Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Văn Toàn, Gs.
toan.tran@nordnet.fr
Bài Viết Của
Trần Văn Toàn, Gs.
Tầm quan trọng của phụng vụ
Tôn giáo hay là tín ngưỡng ?
Vô thần và Tôn giáo
Tu thân, tu đạo, tu dòng. Mấy điều tư lượng về dòng Mến Thánh Giá
Comment l’identité de la nation vietnamienne a été racontée depuis l’arrivée des missionnaires chrétiens
TU THÂN, TU ĐẠO, TU DÒNG. MẤY ĐIỀU TƯ LƯỢNG VỀ DÒNG MẾN THÁNH GIÁ

Hình như loài vật cứ sống tự nhiên theo như bản năng, mà không có luân lý nào làm tiêu chuẩn gò bó. Còn con người thì xem ra không phải cứ sống tự nhiên qua ngày tháng, theo như sở thích chốc lát, nay thế này mai thế khác, mà nên người được. Cho nên một đàng thì phải được giáo dục gò bó vào một khuôn phép[1], một đàng thì tự mình cũng phải biết « tu », nghĩa là phải biết « sửa », uốn nắn và sửa cái bản năng tự nhiên cho nó phù hợp với đạo lý. Văn hóa Đông Tây đều có để ý đến việc giáo dục cả.

Vì thế cho nên việc « tu thân » lấy cho mình cũng bao hàm việc « tu đạo », là gạt bỏ một số chướng ngại, để đi theo một con đường, theo một hệ thống giá trị, trong một cộng đoàn lớn hơn cái cá nhân nhỏ bé của mình. Nếu không có một cộng đoàn, dù là hạn hẹp, cùng nhau chia sẻ một ít giá trị, thì cá nhân không tu thân được, chỉ trừ trường hợp mà cá nhân cho rằng chỉ có một mình mình là có thực, còn tất cả chỉ là ảo ảnh, nếu không phải là hư vô.

Cái đạo làm tiêu chuẩn cho việc tu thân có thể có nhiều hình dạng. Hai hình dạng mà ta quen hơn cả là nhân đạo, và thiên đạo.

Về nhân đạo là đạo làm người thì Nho giáo dạy : « Nhân giả nhân dã » : ta không làm người (chữ « nhân » hai nét) một mình, nhưng làm người với người khác (chữ « nhân » ở đây gồm bộ « nhân » hai nét, viết bên tả bộ « nhị »), nghĩa là phải hòa với người khác, phải biết thương người khác (có lòng nhân từ) thì mới nên người. Nho giáo chỉ cho ta ba giềng mối (tam cương) trong xã hội, và năm thái độ phải có (ngũ thường) để sống cho nên người, và theo thứ tự là : tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Cái đạo làm người như thế là căn bản cho nếp sống chung, dù người ta có thể khác nhau khá nhiều về cái mà ta có thể tạm gọi là « thiên đạo ».

Về thiên đạo thì thày Khổng đã bảo : « Thiên hà ngôn tai ? Tứ thời hành yên, Bách vật sinh yên. Thiên hà ngôn tai ? » (Luận ngữ, thiên Dương hóa), là « Trời có nói gì đâu ? Bốn mùa xoay vần, trăm vật sinh nở. Trời có nói gì đâu ? ». Cũng có thể cho rằng cái đạo làm người là do trời dạy cho. Nhưng lại cũng có thể cho rằng như thế vẫn còn là chưa đủ, hay như thế là đi trệch đường. Cho nên có một vài bậc trí cao đã đề nghị phải sửa lại, nghĩa là phải « tu », hay là « tu bổ », nghĩa là phải thêm vào nữa. Ví dụ như các đạo sĩ dạy phép « tu tiên » để được bước hẳn ra ngoài con đường danh lợi và đi tìm trường sinh bất tử, hay là như nhà Phật dạy phép « tu thiền », để thoát được hẳn ra ngoài dục giới, sắc giới và vô sắc giới, là ba cái thế giới ảo ảnh hư vô này. Ở đất Việt Nam thì đạo Thiên Chúa, đạo Chúa Cứu Thế, tựa vào tam cương ngũ thường của nhà Nho, dấn thân vào cõi đời này, nhưng còn đề nghị thêm vào đó một nếp sống mới, một lối tu trì mới nữa.

Như thế cũng đủ biết là ai cũng phải tu, nhưng lại có nhiều đường tu, tùy theo cái nhìn về vũ trụ và về vận mệnh con người. Thường thì người ta hiểu đi tu là xuất gia, là bỏ gia đình, có người lại cho rằng có thể tu tại gia. Rồi thì vì người ta có tự do, cho nên có người thì tu đắc đạo, có người thì vụng đường tu, có người là chân tu, có người là giả hình thày tu, v.v.

Sau đây xin trình bầy về việc tu đạo và tu dòng trong đạo trong đạo Thiên Chúa. Hai lối tu đó đều đặt căn bản vào cách tu thân.

 

1 – Tu thân và giới luật

Về vấn đề tu thân, người theo đạo Thiên Chúa cũng theo những giới luật tương tự như nhiều tôn giáo hay các hệ thống luân lý đạo đức khác. Thiết tưởng không cần đi vào chi tiết. Nhìn hời hợt bên ngoài thì người ta thường nói : « Đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành ». Nếu thấy có khác nhau thì là khác về ý nghĩa bên trong của hành động.

Ví dụ người công giáo chúng ta thường đọc : « Đạo Đức Chúa Trời có mười điều răn », đồng thời vẫn nhận định được cái căn bản là : « Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ : trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy »[1]. Và hơn nữa, hai điều răn ấy cũng chỉ là một mà thôi : « Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu (…). Nếu ai nói : « Tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, thì người ấy là kẻ nói dối. Ai không thương yêu người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. » (1 Ga 4, 8 và 20).

Cái căn bản là như thế, nhưng có điều là về sau này , vì phải chỉ dẫn cho giáo dân ăn ở cho phải đạo trong nhiều trường hợp cụ thể, cho nên lại thêm : « Hội Thánh có sáu điều răn », rồi tất cả các điều răn lại đươc giải thích tỉ mỉ ra nữa. Thành ra người ta có cảm tưởng rằng đạo Chúa chỉ là một mớ những giới luật, chồng chất lên nhau như là một gánh nặng[1], mà quên mất điểm căn bản đơn sơ của đạo Chúa, như vừa nói trên đây, và quên cả lời Chúa nói : « Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng (…) Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng » (Mt 11, 28 và 30).

Cái đó không riêng gì trong đạo Thiên Chúa, mà đó đây trong thiên hạ hình như trong việc tu thân khắc kỷ, người ta hay thi đua nhau đặt thêm giới luật, thêm kỹ thuật, để đưa đến chỗ hoàn toàn làm chủ được mình. Không những làm chủ được cảm tình, trí tưởng tượng, trí khôn, ý chí, mà có khi còn chủ trương làm chủ được tất cả bộ máy sinh lý, như hơi thở, mạch máu, v.v. – như ta thấy trong văn hóa An-độ – và trình bầy đạo của mình như là đạo chỉ dành cho những người có gan dạ anh hùng xuất chúng, là con đường khó tu và khổ tu, còn quần chúng phàm nhân thì chỉ có việc là thán phục hay là kinh sợ những phép thần thông như thế. Vấn đề là : tu thân khắc kỷ để đi đến đâu ?

Bây giờ tôi xin đưa ra một vài nhận xét về việc tu thân theo giới luật, theo kỷ luật như thế.

Tu thân là sửa mình, để làm người cho ra người. Mình sửa mình là làm việc cho mình chứ không cho ai cả. Nếu tôi không muốn sửa mình theo như đạo thầy Khổng, theo như đạo đức học của Aristotêlês, hay là theo như lời Phật dậy, thì chỉ thiệt cho tôi, chứ cũng không thiệt gì cho Thầy Khổng, cho triết gia Aristotêlês, hay là cho Đức Phật cả.

Về Phật giáo theo như kinh Tam Tạng, thì trong loạt bài nghiên cứu đề là « Con đường Thiền »[1], học giả Lý Quang có viết trước đây hơn 40 năm : « Thiền-định có bản-chất hoàn toàn thực-hành, và hoàn toàn xây dựng trên những kinh nghiệm về Tâm-lý-học. Tự đầu đến cuối, tự giai đoạn khử trừ 5 chướng ngại cho đến Định IV [1], chúng ta không thấy nói tới một tín điều nào hết, cũng không thấy một câu kinh kệ nào cả. Hoàn toàn chỉ là tu-luyện tâm-thần theo những kinh nghiệm Tâm-lý-học mà thôi »[1]. Nói cho rõ hơn : người ta lấy tự -lực mà tu lấy cho mình, chứ không tu cho ai cả, cũng không kêu cầu gì đến ai cả, không nhờ đến tha-lực nào cả.

Có một điều đáng chú ý là trong đạo lý Thầy Khổng, thì ngoài việc tu thân lấy cho mình thì còn có khá nhiều trách nhiệm đối với người khác. Và đây là điểm rất giống đạo Thiên Chúa, làm cho đạo này dễ dàng tìm ra lối hội nhập văn hóa ở Á châu.

Riêng về đạo Thiên Chúa, nghĩa là đạo Do-thái hay là đạo Chúa Cứu Thế Giêsu, thì dĩ nhiên là việc sống theo giới luật cũng vẫn là việc tu thân cho mình và phụng sự xã hội, nhưng còn có thêm một ý nghĩa đặc biệt nữa. Thực vậy, trong Cựu Ước thì ta biết là sách Xuất Hành có kể lại giai đoạn Thiên Chúa ban hành 10 điều răn (3 điều về Thiên Chúa và 7 điều về lối cư xử với người khác), nhưng ít ai để ý đến câu mở đầu : « Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta, v.v. »[1]. Nên nhận xét là trước khi ban hành giới luật thì Chúa nhắc lại là giới luật đặt ra không phải là để xét nét bắt tội người dưới, nhưng là vì Ngài lo lắng cho người ta tu thân nên người. Còn trong Tân Ước, Chúa Giêsu nói : « Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. » (Ga, 14, 21).

Như thế việc tu thân lấy cho mình cũng còn có nghĩa là tu đạo, nghĩa là vừa làm cho mình nên người, vừa là cách tỏ ra lòng yêu mến Thiên Chúa. Thiết tưởng cũng như con cái nên người thì cũng làm cho cha mẹ vui lòng.

Dù sao cũng nên chú ý là người ta có thể giữ thật đúng giới luật, mà không có cảm tình gì mấy với người làm ra luật, như ta thấy trong dụ ngôn người cha nhân từ (cũng quen gọi là dụ ngôn thằng con phung phí) : sau khi thấy người cha tỏ ra nhân hậu với người em phung phí, thì người anh cả nói : « Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê để con ăn mừng với bạn bè » (Lc 15, 29). Đó là giới hạn của giới luật : người giữ đúng giới luật ở bề ngoài, có thể tự cho mình là hơn người, mà không xét đến cái thâm tâm ở bên trong.

 

2 – Tu đạo và mối thân tình với Chúa

Tu thân rất là quan trọng[1], nhưng mới chỉ là bước đầu trong việc tu đạo, vì tự nó mới chỉ là tu cho mình, chứ chưa liên quan gì đến người khác và cũng hưa đưa ta đến gần Chúa là bao nhiêu[1].

Muốn đến gần Chúa thì ai cũng biết là phải theo chân Ngài hay là bắt chước Ngài. Đó là con đường thiêng liêng của người đệ tử Chúa Giêsu. Trong Sách Thánh có khá nhiều lời khuyên nhủ như thế : « Vậy anh em hãy hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện » (Mt 5, 48). Chúa Giêsu muốn tìm đệ tử thì gọi : « Anh hãy theo tôi » (Mt 9, 9). Chúa còn nói : « Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo » (Mt 17, 24). Thiết tưởng đây là điểm có liên quan trực tiếp đến con đường thiêng liêng của dòng Mến Thánh Giá.

Trong thư gửi cho tín hữu thành Phi-líp-phê, thánh Phao-lô viết : « Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giêsu » (2, 5). Chúa nói trong Phúc Am thánh Mát-thêu (11, 29) : « Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường ». Căn cứ vào câu đó chúng ta đọc trong kinh cầu Lái (Trái) Tim Đ.C. Giêsu lời nguyện này : « Lạy Đức Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, Xin uốn lòng chúng tôi nên giống Lái Tim Chúa ». Ta muốn tỏ lòng tôn trọng, mến yêu Chúa, thì theo chân bắt chước hành vi cử chỉ và các nhân đức Ngài, để nên giống như Ngài.

Một trong những cuốn sách dạy đường tu đạo thiêng liêng rất được phổ biến ở Au châu từ thế kỷ XV trở đi là sách De imitatione Christi, nghĩa là Về sự bắt chước Chúa Ki-tô, do Thomas a Kempis (1379-1471) biên soạn, có chủ trương một lối sùng đạo có tính cách tình cảm cá nhân. Sách đã được các vị thừa sai đem sang Việt Nam rất sớm, dịch sang tiếng Việt lấy tên là sách Gương phúc[1]. Có thể chắc rằng nếu lối sùng đạo bình dân ở Việt Nam có phần nặng về tình cảm, thì một phần cũng là do ảnh hưởng các sách cùng một loại như thế, và cũng vì xưa kia giáo dân không tham gia được vào các lễ nghi phụng vụ phải cử hành bằng tiếng la-tinh.

Nhưng nói cho cùng thì theo chân, bắt chước, cũng còn là đứng bên ngoài, chứ chưa đi sâu vào mối tương quan, và cũng chẳng cần có mối tương quan với người mình bắt chước. Ví dụ thanh niên ngày nay thường bắt chước các thứ thần tượng trong ca nhạc, trong vận động thể thao, bắt chước từ cách để râu để tóc cho đến lối ăn mặc, mà không cần tiếp xúc gì với họ cả. Và trước đây từ lâu rồi, thì những người đi vào Thiền Định, như Phật dạy trong Kinh Tam Tạng, chỉ cần tu luyện cho đúng phép thôi, chứ không cần liên lạc với Phật, cho nên sau khi vào Niết-bàn rồi, Phật có còn ở thế giới này hay không, cũng không hề gì.

Nói chung thì như thế, nhưng riêng về con đường tu đạo thiêng liêng, thì việc bắt chước Chúa Ki-tô làm cho ta nên giống hình thể (conforme) Chúa. Cái « hình thể » (forme) trong quan niệm của triết gia Hi-lạp Platôn là cái xác định bản tính của mọi vật : có được « hình thể » của Chúa, tức là dự phần vào bản tính của Chúa. Vì thế các thánh giáo phụ Hi-lạp thường quan niệm rằng Chúa là thần-thánh đã xuống thế làm người, làm cho bản tính loài người được dự phần vào bản tính thần-thánh của Chúa, và vì thế thánh hóa chúng ta, làm cho chúng ta cũng nên thần-thánh[1]. Như thế là nâng cao bản tính của chúng ta lên.

Cần phải xác định ở đây là chúng ta nên thánh, không phải là vì bản tính chúng ta được nâng cao lên, nhưng phải nói rằng : chúng ta nên thánh là vì được sống trong mối thân tình với Chúa nhờ các phép bí tích, và nhờ đó bản tính chúng ta được Chúa nâng cao lên vuợt bực.

Nói tóm lại là trong việc tu đạo, ta phải biết tu thân, tìm đường theo chân bắt chước Chúa, đồng thời phải nghe lời Chúa dạy trong Sách Thánh, cầu nguyện và chịu các phép bí tích để được kết hợp với Chúa. Người đi tu dòng cũng theo một con đường tu đạo như thế, có khác là khác ở chỗ chuyên cần đào sâu về một vài điểm đặc biệt.

Sau đây tôi sẽ có vài nhận xét tổng quát về con đường thiêng liêng, nhưng không bàn đến việc tu dòng nói chung, mà chỉ xin đưa ra một vài suy nghĩ riêng về con đường thiêng liêng mà ĐC Lambert de la Motte, vị sáng lập ra dòng Mến Thánh Giá, đã vạch ra cho các chị em. Còn về các vấn đề lịch sử thì không có nghiên cứu chuyên môn, cho nên không dám lạm bàn.

 

3 - Con đường tu đạo thiêng liêng

Tôi đoán có lẽ hai chữ « thiêng liêng » là do người công giáo đem vào tự vựng Việt Nam. Nhưng còn chờ các học giả nhà nghiên cứu cho biết ý kiến.

Trong kho tàng tiếng Việt thì ta đã có sẵn hai chữ : « linh » và « thiêng ». Theo như cuốn Từ Điển Tiếng Việt (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1967, trang 613) mà tôi có trong tay, thì chữ « linh » có nghĩa là « nói thần thánh thiêng, có tác động đến con người như ý muốn, theo mê tín » , ví dụ : « ông thần cây đa linh lắm ». Như thế là lấy chữ « thiêng » là tiếng Việt để giải nghĩa chữ « linh » là từ Hán Việt. Còn chữ « thiêng » mà người dân ta quen dùng thì có nghĩa là « có phép hiệu nghiệm, làm cho người ta phải sợ, phải tin, theo mê tín ». Xin đan cử một ví dụ mà ai nấy đều nghe biết : « Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh ». Bây giờ ta hợp hai chữ lại thành « linh thiêng », cũng có nghĩa như chữ « thiêng ». Riêng về chữ « thiêng liêng » thì TĐTV nói là cũng nghĩa như « thiêng », nhưng còn thêm vào một ý nghĩa tùy phụ nữa là « cần phải tôn trọng », ví dụ như trong kiểu nói « nghĩa vụ thêng liêng ». Có thể nói : cái căn bản đi từ kinh nghiệm là chữ « thiêng », hoàn toàn Việt Nam, hoàn toàn Nôm.

Có điều làm cho tôi rất chú ý và thắc mắc là : khi viết ra chữ Nôm, thì « thiêng liêng » viết bằng hai chữ Hán Việt « thanh linh », còn « linh thiêng » thì cũng lại dùng hai chữ Hán Việt đó, nhưng đảo ngược lại là « linh thanh ».

Chữ « thanh » không có ý nghĩa gì liên can tới « thiêng » cả, cho nên khi dùng chữ « thanh » để viết làm chữ « thiêng », thì chỉ là lấy âm tương tự như thế, chứ không lấy ý. Chữ « linh » thì không biết có phải là « theo mê tín » hay không, nhưng có liên quan đến thế giới những vật coi là « thiêng », ví dụ như « tứ linh »[1], đến thế giới bên kia của chư vị, của các thần, của các khí lực vô hình, đến thế giới của những người đã chết. Nếu ta dùng lối « tán chữ » của nhà Nho để tìm ý nghĩa chữ « linh », thì ta thấy ở trên là chữ « vũ » (nghĩa là « mưa »), ở giữ là ba chữ « khẩu », trông như ba giọt mưa, ở dưới cùng là chữ « vu » (nghĩa là « cô đồng », « cô bóng ») : như thế là người đồng bóng bắt liên lạc với các « chư vị» ở thế giới bên kia, để được mưa trong thế giới bên này. Nhưng vì sao lại đọc chữ « linh » có ý nghĩa như thế là « liêng » ? Mà « liêng » đứng rời ra thì không có nghĩa gì cả. Thiết tưởng có lẽ đọc ra như thế là để cho nó đi đôi và hợp vận với chữ « thiêng » là chữ có nghĩa gốc, đồng thời theo như cách đọc trại đi, như trong trường hợp tránh tên húy[1].

Nói tóm lại là ta dùng hai chữ « linh » và « thanh », để nói lên hai ý niệm khác nhau : « linh thiêng » và « thiêng liêng ».

« Linh » và « thiêng », một từ là Hán Việt, một từ là Việt, hai từ đồng nghĩa, dùng cặp đôi với nhau là « linh thiêng », để cho ý nghĩa mạnh hơn[1] khi nói về quyền lực hay về phép thần thông hay « thần thiêng » của « thần linh », như trong tôn giáo dân gian.

Còn « thiêng liêng » là tiếng Việt mà, nếu tôi không lầm, thì người công giáo đã dùng từ thế kỷ XVII cho đến ngày nay, để dịch từ ngữ la-tinh « spiritualis » (Pháp : « spirituel »), có nghĩa là thuộc về phạm vi « tinh thần » (la-tinh : spiritus, Pháp : esprit) là thực tại vô-vật-chất, nói theo kiểu nhà Phật thì là thuộc về vô-sắc-giới. Ví dụ trong sách Phép giảng tám ngày (Roma, 1651, trang 35), thì giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) viết về các thiên thần « là tính thiêng liêng, chẳng có vóc, chẳng có xác, là tính cao sang, chẳng có phải hư mòn khi nào : dù có khi sinh, song le chẳng có khi nào hết (…) ». Trong sách Thánh Giáo Yếu Lý do Giám mục Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc) biên soạn, có câu sau đây : « Hỏi : ĐCT ở khắp mọi nơi, sao đây ta xem chẳng thấy ? Thưa : Vì người là tính thiêng liêng, cho nên con mắt thịt ta xem chẳng thấy » (Bản quốc ngữ viết tay năm 1774, trang 7). Trong sách Bổn (dạy giáo lý) của địa phận Hà Nội, in năm 1958 (trang 10) vẫn cứ như thế : « Hỏi : Tính thiêng liêng nghĩa là làm sao ? Thưa : Nghĩa là Đấng sáng láng vô hình vô tượng, chẳng hay hư chẳng hay nát ».

Chính vì theo giáo lý công giáo thì chỉ có một Thiên Chúa vốn là tính thiêng liêng[1], ngoài ra không có thần nào khác, cho nên khi nói về con đường thiêng liêng thì phải hiểu là con đường đưa tới Thiên Chúa. Và như đã nói trên đây, đối với người công giáo, không những đó là đường tu thân khắc kỷ, mà còn là con đường theo chân bắt chước Chúa Ki-tô, nghe lời Chúa nói trong Phúc-âm và tham gia vào đời sống phụng vụ, có các lễ nghi và các phép bí-tích. Con đường thiêng liêng ấy là con đường chung cho các giáo hữu, người Au châu gọi là « spiritualité » (spirituality).

Cũng cần phải chú ý là ngày nay có nhiều người không theo đạo Thiên Chúa, mà theo nhiều đạo khác, ví dụ như đạo Phật, hay là chẳng theo đạo nào cả, hoặc là chủ trương vô thần, họ không phải là duy vật, chỉ biết có vật chất mà thôi, nhưng họ nhất định là họ có « spiritualité » riêng, khác người có đạo, vì thế họ cho rằng không phải chỉ có người theo đạo Thiên Chúa là có « spiritualité ». Họ có một đời sống tinh thần (spirituel). Có thể là họ không tin có thiên đạo nào cả, nhưng họ sống theo nhân đạo là đạo làm người, mà con người là « linh ư vạn vật » kia mà. Vì thế có nhiều thứ « spiritualité » khác nhau. Dùng một từ ngữ « spiritualité » ấy như người Au châu, thì dễ hiểu lầm và sinh ra tranh biện vô ích. Thiết tưởng nếu ta không dùng được từ ngữ « con đường thiêng liêng » để nói về lập trường của họ, thì có thể dùng nhiều từ ngữ khác, tùy trường hợp, ví dụ như : linh đạo, tu đạo, tu thân theo nhân đạo, đời sống tinh thần , v.v.

 

4 – Con đường thiêng liêng của dòng Mến Thánh Giá

Có thể nói một cách tổng quát là : con đường tu thân thiêng liêng của dòng Mến Thánh Giá là do đạo Chúa Giêsu Ki-tô từ Au châu đem sang và đã có hội nhập văn hóa vào xã hội Việt Nam.

 

41 – Thế nào là « đi tu » ?

Khó mà nói rằng con đường này đã bắt nguồn từ các phép tu trì đã sẵn có ở Á châu. Thực vậy, trước đây người phụ nữ ở Việt Nam chỉ có hai nẻo đường là xuất giá, hay là xuất gia.

Xuất giá thì phải theo phép tam tòng, làm cho người phụ nữ như là chưa bao giờ được trưởng thành : ở nhà thì theo cha, lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con, ấy là không nói tới việc phải chịu lụy mẹ chồng. Vì thế xuất gia có thể coi là con đường giải thoát.

Xuất gia là « đi tu », nghĩa là bỏ gia đình, bỏ việc đời. Về con đường tu theo đạo Lão, thì hình như ta chỉ thấy nói đến một vài người đàn ông thời danh đã bỏ nhà vào núi tu tiên, và cũng chỉ thấy nói đến mấy cô tiên – ví dụ như Liễu Hạnh công chúa hay là Giáng Hương – từ trên trời xuống làm người ít lâu rồi lại về trời, chứ không thấy nói đến người đàn bà nào vào núi tu thành tiên cả. Về bên nhàPhật thì « đi tu » là đi tu chùa, qui y tam bảo, là : quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, làm tỳ-khưu-ni, sống một đời kham khổ trong một cộng đoàn, tu niệm, tụng niệm, để mong giải thoát ra khỏi vòng luân hồi khổ não. Xem bề ngoài thì dòng Mến Thánh Giá cũng có ít điểm tương tự, nhưng đường lối và mục đích thì khác hẳn.

Vì thế phải đặt dòng Mến Thánh Giá trong truyền thống tu đạo ở Au châu.

Trên đây ta đã nói chung chung đến con đường tu đạo chung cho các tín hữu. Lối sống đạo của các giáo hữu đầu tiên không phải là dễ dàng gì. Họ không sống trong khuôn khổ của tổ chức tôn giáo Do thái, cũng không sống trong qui chế tôn giáo của đế quốc Rôma, cho nên bị gạt ra ngoài lề, không được qui chế nào nâng đỡ cả, rồi lại bị cấm cách hơn hai thế kỷ. Đi theo con đường của một vị giáo tổ đã phải xử tử, người đệ tử biết là mình cũng phải sẵn sàng mất mạng như thầy mình. Sau thời kỳ khó khăn, giáo hữu vui mừng nhận ra là máu của nhưng người vị nghĩa vong thân đã là hạt giống sinh ra tín hữu mới. Cái vui nữa là không những lại được bằng yên, không bị bắt bớ nữa, mà còn được hoàng đế nâng cho đạo Chúa lên thành tôn giáo của nhà nước. Từ đây những vị lãnh đạo tôn giáo được trọng dụng, có danh có lợi.

Một khi có danh có lợi thì việc đạo cũng được nhiều điều kiện thuận tiện. Nhưng việc tu đạo cũng dễ bị sa sút. Những tâm hồn có lòng đạo nhận thấy rằng muốn sống đạo cho đến nơi đến chốn, thì phải bỏ hẳn đời sống phồn hoa dễ dãi, cho nên họ quyết chí một mình đi vào trú ẩn trong sa mạc xa xôi để tu thân tu đạo. Ta gọi họ là những người « ẩn tu »[1]. Sau này họ có nhiều đồ đệ đi theo, cho nên dần dần chung sống[1] trong những cộng đồng nhỏ, rồi những tu hội lớn. Ta gọi họ là những người « hiển tu » hay là « viện tu ». Cho tới đây, ẩn tu hay là viện tu đều là những người đã « đi tu », quyết chí lánh xa sự đời, bỏ gia đình, nhằm mục đích là tu thân lấy cho mình và tu đạo một cách hoàn hảo, một cách « trọn lành », theo kỷ luật, theo phép dòng.

Ngoài một thiểu số đó ra thì giáo sĩ cũng như giáo dân không « đi tu », đa số vẫn tu đạo, giữ đạo trong cuộc sống ngoài đời, vẫn lo việc làm ăn, việc gia đình và việc nước.

Vào thời Trung cổ ở Au châu, vào quãng thế kỷ thứ X, sau mấy thế kỷ loạn lạc, lòng đạo đã sa sút : không những nhiều người trong hàng giáo sĩ cao cấp, mà cả trong các tu viện giầu có, cũng chạy theo con đường danh lợi, sao lãng việc tu đạo. Giáo hội thấy cần phải có một cuộc cải cách rộng lớn. Một đàng thì cải cách các nhà dòng, đòi các thầy dòng phải trở về kỷ luật nhà dòng lúc ban đầu. Một đàng khác thì cải cách nếp sống của giáo sĩ, đòi phải lấy con đường tu đạo thiêng liêng của các thầy dòng làm mực thước. Vì thế mà từ đó giáo sĩ trong giáo hội Rôma không được phép lập gia đình, tuy họ vẫn sống và làm việc giảng đạo, mục vu, ngoài đời[1].

Đến khi các giáo sĩ từ Au châu sang Việt Nam giảng đạo, thì chúng ta theo đúng kiểu nói Việt Nam mà gọi tất cả những người đã xuất gia là người « đi tu », không phân biệt linh mục nhà dòng với linh mục triều.

 

42 – Con đường tu đạo thiêng liêng

Con đường tu đạo thiêng liêng mà các vị thừa sai đem sang cho người Việt Nam là kết quả của một truyền thống hơn một nghìn năm của Giáo hội Tây phương. Vì thế muốn hiểu con đường thiêng liêng của dòng Mến Thánh Giá, ta phải đặt nó trong khuôn khổ lịch sử của truyền thống ấy.

Ta thường coi ông thánh Biển Đức[1] (480-547) là ông tổ các nhà dòng ở Tây Au. Sách Phép Dòng ngài soạn ra[1] gồm 73 chương nói rất tỉ mỉ về nếp sống chung trong nhà dòng. Đây là sách làm mẫu mực cho tất cả các sách Phép Dòng về sau. Khẩu hiệu ngài đưa ra là « Ora et labora », nghĩa là « Hãy cầu nguyện và làm việc ». Nhưng ta không thấy nói nhiều về con đường tu đạo thiêng liêng. Có lẽ là vì đây là con đường chung cho tất cả các giáo hữu, ai cũng biết cả rồi.

Phải chờ cho đến thời Trung cổ, vào lúc có nhiều phong trào sôi nổi đòi phải cải cách triệt để trong giáo hội, từ trên xuống dưới, mới thấy có nhiều người bắt đầu trình bầy con đường tu đạo thiêng liêng một cách rất tỉ mỉ, có hệ thống mạch lạc.

Thực vậy, trong việc tu đạo, người ta vẫn giữ quan niệm đã có trong tư tưởng thánh Phao-lô, là phải tu thân khắc kỷ, phải có tập tành theo phương pháp, theo kỷ luật hẳn hoi[1].

Đến thời Trung cổ thì việc tập tành đều qui về đời sống nội tâm, chứ không quan tâm nhiều về những cái « bì phu chi ngoại », và chia làm ba giai đoạn. Bước đầu là phải đọc hay nghe đọc Sách Thánh và các sách đạo. Tiến lên một bậc nữa thì tập suy gẫm (méditation) về Sách Thánh, về những tư tưởng đạo đức và về sự chết. Bước trên cùng là cầu nguyện hay là suy ngắm (contemplation). Thêm vào đó còn có công việc xét mình đều đều. Cũng có thể theo quan điểm khác một chút mà coi việc tu đạo thiêng liêng theo ba con đường (trois voies) : một là con đường thanh tẩy (purgative, purificative) nhằm tránh các khuyết điểm và tội lỗi ; hai là con đường soi sáng (illuminative) làm cho ta biết rõ về mình và về Thiên Chúa ; ba là con đường suy ngắm (contemplative), đó là con đường hoàn hảo, trọn lành, làm cho ta kết hợp với Chúa[1]. Tuy có chia các giai đoạn một cách có hệ thống, nhưng như thế cũng chưa đi vào chi tiết cho lắm.

Cũng từ thời Trung cổ Giáo hội bị khủng hoảng vì giáo quyền tranh dành thế lực với vua chúa, để ý đến việc tổ chức hành chính, kinh tế, để cai trị, hơn là chăm lo cho đạo giáo. Đã có nhiều tâm hồn đạo đức đòi cải tổ giáo hội từ trên xuống dưới, nhưng thượng cấp không chịu nghe, lại lên án họ là làm bè rối. Chỉ có công trình cải tổ của thánh Phan-xi-cô quê ở Assisi là thành công, nhưng không phải là dễ dàng gì.Vào quãng thế kỷ XV và XVI là thời Phục Hưng, giáo hội bị khủng hoảng đến tột bực : sau một trăm năm chiến tranh và sau khi hai giáo hội Đông và Tây ly khai với nhau, thì ở Tây Au trong giáo hội cũng như trong các nhà dòng và cả trong xã hội đều lộn xộn. Chính quyền cũng như quyền bính trong giáo hội bị lung lay, hàng giáo sĩ và giới tu hành thì có nhiều người hám danh hám lợi mà sao lãng việc tu đạo, đi vào lối buôn thần bán thánh, thế rồi cá nhân không còn làm chủ được bản thân cho nên buông xuôi theo các nết xấu. Cho đến khi một nửa Tây Au về miền bắc đứng lên phản kháng giáo quyền Rôma – giáo quyền công giáo gọi họ bằng cái tên khả ố là « thệ phản » – mà lập thành các giáo hội Tin lành cải cách , ly khai hẳn với công giáo, lúc đó mới tỉnh ngộ nhưng ăn năn thì sự đã rồi.

Những người có thiện chí muốn cải cách giáo hội thấy không thể mong gì ở phẩm trật định chế, cho nên chỉ thấy có một phương tiện là tìm về đời sống nội tâm, lấy lời Chúa và gương mẫu của Chúa làm tiêu chuẩn cho nếp sống đạo. Việc tập tành đi đường nhân đức, nhất là việc suy gẫm (méditation) cần phải được tổ chức cho có hệ thống, trong khuôn khổ vững chãi. Có thế mới mong đem lại cải cách từ bên trong cho hàng giáo sĩ và giới tu hành.

Có thể nói rằng các thầy dòng, nhất là dòng thánh Phan-chi-cô, đã có công lớn trong việc này. Đại khái thì con đường tu đạo thiêng liêng cũng vẫn theo như các phương pháp và các chặng đường như thời Trung cổ. Có điều là người ta đặc biệt chú trọng vào việc suy gẫm về cuộc đời và nhất là về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, để giục lòng muốn bắt chước người. Lại suy gẫm về vận mệnh của con người là « bốn sự sau », tức là sự chết, sự phán xét, thiên đường, hỏa ngục. Nói chung thì trong thế kỷ XIV người ta chú trọng vào con đường nhân đức trọn lành (perfection chrétienne). Sang thế kỷ XV thì đặt trọng tâm vào việc ăn năn đền tội.

Con đường tu đạo thiêng liêng như thế đã được phổ biến rộng rãi trong các nhà dòng, trong hàng giáo sĩ , kể cả các linh mục của các nhà dòng được sai phái đi giảng đạo trong khắp thế giới. Cho nên dĩ nhiên là con đường thiêng ấy cũng đã được đưa tới Việt Nam. Có một số sách đạo được biên soạn vào thời ấy, cũng đã được dùng rồi phiên dịch ra tiếng Việt, ví dụ như : Sách dạy về sự đánh giặc thiêng liêng[1] của cha L. Scupoli (1530-1610) người nước Ý , Sách dạy tập đi đàng nhân đức lọn lành [1] của cha dòng Tên Alonzo Rodriguez (1531-1617), người Y-pha-nho, v.v.

Có một điều rất nên chú ý là con đường tu đạo thiêng liêng của người công giáo là một sáng kiến mới lạ đối với con đường tu ở Việt Nam thời đó. Thực vậy, người đạo sĩ bỏ con đường danh lợi, bỏ nhà vào núi đi tu tiên, thì tìm cách bỏ dần không ăn những thức ăn nặng về vật chất, như ngũ cốc. Nhà Phật thì ăn chay, đọc thần chú, đọc kinh Phật, và khi đi vào Thiền Định thì tìm cách thoát ra ngoài tam giới, không nghĩ đến gì hết và cũng không còn nghĩ gì nữa (« vô niệm »), để tìm về « Chân Không ». Người công giáo chọn đi một lối khác. Một đàng thì họ vẫn có suy niệm, nhưng không suy niệm về « Chân Không », để đi tới chỗ « vô niệm », nhưng họ suy niệm về những gương mẫu thiết thực mà Đức Giêsu đã đưa ra, và suy niệm về vận mệnh tương lai của con người. Đàng khác thì họ lấy những suy niệm đó làm tiêu chuẩn và lý tưởng, để dấn thân vào đời hoạt động, không khác gì các học trò thầy Khổng vậy.

Tôi vừa nói là có suy niệm, nhưng thực ra người công giáo rất ít khi dùng đến chữ « niệm » là chữ rất thông dụng trong nhà Phật, lại có nhiều nghĩa khác nhau, có lẽ vì sợ hiểu lầm, sợ lẫn lộn đạo giáo. Người công giáo quen dùng nhiều từ ngữ như : « suy ngắm » (contemplation), « suy gẫm » hay « suy ngẫm »(méditation).

Có một cái thần tình là khi cha ông chúng ta muốn viết « ngắm » và « gẫm » hay « ngẫm » ra chữ Nôm, thì cùng dùng một chữ Hán Việt độc nhất là « ngâm ». « Ngâm » có nhiều thể thức, như « ngâm nga », « ngâm ngợi », « ngâm vịnh », và có nghĩa là « đọc thơ với dọng rung lên và kéo dài » (TĐTV, trang 700). « Gẫm » hay « ngẫm » là suy tưởng ở bên trong[1] ; « ngắm » là nhìn kỹ vào cái ở bên ngoài mình (ngắm nghía, ngắm trông), kể cả cái mà mình hình dung ra, như khi ta « ngắm đàng Thánh Giá » ; ở đây chữ « ngắm » cũng thường đi đôi với chữ « nguyện » là « mong ước », thành ra « nguyện ngắm » ; nhưng « ngắm » lại còn có nghĩa là « ngâm », như khi ta « ngắm 15 sự thương khó ĐC Giêsu », thì ta ngân nga có cung điệu như ngâm thơ vậy. Một chữ Nôm giầu ý nghĩa như thế đã gợi cho cha ông chúng ta biết bao nhiêu điều.

 

43 – Mến Thánh Giá

Ở đây tôi không bàn đến 5 công tác mà ĐC Lambert de la Motte giao cho chị em Mến Thánh Giá. Những công tác ấy đưa các chị ra ngoài nhà dòng, để làm công việc bác ái và tham gia vào việc truyền giáo. Các chị tu đạo, không phải là để cho mình mà thôi, nhưng để làm việc cho người khác. Tôi cũng không nói đến phép nhà, dậy tổ chức cuộc sống chung của các chị cho hợp với lý tưởng, khác hẳn cái phép nhà của người không đi tu, nằm trong khuôn khổ phép tam tòng. Tôi xin hạn hẹp vào con đường thiêng liêng mà ĐC đã đề nghị cho các chị. Và tôi còn xin hạn hẹp thêm nữa : tôi không bàn đến những điểm có chung với các dòng tu khác, như ba lời khấn (nghèo khó, thanh tịnh và vâng lời), đọc kinh, ăn chay, đánh tội, hãm mình, v.v., mà chỉ xin đưa ra một vài suy nghĩ về điểm đăc biệt, riêng cho các chị : Mến Thánh Giá.

Như ai nấy đều biết, Thánh Giá, tượng trưng cho cuộc tử nạn hay khổ nạn của Đức Giáo tổ Giêsu, là trọng tâm của sách Phúc-âm và là phần đã được ghi lấy trước tiên và ghi đủ những điều cốt yếu. Nhưng cuộc tử nạn như thế là một biến cố khách quan, bên ngoài, tự nó chỉ có giá trị tiêu cực. Từ xưa đến nay trên cõi đời này, có biết bao nhiêu người khắp đó đây đã bị tra tấn và tàn sát một cách dã man. Không ai có thể nghĩ rằng nên bắt chước mà làm như thế, hay là nên bắt chước mà chịu như thế, lại càng không thể nghĩ rằng Thiên Chúa thích như thế.

Cuộc tử nạn của Chúa chỉ có giá trị, với hai điều kiện thiết yếu mà thánh Phao-lô đã ân cần nhắc lại. Một là : cuộc tử nạn ấy phải đưa tới cuộc « sống lại » (trỗi dậy) của Đức Giêsu thì mới có ý nghĩa. Vì Đức Giêsu sống lại hay là chỗi dậy được, đó là bằng chứng là Đức Chúa Cha đã cho nó có giá trị tích cực. Cho nên thánh Phao-lô viết trong Thư I gửi tín hữu Cô-rin-tô : « Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy (sống lại), thì lời rao giảng của chúng ta trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. » (1 Cr 15, 14). Hai là : cái giá trị tích cực đó là ở tại hai tâm tình bên trong. Một là ý muốn vâng lời Đức Chúa Cha đã giao phó cho sứ mệnh là làm sáng tỏ lòng thương yêu của Người đối với loài người ta. Hai là lòng mến Chúa yêu người. Về tâm tình thứ nhất, thánh Phao-lô viết về Đức Ki-tô trong Thư gửi tín hữu Phi-líp-phê : « Người còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và ban tặng danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. » ( Pl 2, 8-9). Về tâm tình thứ hai, thánh nhân viết trong Thư I gửi tín hữu Cô-rin-tô : « Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoang ( … ) Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay là nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không hận thù ( … ) » ( Cr 13, 1-5).

Tôi trưng dẫn hơi dài, nhưng thiết tưởng có như thế mới nói lên được cho rõ quan niệm của Giáo hội là giữ lấy thăng bằng giữa khổ nạn đau thương và sống lại vinh quang của Chúa. Hàng năm Giáo hội vẫn tưởng niệm cả hai việc trong cùng một lịch sử cứu độ chúng ta : Chúa chịu nạn và Chúa sống lại. Trung tâm là Tuần thánh, mà cao điểm là ngày thứ sáu Chịu nạn và ngày chủ nhật Phục Sinh. Trước lễ Phục sinh thì dùng mùa chay 40 ngày để chuẩn bị. Còn mùa Phục Sinh thì gồm từ lễ Phục sinh, rồi lễ Lên Trời, 40 ngày sau đó, và 10 ngày sau nữa là lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Đó là lễ nghi chính thức đã được phát triển trong thời cực thịnh của Giáo hội. Chứ trong buổi đầu thì đơn sơ hơn nhiều, nhưng vẫn giữ được các phần cốt yếu như thế. Và ngày nay mỗi thánh lễ mà ta dâng hàng ngày cũng là một hình thức vắn tắt tưởng niêm và tạ ơn Chúa vì lịch sử cứu độ.

Giáo dân khi còn nói tiếng La-tinh thì tích cực tham gia mà không cần các cách sùng đạo khác.

Cái thăng bằng giữa hai phần của ơn cứu độ của Chúa có thể dần dần lệch lạc đi, làm cho người ta giục lòng mến thương Chúa chịu khổ nạn nhiều hơn là mừng Chúa vinh quang. Thiết tưởng cái ý thức tội lỗi và cái thiện chí muốn đền bù, tự nó là rất phải lẽ, nhưng vì quá nhấn mạnh lên hai thái độ về phần con người, cho nên làm cho ta dễ quên đi rằng về phần Chúa cứu độ thì chỉ muốn ta tín cẩn vào Người.

Nói cho đúng ra thì trong Thánh Kinh có dùng cả hai kiểu để nói về sự cứu rỗi, là : cứu độ và cứu chuộc là hai từ ngữ có nghĩa hơi khác nhau. Cứu độ có nghĩa là cứu giúp. Người La-tinh dùng chữ salvare (Pháp : sauver, le salut) là cứu giúp cho lại được vẹn toàn (salvus, sauf). Người Đức dịch là heilen (das Heil) , nghĩa là chữa thuốc cho lành mạnh . Được cứu độ là lại được lành mạnh và vẹn toàn (Pháp : sain et sauf). Còn cứu chuộc (Hán Việt là : cứu thục) thì có nghĩa là cứu bằng cách là mua lại (như : chuộc kẻ làm tôi). Người La-tinh dịch là redemere (sinh ra tiếng Pháp là rédempteur, rédemption ), đúng nghĩa là mua (emere) lại.

Dù sao có dùng cả hai kiểu nói như thế thì cũng vẫn chưa nói đủ ý, vì chưa nói lên điểm cốt yếu là mối tương quan thân tình mà Chúa ban cho ta[1]. Nhưng nếu nhấn quá mạnh vào sự cứu chuộc, thì lại rất dễ đi đến chỗ lệch lạc hơn. Vì lẽ ta biết là trong ơn cứu độ thì cái căn bản là liên quan giữa Chúa và người ta mà thôi, vậy nếu bảo là phải mua lại, thì phải trả tiền, mà trả tiền cho ai khác nữa mới được chứ !

Để trả lời cho câu hỏi oái oăm, do cái bất cập của từ ngữ gây ra, thì người ta nghĩ ngay đến việc mua bán cho công bằng, theo đúng pháp luật. Đó là cái ưu điểm của văn hóa La-tinh, vì người La-tinh có tư tưởng rất lý sự về pháp lý (droit romain !). Nhân vật đã làm cho quan niệm về ơn cứu độ trong giáo hội Tây Au đi trệch đường theo phương hướng pháp lý sòng phẳng là thánh An-xem (Anselmus, 1033-1109), quê tại nước Ý, làm giám mục thành Canterbury (nước Anh). Lập luận của ngài còn có ảnh hưởng cho đến cuối thế kỷ XX Đó là lập luận căn cứ vào quan niệm đền bù (satisfaction) để giải thích thế nào là ơn cứu độ : đã vay thì phải trả, làm hỏng thì phải đền, mà phải trả phải đền cho đủ mới là sòng phẳng. Theo lập luận này thì « phụ trái tử hoàn », cha nợ thì con phải trả. Mình không đền được thì kẻ khác phải đền thay[1]. Mà loài người không đền được, thì phải có Chúa Ngôi Hai đền thay. Ta còn thấy rõ như thế trong sách Bổn mà chúng ta đã dạy nhau từ mấy thế kỷ nay. Xin trưng ra đây một đoạn vắn tắt, và gạch dưới những chữ quan trọng :

H. Vì lẽ nào mà Ngôi thứ Hai ra đời ?

Vì tội lỗi loài người ta đã làm mất lòng Đức Chúa Lời (Trời), cho nên Ngôi

thứ Hai đã ra đời mà lập công chuộc tội. ( … )

Loài người ta chẳng đền được tội mình ru ?

Chẳng được vì tội phạm đến Đức Chúa Lời là Đấng sang trọng vô cùng, cho

nên phải có công nghiệp Đấng trọng vô cùng thì mới đền được mà thôi.

(Bổn dạy những lẽ cần cho được rỗi linh hồn, Địa phận Hà Nội, 1958, Phần I, Đoạn II).

Quan niệm có tính cách pháp lý như thế, làm cho người ta muốn yên thân thì phải lý sự, sòng phẳng với Chúa, nhất là vì còn thêm vào đó quan niệm Chúa là quan tòa nghiêm khắc[1]. Người ta quên đi rằng trong Phúc âm, không thấy nói đến truyện « chỗ gãy đền chỗ gãy, mắt đền mắt, răng đền răng » (Sách Lê-vi 24, 20. Chúa tha tha thứ cho người có tội mà không thấy bắt đền gì cả.

Về sau khi đạo Chúa lan rộng ra, giáo dân mới thường không nói được tiếng La-tinh, cho nên không tham gia được vào các lễ nghi phụng vụ rất phong phú bằng tiếng La-tinh, thì giáo hội Rôma khuyến khích những lối sùng đạo bình dân, như : ngắm đàng Thánh Giá có 14 « nơi » , hay là đọc « kinh cầu chịu nạn ». Riêng ở Việt Nam thì có « ngắm 15 sự thương khó ĐC Giêsu »[1].

Trong những bài ngắm đó thì có thêm vào nhiều chi tiết không nói đến trong sách Phúc-âm. Dĩ nhiên đây không phải là thể văn lịch sử, nhưng là một thể văn có mục đích là đánh động lòng thương ĐC Giêsu. Khi ngắm về sự thương khó của Chúa thì người ta nghĩ đến hành động tàn bạo của lính coi tù – mà ta gọi là « quân dữ » và giáo dân Trung hoa gọi là « ác nhân » – rồi hình dung ra đủ các mánh khóe tàn ác của quân dữ. Thêm vào đó thì các họa sĩ ở Tây Au lại cứ đi theo cái khuynh hướng « tả chân » ấy mà vẽ nên khá nhiều « ảnh chịu nạn » hay là « ảnh chuộc tội » máu me đầm đìa. Các hình ảnh như thế đã được các tâm hồn đạo đức truyền bá ra khắp giáo hội Tây Au và lan cả sang các xứ truyền giáo. Cho đến nỗi người Phi-luật-tân đôi khi đã lấy lại của người I-pha-nho cái tục tưởng niệm Chúa chịu nạn bằng cách đóng đinh người thật ! Trái lại, Giáo hội Chính thống và Giáo hội Tin lành thì kín đáo hơn, và nhấn mạnh vào sự Chúa sống lại.

Rất có thể là những hình ảnh ấy đã ảnh hưởng nhiều lên các truyền thuyết cũng như lên những mặc khải riêng tư của bà thánh nọ hay chị nữ tu kia, vì ở đây ta cũng hay thấy liệt kê ra nhiều chi tiết rất tàn bạo. Nhưng tôi chưa thấy đâu đưa ra nhiều chi tiết – không biết lấy từ sách nào bên Âu châu ra – cho bằng trong một cuốn sách ngắm đàng Thánh Giá của Giáo hội Trung-hoa, tên là Thánh lộ thiện công, in bằng chữ Hán năm 1840, do tư giáo hay giám mục Á-lặc-thúc (A-lê-xù ?) chuẩn định. Trong sách này tôi thấy có mấy điểm giống như trong sách Ngắm 15 sự thương khó ĐCG ở Việt Nam, ví dụ khi bị bắt giải nộp cho « An-nát là cha vợ Cai-pha », thì « đêm ấy người ngã xuống đất 7 lần », và trên đường Thánh Giá thì Chúa ngã 3 lần ; trong hai sách ngắm đều nói là Chúa chịu « dư năm nghìn đòn ». Có khá nhiều điểm có trong sách Tàu mà không có trong sách ta, nhưng một vài chi tiết có trong sách ta mà không có trong sách Tàu[1].

Sau mỗi bài ngắm như thế, thì người ta đọc tiếp là : « Thương Đức Chúa Giêsu v.v. », rồi « xin cho chúng tôi » được giữ đạo cho nên, với ý muốn đền bù, muốn chia sẻ sự thương khó của Chúa, như thánh Phao lô viết cho tín hữu Cô-lô-xê : « Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức » (Cl 1, 24). Câu đó là do lòng mến Chúa yêu người của thánh nhân nói lên. Thiết tưởng cũng chính câu đó về sau đã gợi cho các tín hữu cái ý muốn đền bù thêm nữa – có người nói là « phạt tạ » – không những là bằng lòng chịu các sự khốn khó mình gặp (nói là « Chúa gửi cho ») , mà còn tìm cách tự phạt mình nữa, để đáng được tha thứ. Chính cái lập luận ấy đã làm cho thời Trung cổ Au châu có cái tục là, trong một vài buổi lễ ăn năn đền tội, có một số người đi trong đám rước ngoài đường phố mà « đánh tội » (tiếng Pháp gọi là « flagellants ») một cách công cộng. Cái tục đó đã thôi từ lâu rồi. Trong một số nhà dòng cũng đã có tục « đánh tội » (gọi là « discipline ») đó. Tuy vậy cái tục đó cũng không riêng gì công giáo. Thực vậy, cho đến ngày nay trong giáo phái « Si-ít » của Hồi giáo ở nước Iran và Iraq, mỗi năm vào dịp lễ « A-su-ra », kỷ niệm người con rể của giáo tổ Mô-hăm-mét, tên là Ali, bị giết trong cuộc tranh chấp quyền hành, thì người ta vẫn còn tổ chức những đám rước rất linh đình, trong đó đàn ông đi từng đàn và « đánh tội » công cộng rất hăng và rất nhịp nhàng.

Như tôi vừa nhắc lại, tất cả những cách đền bù mà người tín hữu nghĩ ra như thế chỉ có giá trị là vì lòng mến Chúa, để tăng cường lòng thống hối của mình và để nên giống Chúa. Còn về phần Chúa thì ta biết Chúa là Cha nhân từ, không muốn cho con cái bị khổ sở, lại sẵn sàng đón tiếp đứa con phung phí và người kẻ trộm lành, mà không thấy đòi bắt đền gì cả. Từ lâu rồi ngôn sứ Hô-sê đã viết về Chúa : « Ta muốn tình yêu chứ không cần hy-lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu » (Hs 6, 6). Thực ra chúng ta đều biết rõ như thế, theo như trong kinh đọc đang khi chịu lễ : « Nào còn thiếu gì mà Đức Chúa Giêsu chưa làm vì chúng tôi ru ? ».

Sau cùng, thiết tưởng cũng nên có đôi lời về sự đau khổ trong quan niệm đạo Chúa. Đời là bể khổ, ai cũng biết như thế, mà không cần phải có bậc thượng trí nào mở mắt cho thấy. Nhưng khi đứng trước cảnh khổ thì Chúa Giêsu không đặt câu hỏi : cái đó là tại ai, từ đâu mà đến ? [1]. Thái độ của Chúa không phải là đem lý luận mà giải thích, vì giải thích không yên ủi được ai, mà cũng không làm được cho ai bớt phần đau khổ. Thái độ của Chúa là chia sẻ : Chúa đã chia sẻ thân phận làm người với ta, và chia sẻ cho đến cùng, là chia sẻ cái số phận của những người tử tội. Thánh Phao-lô khuyên bảo tín hữu Rô-ma phải biết chia vui sẻ muộn : « vui với người vui, khóc với người khóc » (Rm 12, 15). Ngài cũng viết cho tín hữu Cô-rin-tô : « Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối ? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên » (2 Cr 11, 29).

Tóm lại, phải đặt Thánh Giá trong lòng mến Chúa và vâng lời Chúa, với niềm hi vọng là được dự phần vào sự toàn thắng vinh quang của Chúa. Cái viễn tượng đó đã nâng đỡ biết bao nhiêu người cam lòng « chịu khốn nạn vì đạo ngay » trong khi truyền giáo, và muốn chia sẽ đau khổ với Chúa. Nếu không có tâm tình ấy và viễn tượng ấy, thì tất cả cuộc đời tự nó chỉ là bể khổ, vô hi vọng, không có lối thoát, và như thế tốt hơn cả là tìm cách thoát hẳn ra ngoài vòng sinh tử, hay là tìm cách lờ đi, coi tất cả chỉ là ảo tưởng.

 

44 – Nhà dòng Mến Thánh Giá hôm nay

Dòng Mến Thánh Giá cũng là nhà tu như các dòng nam dòng nữ khác trong giáo hội. Mỗi dòng tu được sáng lập ra trong một thời điểm, để đáp ứng lại một nhu cầu trong giáo hội, và khi hoàn cảnh thay đổi thì dòng cũ phải biết rút lui nhường chỗ cho dòng mới đáp ứng lại đòi hỏi mới của thời đại[1]. Trên đây ta đã thấy là dòng Mến Thánh Giá có đường lối tu trì khác hẳn truyền thống các đạo khác ở Việt Nam. Xét theo truyền thống đạo Chúa thì cũng lại khác các dòng tu buổi đầu. Đi tu không phải là đi tù. Thực vậy, đi tu không còn phải là lánh xa hẳn cõi đời này, vì các chị còn có công tác là làm việc bác ái và truyền giáo ở bên ngoài nhà dòng.

Việc truyền giáo xưa kia là sứ mệnh chính của các vị thừa sai, cho nên ngay từ buổi đầu các vị đó đã tìm người bản xứ có thể trực tiếp cộng tác vào việc mở nước Chúa. Về phía nam giới thì cố Alexandre de Rhodes đã lập ra hội các thầy giảng, cũng giữ ba lời khấn như các thầy tu dòng. Sau đó mới chọn trong số các thầy giảng có kinh nghiệm và có lòng đạo để cho học tập sửa soạn làm linh mục. Cái tổ chức gồm từ các chú nhỏ đang sửa soạn làm thầy giảng, cho đến các linh mục, được gọi là « nhà Đức Chúa Trời » hay là « nhà thầy ». Dùng chữ « thầy » để gọi những người giảng dậy đạo Chúa, đó thật có hội nhập văn hóa : đặt người giảng đạo vào đúng vị trí trong cái hệ thống « quân sư phụ ».

Về phía nữ giới thì ĐC Lambert de la Motte lập ra « nhà mụ », cũng giữ ba lời khấn như các nhà dòng tu khác, nhưng còn có đường thiêng liêng riêng là « Mến Thánh Giá », và có một ít công tác giáo dục và công tác xã hội ở bên ngoài nhà dòng. Các công tác đó không trực tiếp giúp vào việc giảng đạo, vì vào thời đó ngay cả ở Au châu vai trò của nữ giới cũng chưa được đề cao. Tuy vậy, với con đường thiêng liêng là « mến thánh giá », các chị nhà dòng trong thời kỳ cấm đạo đã giúp đỡ rất nhiều cho các linh mục, các thầy giảng và các giáo hữu bị truy nã và bị cầm tù, đến nỗi nhiều khi nguy hại đến chính bản thân. Chúng ta biết có nhiều chị đã bị bắt bớ, cầm tù, và có chị phải chết rũ tù, như chị Nguyễn Thị Hậu (1814-1841).

Từ mấy chục năm nay tình hình xã hội Việt Nam đã thay đổi nhiều, nếp sống của các chị cũng không còn hẳn như trước đây mấy trăm năm. Nhưng con đường thiêng liêng đã đặt ra và tính chất thuần túy Việt Nam của nhà dòng vẫn còn hợp thời, vẫn giúp các chị theo chân Chúa, với những công tác mới, trong hoàn cảnh mới của đất nước.

Tác giả: Trần Văn Toàn, Gs.
   dunglac@gmail.com