hội Thánh, hay các Giám Mục, Linh Mục, Tu sĩ, Giáo dân..  không thực hành ba nhiệm vụ Chúa Cứu Thế đã trao phó là: 1/ Thánh Hóa nhân loại bằng các Nhiệm Tích;2/ Rao Giảng Tin Mừng của Chúa đến tận cùng trái đất;3/ Thực thi công việc Bác ái, từ thiện, thì chỉ còn là “Hữu Danh, Vô Thực” mà thôi.

( Xin đọc thêm Sách: “Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo”, trang 262-266, xin vào trang nhà, như trên: dunglac.net/caophuongky/ )

 

ĐÀM ĐẠO , CHIA SẺ:

TOÁT LƯỢC những Ý LỰC  Trong Bức Thộng Điệp, rất quan trọng này, cần được học hỏi cẩn thận và phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân, Công Giáo hay ngoài Công Giáo. Đây là toát lược Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh, dùng làm tiêu chuẩn phán đoán các chính sách về chính trị, kinh tế, xã hội, để tôn trọng Nhân Phẩm của Con Người, và kiến thiết một Xã hội Công bằng, Bác ái. Dưới đây là một số những ĐỀ TÀI  chính dùng để thảo luận, gợi ý, trong các buổi Hội thảo của các Đoàn thể. Có thể đặt thêm nhiều câu hỏi khác nữa, cho vấn đề Hoạt Động xã hội của Hội Thánh được sáng tỏ hơn.

1/. Bản Thể của Thiên Chúa= Tình Thương,

     Bản  Thể của  Đạo Thiên Chúa= Đạo Tình Thương.

2/. Mến Chúa, Yêu Người= Một,

     Ai Mến Chúa, cũng Yêu Người

     Ai Yêu Người, cũng Mến Chúa

3/. Phân biệt hai cách biểu lộ của Tình Thương: Một là, Tình Yêu vị kỉ,(Eros) chỉ Yêu mình, thỏa mãn đòi hỏi, sở thích riêng, không quan tâm, không vượt ra khỏi “cái tôi ích kỉ hại nhân”,  để lo cho hạnh phúc của tha nhân; Hai là, Tình Yêu vị tha(Agape), hướng về Tha nhân, hy sinh quyền lợi riêng, lo cho hạnh phúc của người mình yêu. Tuy phân biệt, nhưng hai cách thế tương quan liên hệ với nhau, vì theo bản tính nhân loại con Người có Xác và Hồn, có Vật chất và Tinh thần, nên không thể chối bỏ tình Vị Kỉ trong con người, nhưng tự nó phải vượt lên  Tình Yêu Vị tha, thì Tình yêu mới hoàn hảo.

4/. TÌNH THƯƠNG VỊ THA(AGAPE) Cao Cả nhất mà Thiên Chúa ban cho nhân loại, là Ban Con Một, NGÔI LỜI NHẬP THỂ, để HY SINH , chịu Nạn chịu Chết Chuộc Tội cho nhân loại, và PHỤC SINH VINH HIỂN, để  cho nhân loại được Phúc Trường Sinh.

5/. Vì Hội Thánh, -tức Cộng Đồng những Tín Hữu Tin Chúa Giêsu là Chúa Cứu Thế, Con Thiên Chúa, -được sinh ra bởi “Máu và Nước từ cạnh Nương long của Chúa chảy ra”, nên Hội Thánh, từ Bản Thể, Bản Chất, cũng phải noi gương Chúa, Hy Sinh, xả thân, làm việc Bác ái  để cứu nhân độ thế như Chúa đã thực hiện.

6/. Thi hành công việc Bác Ái là “Căn Tính” (là” đạo”) của Hội Thánh toàn thể, và là Căn tính của riêng từng Tín Hữu, đặc biệt của riêng mỗi vị Giám Mục coi Địa Phận, của mỗi Linh Mục coi Giáo xứ. Vì Hoạt động Bác ái của Hội Thánh, là “Căn tính”, (“Bản thể, “Bản chất”, “Bản tính”, là “đạo”, hiểu theo triết lý Việt Nam) của Hội Thánh, của người môn đệ theo Chúa, nên không phải là một mệnh lệnh áp đặt từ bên ngoài, không phải việc tình nguyện làm để thêm công phúc, hoặc như thể một công việc cứu tế xã hội, để cho người khác làm cũng được. Nhưng như Thánh PhaoLô Tông Đồ dạy:” Tình Yêu Chúa Kytô  thúc bách tôi”

7/.Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh chủ trương: cần tổ chức một xã hội Công bằng, dựa trên những luật lệ bảo đảm quyền lợi của công nhân, và tôn trọng Nhân quyền, Tự do, Dân chủ.., nhưng quốc gia xã hội luôn cần đến Tình Bác ái, cứu giúp đồng loại, đồng hương khi gặp cảnh khó khăn về tinh thần và vật chất như nghèo đói, bệnh hoạn, thiên tai..

8/.Thuyết MácXít muốn gạt bỏ những hoạt động Bác Ái của các tôn giáo,( hay các hội Từ thiện do sáng kiến tư nhân), vì cho là cản bước tiến của cách mạng, và áp đặt một chế độ tập quyền, độc đảng, giai cấp đấu tranh, gây căm thù, tiêu diệt các quyền Tự do tôn giáo, dân chủ..để tiến lên một xã hội công bằng, một thế giới đại đồng, vô giai cấp..Nhưng kinh nghiệm ngày nay cho thấy: đó là “ẢO TƯỞNG”, không thể thực hiện được, lại gây thêm  nạn tham nhũng, giai cấp giầu có bóc lột người dân nghèo. Nhân loại luôn gặp những tai ương lớn lao, nên luôn cần đến lòng Bác Ái, từ tâm của mọi người.

9/.Phân biệt hai phạm vi hoạt động: Một mặt , là Hội Thánh, và các Tôn Giáo, cổ động thực thi Bác ái, Luân lý, Đạo đức, và Mặt khác, là Quốc Gia: Chính Quyền, các Đảng phái Chính trị, Luật pháp, Kinh tế. Tuy phân biệt, nghĩa là tôn trọng quyền tự trị, phương cách hành động, và mục tiêu khác nhau, không được xen lấn vào nội bộ của nhau, nhưng Tôn Giáo và Chính Trị vẫn tuơng quan liên hệ với nhau, vì mục đích duy nhất là : phục vụ Nhân quyền, Nhân vị của Con Người. Chính quyền phải tôn trọng Tự do hoạt động Bác ái của  Tôn giáo, vì nhiệm vụ chính của tôn giáo là giúp thanh luyện các tổ chức của Chính quyền theo đúng những nguyên lý về Đạo Đức, Luân Lý.

10/. Tại sao nhân loại, luôn gặp những tai nạn lớn lao xẩy đến, ngoài tầm tay chống đỡ của mọi người, mọi quốc gia? Đây là một điều “mầu nhiệm”, thuộc phạm vi tôn giáo, triết lý. Trong Lịch Sử Nhân Loại, nhiều triết gia cũng vẫn thường thắc mắc, nhưng vì trí khôn nhân loại có giới hạn, nên không thể am hiểu một cách thấu triệt được chương trình và sự Quan Phòng của Thiên Chúa, như lời Thánh Âu Cơ Tinh:” Nếu ta hiểu được Chúa, thì không còn là Chúa nữa”. Do đó, thái độ trung thực nhất trước những đau khổ, tai nạn lớn lao, những nhu cầu chồng chất của nhân loại là: mỗi người thành tâm làm hết khả năng của mình, với niềm Tin, Cậy, Mến, và PHÚ THÁC mọi công việc vào Lòng Thương Xót vô cùng của Chúa. Ta cần làm những việc Bác ái, từ thiện, theo tiếng Lương tâm thúc bách, tuỳ khả năng, và nên coi mình như:” một người đầy tớ vô dụng” vì đó là  bổn phận phải chu toàn.

11/. Cần noi gương Đức Mẹ MARIA và các Thánh Nam Nữ trong Hội Thánh, đã HY SINH đời sống, để theo Chúa Cứu Thế, vì YÊU THƯƠNG, đã Chết để Cứu Chuộc và Sống Lại để ban cho nhân loại Phúc Trường Sinh.

Tác giả: Cao Phương Kỷ, Lm
   dunglac@gmail.com