Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Cao Phương Kỷ, Lm
Bài Viết Của
Cao Phương Kỷ, Lm
Đoạn I: Tồng quát về thông điệp
Đoạn I: Quảng diễn một số đề tài qua nhãn quan Văn Hoá Việt Nam
Phần II của Thông Điệp: Hội Thánh như một "Cộng Đống Yêu Thương" thực hành bác ái
Những thực hành bác ái. Đàm Đạo, Chia Sẻ
Đời Sống Tâm Linh của Dân Việt.
Chia Sẻ Đàm Đạo: Làm Thế Nào Để Giúp Dân Nước Việt Tiến Bộ?
Lời Truyền Phép Thánh Thể:
Tôn Thờ Ngôi Lời Nhập Thể, Chúa Giêsu Kytô Con Thiên Chúa Nhân Vụ "The Da Vinci Code"
Thông Điệp “Thiên Chúa là Yêu Thương”
Khắc khổ và thần nhiệm
Cần truyền giáo bằng phương tiện truyền thông, báo chí và văn hóa.
ĐỨC GIÁO HOÀNG của DÂN CHÚNG (The People’s Pope)
ĐOẠN I: TỒNG QUÁT VỀ THÔNG ĐIỆP

THIÊN CHÚA = TÌNH THƯƠNG,

ĐẠO THIÊN CHÚA = ĐẠO TÌNH THƯƠNG 

ĐỨC GIÁO CHỦ BÊNÊDITÔ XVI  vừa công bố bức Thông Điệp rất quan trọng, chẳng những cho toàn thể Giáo Hội Thiên Chúa Giáo, mà còn cho mọi cá nhân và các cộng đồng  trên thế giới nữa! Thật vậy, đây là những suy tư tôn giáo, thần học, đào sâu vào cốt tuỷ, yếu tính của Thiên Chúa Giáo, và dùng các triết thuyết cao siêu của trí khôn nhân loại, để thăm dò những ước vọng thầm kín nhất của tâm can con người luôn khát vọng YÊU THƯƠNG. Trong lãnh vực này, thiết tưởng Vị Đương kim Giáo Chủ  tài đức, giầu kinh nghiệm, có thể giúp chúng ta hiểu biết những uẩn khúc, éo le nhất của TRÁI TIM con người :

“ Sông sâu, còn có người dò,

Lòng người nham hiểm, ai đo cho cùng” (ca dao Việt nam)

 

Thông Điệp “Thiên Chúa là Yêu Thương” đã gây chấn động trong dư luận giới Truyền Thông trên thế giới. Gần đây, Các cuộc thăm dò dư luận của các tờ báo lớn tại Ý, Pháp, Đức, Thụy sĩ..(kề cả những báo có khuynh hướng chống Công giáo), đều công nhận ảnh hưởng lớn lao của Thông Điệp đối với xã hội Âu –Mỹ đang đà tục hóa.

Thông Điệp đã được các doanh nhân công giáo Đức, nhà thần học cấp tiến, Hans Kung, (vẫn chỉ trích các vị Lãnh Đạo như Đức Giáo Chủ Gioan Phao Lô II), các đảng phái chính trị Đức…, tán thưởng. Đặc biệt cơ quan “Caritas quốc tế”(CI), dùng làm đề tài suy tư về căn tính, về linh đạo của Caritas Quốc tế và đào tạo cho các nhân viên tinh thần Hy sinh, bỏ mình(Kenosis), Phục vụ( Diaconia), Hiệp thông( Koinonia).

Vì tầm quan trọng của Thông Điệp, nên chính Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã chuẩn bị dư luận, đã loan báo trước, vào ngày Lễ Chúa Ba Ngôi, 22 tháng 5, năm 2005, về Thông Điệp “Thiên Chúa là Tình Thương”(1Gioan, 4,8-16). Ngày Chúa Nhật 22 tháng Giêng năm 2006, ĐTC  đã nói vắn tắt về Thông Điệp này sẽ được công bố ngày 25 tháng Giêng, năm 2006, ngày kết thúc tuần cầu nguyện cho sự Hiệp nhất trong Hội Thánh. Vì thế, dư luận đã được chuẩn bị và mong đợi để đón nhận một Thông Điệp rất cần thiết, giúp ích cho thời đại bất an, và xáo trộn của thế giới ngày nay. Hơn nữa, sau khi công bố, Ngài còn gửi một bức Thư cho các độc giả Tuần Báo “Gia đình Kitô”để giải thích nội dung chính yếu của Thông Điệp. Ngoài ra, từ khi Thông Điệp được công bố, đã có nhiều bài bình luận, giải thích về những tư tưởng thâm thúy của Vị Giáo Chủ uyên bác, và thánh thiện này.

Trong bài viết này,  cũng xin góp một vài ý kiến để quảng diễn những lời vàng ngọc của Ngài, đặc biệt trình bày những tư tưởng của Ngài cho đồng hương Việt nam còn xa lạ với Thiên Chúa Giáo. Do đó, cần dùng Văn hóa Việt nam, để so sánh, giải nghĩa và bổ túc, thì độc giả ngoài Đạo Công Giáo mới dễ lĩnh hội. Chính Đức Thánh Cha cũng đã dùng Triết Lý La-Hy, Văn hóa Âu-Mỹ để giảng nghĩa Chân Lý Mặc khải:”Thiên Chúa là Tình Thương”.

Xin chia làm hai đoạn: Đoạn I/.Toát lược những Tư tưỏng chính yếu trong toàn bộ Thông Điệp và Phương pháp lý giải, trình bày của Đức Thánh Cha về Chân lý Mặc khải:”Thiên Chúa là Tình Thương”. ĐoạnII/. Đọc và suy nghĩ về một số đề tài của  Thông Điệp, trong nhãn quan của Văn hóa Việt Nam. Trong Đoạn I, chỉ cố gắng tìm hiểu và diễn ý cho thật rõ ràng những tư tuởng trong Thông Điệp, nhưng không so sánh với Văn Hóa, Triết lý Á Đông. Trong Đoạn II, vẫn theo dàn bài của Thông Điệp(theo các con số thứ tự)như: ngôn từ(2); Eros và Agape(3-8) ….Nhưng trong mỗi đoạn, sẽ vừa tìm hiểu ý tưởng của ĐTC, vừa dùng Triết lý và Văn hóa Á Đông để diễn giảng, góp ý với Ngài, hy vọng đồng hương Việt Nam sẽ dễ hiểu, và dễ thưởng thức hơn.

 

Đoạn I/. TOÁT LƯỢC TOÀN BỘ CHỦ ĐỀ của THÔNG ĐIỆP 

Trước khi lên làm Giáo Chủ, Đại Diện Chúa Cứu Thế nơi trần gian, Ngài đã giữ chức Tổng Trưởng Thánh Bộ về Đức Tin trong hơn hai thập niên. Ngài đã nghiên cứu và hấp thụ được những tư tưởng về Thần học Thiên Chúa Giáo lỗi lạc vào thế kỉ 20, thời kì Công Đồng Vatican II khai mạc cho một kỉ nguyên mới của  Giáo hội. Ngài là chuyên gia thần học của Công Đồng, dã soạn thảo nhiều văn kiện để làm tài liệu cho các Nghị phụ thảo luận. Ngài đã làm giáo sư giảng dạy môn Thần học trong các Đại Học danh tiếng của Đức Quốc như Tubingen, Bonn.. Ngài thông hiểu những khám phá mới của các thần học gia Công giáo như: Karl Rahner, Henri de Lubac, Yves de Congar, Von Balthasar, Hans Kung.., “Thần học giải phóng” phát xuất từ Nam Mỹ, và Ngài thường đối thoại với các thần học gia Tin Lành như: Karl Barth, Paul Tillich, Dietrich Bonhoeffer, Rudolf Bultmann..

Trên phương diện Triết Lý, Ngài đã được đào luyện trong Triết học cổ điển La-Hy, và Triết Học Kinh Viện(Scholastics), đặc biệt của Thánh Tôma. Ngoài ra, Ngài đã phải đối diện với những trào lưu triết lý của thế giới Âu-Mỹ, từ thời kì “Triết lý Ánh Sáng”( Enlightement) tiếp đến các trào lưu triết lý vật chất vô thần của Karl Max, nhân bản vô thần của Friedrich Nietzsche, (chủ trương thuyết “siêu nhân”(superman), đã đẻ ra Nazism và thần học “death –of-God”.  Trong thời thanh niên, sinh viên tại Đức, Ngài đã  hiểu biết và nghiên cứu những Triết học đương thời như “Hiện Tượng luận” của Husserl, “Hiện Sinh”của Jean Paul Sartre…, và những Triết Lý  nhân bản hữu thần của các Triết gia Thiên Chúa Giáo như: Heidegger, Kierkegard, Jacques Maritain..

Trong thời gian giữ chức Tổng Trưởng Thánh Bộ về Đức Tin tại Roma, Ngài đã phải giải quyết hàng ngày những vấn nạn về Tìn Lý, Luân Lý, giải thích làm sao cho phù hợp với Kinh Thánh và Truyền Thống của Giáo Hội. Do đó, Ngài luôn theo dõi những biến chuyển về xã hội, chính trị, kinh tế của thế giới, đặc biệt của các nước đang phát triển, để đối phó với những bất công xã hội, sự chệnh lệch lớn lao về lợi tức giữa các nước giầu và nước nghèo cần được giúp đỡ, hay giảm nợ. Nạn khủng bố đang lan tràn do con người dùng tôn giáo vào các mục tiêu chính trị. Đời sống gia đình tan rã với 50% li dị, với nạn phá thai, “hôn nhân đồng tính”, “lạm dụng tính dục của các giáo sĩ”, nếp sống độc thân, trinh khiết của tu sĩ”..và những tranh luận về việc nghiên cứu cách sử dụng các “tế bào gốc’(Stem cell), cấm(“human cloning”), không được biến chế các tế bào gốc từ thai nhi, nhưng được dùng “máu của dây chằng thai nhi”(an infant’s umbilical cord)…

 

A. TƯ TƯƠNG CHỦ YẾU của Toàn Bộ THÔNG ĐIỆP

Qua những kinh nghiệm quí giá , với một bộ óc quán triệt mọi khía cạnh khúc mắc, để tìm ra nguyên cớ, Vị Giáo Chủ tài ba đã dùng lý trí sâu sắc, để suy tư về”YÊU THƯƠNG” một Chân Lý phổ biến, “xưa như trái đất” , trẻ con, người lớn, trẻ già, ai cũng  kinh nghiệm, ai cũng nhận thấy tràn lan trước mắt: trên sách báo, tranh ảnh, Truyền hình..nhưng rất ít người thấu hiểu cho tường tận bản tính của”Yêu Thương”,  nên mới gây ra bao nhiêu  cảnh bất an, đau khổ cho cá nhân, và xã hội. Thật vậy, Trái Tim Con Người luôn khát vọng  “YÊU THƯƠNG”, nhưng vì không tìm về Cội Nguồn của Yêu Thương là chính Thiên Chúa, nên con người mới lạc lõng bơ vơ, lo âu và lao mình xuống vực thẳm của tội ác như: phá thai, chiến tranh, lạm dụng tính dục trẻ con

a/ Đạo Thiên Chúa = Đạo Tình Thương vì bắt nguồn từ THIÊN CHÚA=TÌNH THƯƠNG. Trong Đạo Thiên Chúa, Tín Điều cao trọng nhất là: Mầu Nhiệm “MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI BA NGÔI”. Mầu Nhiệm đó có nghĩa gì? Tại sao chỉ có Một Đức Chúa Trời, nhưng có Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con, Ngôi Thánh Thần ? Theo Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo(số 254 và 255, đọc thêm sách”Đạo Thiên Chúa và Dân Nước Việt”trang 73-75) thì “Ba Ngôi Thiên Chúa thật sự Phân Biệt(distinct from one another).., nhưng “Ba Ngôi Thiên Chúa Tương Quan, Liên Hệ với nhau(relative to one another). Chính TÌNH THƯƠNG VÔ BIÊN nơi Bản Thể Thiên Chúa đã tạo nên mối Tương Quan, Liên Kết mật thiết  giữa Ba Ngôi,  đến nỗi không thể “Tách biệt”(separare), chia ly, nhưng luôn luôn  THƯƠNG MẾN nhau vô cùng, làm nên MỘT THIÊN CHÚA

Bởi vậy, nơi Thiên Chúa không có sự cô đơn, cô độc, nhưng trong Bản Thể luôn có TÌNH THƯƠNG MẾN liên hệ, giao kết giữa Ba Ngôi. Cũng vì Ba Ngôi Yêu Mến nhau vô cùng, nên Tình Thương vô biên đó đã tràn lan ra, tạo thành vũ trụ càn khôn, và đặc biệt, dựng nên Loài Người giống “Hình Ảnh Chúa”, nghĩa là con người cũng có một Trái Tim biết Yêu Thương.  Do đó, con người cũng phải noi theo gương mẫu nơi Thiên Chúa, để biết chia sẻ Tình Thương của mình cho anh chị em đồng loại.

b/ Trong Đạo Thiên Chúa, ngoài Tin Điều”Một Chúa Ba Ngôi”, còn một Tín Điều quan trọng nữa, cũng chứng tỏ “Thiên Chúa=Tình Thương”, tức là “Mầu Nhiệm NGÔI LỜI NHẬP THỂ”. Theo Giáo Lý , để chứng tỏ Thiên Chúa Yêu Thương vô cùng, nên Ngôi Lời Thiên Chúa, chính là Chúa  Cứu Thế đã mặc lấy xác phàm, tự nguyện chịu nạn chịu chết để chuộc tội cho nhân loại . Ngài đã lập nên HỘI THÁNH để tiếp nối công cuộc Cứu chuộc cho đến tận thế. Bởi vậy, Hội Thánh cũng phải noi gương Chúa Cứu Thế, từ trong bản thể, cơ cấu, phải thực hiện những công việc cứu nhân độ thế, từ thiện bác ái như Chúa Cứu Thế đã làm.     

Nói tóm lại, Yêu Thương là một tình cảm thông thường trong đời sống con người, nên ta coi thường, không chú ý  phân tích, lý giải một cách mạch lạc, và diễn giảng một cách thông suốt mọi khía cạnh. Lại càng hiếm người nhìn thấy vẻ huy hoàng sáng lạn của Một Tình Yêu Chân Thật, Cao Cả là chính Thiên Chúa, vì THIÊN CHÚA= TÌNH THƯƠNG. Đây là một Chân Lý cao siêu thượng đẳng, cũng là một Luận Đề được Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã phân giải  rõ ràng để mọi người có thể hiểu biết  tường tận, giúp cho đời sống cá nhân, gia đình, quốc gia và thế giới được An  Vui, Hạnh Phước.

 

B. PHƯƠNG PHÁP  lập luận của Thông Điệp 

a/  Khởi đầu từ một nhận xét quen thuộc về “Tình Yêu” của mọi vật mọi loài, rồi chứng minh cho thấy, tình yêu tự nhiên đó không đầy đủ, không thỏa mãn,  nó mới ở giai đoạn bản năng, vì  loài người, loài cầm thú, (kể cả loài thảo mộc như “cây mắc cỡ”) cũng biết yêu, biết tự vệ lấy bản thân mình: đó là tình yêu  “vị kỷ”(eros). Con người cần phải ra khỏi bản năng vị kỉ, “yêu mình”, để vươn lên Tình yêu “vị tha”(agape), “yêu tha nhân”, yêu gia đình, quốc gia, thế giới, thì đời sống mới được sung mãn, triển nở, và hoàn hảo.

b/ Chúa Cứu Thế đã  toát lược 10 Giới Răn thành một Giới Răn duy nhất là: “Mến Chúa, Yêu Người”. Nghĩa là : Tình cảm và Hành vi “Mến Chúa” đồng thời cũng  phát sinh ra “tình cảm và hành vi “Yêu Người” nữa.  Vì Chúa đã yêu Người, nên ai thực tâm yêu Chúa cũng phải bắt chước Chúa để Yêu Người nữa, thì mới hợp lý. Ngược lại, nếu ai  đã Yêu Người một cách chân thành, thì cũng tất nhiên cũng vươn lên Tình Yêu Chúa nữa,  vì chính Chúa mới thật là Nguồn gốc của Yêu Thương Vô Biên, và Chúa mới là lý do khiến ta phải yêu thương tha nhân. Bởi vậy, giới răn”Mến Chúa, Yêu Người” là Một, vì đều bắt nguồn từ Một Tình Thương vô biên của Chúa mà ra, vì Bản Tính của THIÊN CHÚA=  TÌNH THƯƠNG. Nhờ Tình Thương Vô Biên, Tràn Lan của Chúa, mà vũ trụ càn khôn, và nhân loại được tạo dựng,  mọi người đều là “con của Chúa”. Do đó, không thể Yêu Chúa mà lại ghét con cái của Chúa, hay Yêu con cái Chúa mà lại ghét Chúa.

c/ Trong phần thứ hai của Thông điệp, Đức Giáo Chủ đã  lý giải việc thực hiện những công cuộc Từ Thiện, Bác Ái, Cứu Trợ là xuất phát từ Bản Thể của Giáo Hội, nghĩa là từ Chúa Cứu Thế, là Thủ Lãnh của các Tín Hữu, vì Chúa đã Yêu Thương Nhân Loại, đến nỗi Hy Sinh Mạng Sống để chuộc tội cho mọi người được cừu rỗi. Do đó, Toàn thể Giáo Hội như một Thân Thể Mầu Nhiệm(Mystical Body) của Chúa KyTô, cũng phải Yêu Thương Nhân Loại, bằng những công việc Phước Thiện, HY SINH như Chúa đã  làm, vì GIÁO HỘI= CHÚA CỨU THẾ.

d/Nói tóm lại, Đức Thánh Cha đã minh chứng Một Chân Lý “cổ xưa”, ngàn đời, bằng một Phương pháp lý giải, mới mẻ, dễ hiểu. Ngài đã dùng  lý luận như “Luật Nhân-Quả”, “Nguyên Lý Đồng Nhất”, và Tam đoạn Luận” của Triết lý La-Hy, để phân tích và diễn dịch những uẩn khúc, éo le của trái tim nhân loại. Theo “luật Nhân – Quả”như những câu kết luận: Bản thể của Chúa là Tình Thương , và là Nguyên Nhân phát sinh ra vạn sự vạn vật, nên nhân loại và vũ trụ hiện hữu này đều là  kết quả của Một Tình Thương Vô Biên đó, là chính Thiên Chúa. Cũng một khuôn mẫu như Chúa, nếu ai có Tình Yêu chân thật, vị tha, thì Tình Yêu đó tự nó cũng phải là nguyên nhân phát sinh lòng quảng đại tự ý muốn chia sẻ thời giờ, sức khoẻ, của cải để giúp đỡ những người thiếu thốn, đau khổ.  Theo Phương pháp lý luận “Nguyên Lý Đồng Nhất” như câu: Tin Chúa và Mến Chúa= MỘT. Không thể Tin Chúa mà lại không Yêu Chúa. Cũng không thể Yêu Chúa mà lại không Tin Chúa. Do đó, ai xưng mình: Tin Đạo, Tin Chúa mà không có lòng Mến Chúa, thi hành Đức Bác ái, thì là điều nghịch lý, vì Tin Chúa  cũng là Yêu Chúa, hoặc ngược lại, Yêu Chúa thì cũng Tin Chúa nữa. Câu khác như:”Mến Chúa và Yêu Người = MỘT”. Mọi Người đều bởi Tình Thương Chúa mà sinh ra. Do đó, Yêu mến Chúa Thật, thì cũng phải Yêu mến những người con do Chúa dựng nên. Không thể yêu mến Chúa mà lại ghét bỏ những gì thuộc về Chúa, vì đó là điều mâu thuẫn. Có thể đặt những lý lẽ trên thành hình thức”Tam-đoạn –luận”(Syllogism) như sau:

Ông, Bà (A) = Mến Chúa (B)

   mà   CHÚA(B) = Thương người (C)

    nên,  Ông , Bà (A) = cũng Thương người (C)

A = B

B = CA = C

 Câu: Chúa Cứu Thế và Hội Thánh= MỘT , vì Hội Thánh được sinh ra từ “cạnh sườn “Chúa Cứu Thế”, vì Chúa Yêu Thương nhân loại nên đã Hy Sinh, chịu chết, để cứu chuộc nhân loại. Bởi vậy, cũng giống như Chúa đã làm, từ trong bản thể, từ “Cơ Cấu”,Hội Thánh cũng phải thực hiện những công cuộc Bác ái, từ thiện, để cứu nhân độ thế. Nếu không, Hội Thánh sẽ  tự mâu thuẫn với chính mình, và với Chúa Cứu Thế. Do đó, làm việc lành phước đức, thi hành bác ái, không phải là điều tình nguyện, thêm vào để thêm công phúc, nhưng là tự bản thể, là căn tính của người tín hữu . Có thể đặt thành công thức”Tam-đoạn-luận” như sau:    

                      Chúa Kytô (A) = Hy Sinh cho Nhân Loại (B)

mà  Hội Thánh (C) = Chúa Kytô (A)

               nên,  Hội Thánh (C) = Hy Sinh cho Nhân Loại (B)

      A = B

      C = A

      C = B

Tạm Kết cho Đoạn I, Đức Thánh Cha đã đề cao và làm nổi bật tính chất Duy Nhất(Unity , Qui về Một Mối) của Thiên Chúa Giáo: Vạn sự vạn vật trên trời dưới đất đều bởi Một Tình Thương Vô Biên của Đức Chúa Trời mà có. Do đó, trái tim con người, tự bản thể, tự căn tính cũng phải tự qui hướng về Chúa và về với tha nhân, bằng tình Bác Ái, Vị Tha. Hội Thánh do Cái Chết Hy Sinh của Chúa Cứu Thế mà sinh ra: do đó, từ trong căn nguyên, cơ cấu, Hội Thánh và các tín hữu không thể không Hy Sinh, không thực hiện Bác Ái để cộng tác vào công cuộc Cứu Chuộc của Chúa Cứu Thế. Bởi vậy, Hội Thánh, mọi sự, mọi loài, bởi Chúa mà ra, chung cuộc, đều qui hướng về Chúa là Cội Nguồn Duy Nhất.

( Xin độc giả theo dõi ĐOẠN II trong số Báo kỳ tới)

Đoạn II. QUẢNG DIỄN MỘT SỐ ĐỀ TÀI với NHÃN QUAN VĂN HÓA VIỆT .

Tác giả: Cao Phương Kỷ, Lm
   dunglac@gmail.com