Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Văn Toàn, Gs.
toan.tran@nordnet.fr
Bài Viết Của
Trần Văn Toàn, Gs.
Tầm quan trọng của phụng vụ
Tôn giáo hay là tín ngưỡng ?
Vô thần và Tôn giáo
Tu thân, tu đạo, tu dòng. Mấy điều tư lượng về dòng Mến Thánh Giá
Comment l’identité de la nation vietnamienne a été racontée depuis l’arrivée des missionnaires chrétiens
CHO ĐƯỢC RỖI, ĐƯỢC SỐNG CÙNG ĐƯỢC SỐNG LẠI

Đặt vấn đề 
Người công giáo Việt Nam đã quá quen dùng từ ngữ sống lại hay phục sinh để nói lên niềm tin tưởng và hi vọng của mình. Nói ra đã là khó, mà có nói ra được thì lại rất dễ làm cho người nghe hiểu lầm, rồi thì chính mình cũng lại dễ hiểu lạc đi. Lý do là vì niềm tin ấy có liên quan đến đời sau, đến thế giới bên kia. Bên kia là chỗ người bên này chưa bao giờ tới được. Nhà Phật thường dùng từ ngữ hán-việt bỉ ngạn, nghĩa là bờ sông bên kia.. Đó là phạm vi ở ngoài kinh nghiệm của ta, cho nên ta không thấy được, không hình dung ra được, cũng không quan niệm được nó là như thể nào. Ta đoán được là nó có, vì rằng chẳng lẽ thực tế chỉ hạn hẹp vào những cái mà cá nhân ta hay là cả nhân loại thấy được mà thôi. Đối với người đương thời của chúng ta, được giáo hóa theo nền học duy lý và duy nghiệm, nói về thế giới bên kia tức là nói không có bằng chứng. 

Tuy vậy người ta vẫn tò mò muốn biết thế giới bên kia. Con ong có thể cứ chúi đầu vào cửa kính tuy không có lối thoát, nhưng con người ta, ví dụ như khi đi dự cuộc biểu tình đã bị cấm, không ai muốn chạy trốn mà lại cứ chạy xô về phía mà mình biết là cảnh sát đã chặn hết lối thoát. Trong đời người ta cũng thế : nếu sống mà không biết sẽ đi về đâu, hay biết là sẽ đi đến chỗ bế tắc, thì rồi cũng có lúc người ta sẽ tự hỏi sống mà làm gì. Ở Âu Mỹ, có một số người tự tử, không phải là vì cùng cực, nhưng trái lại sống rất thoải mái sung túc, thiết tưởng đó là vì không tìm ra lẽ sống, và vì thế cho rằng có sống thêm nữa cũng là thừa. Như thế ta có đặt vấn đề thế giới bên kia cũng không tất nhiên là vô nghĩa lý. 

Đáp lại cái tò mò ấy, có những tôn giáo, ví dụ như tôn giáo Ai-cập đời thượng cổ hay là Phật giáo Tây-tạng, đã trình bầy một cách rất tỉ mỉ những sự việc sẽ xẩy ra sau khi người ta chết và ra khỏi kiếp sống này. Thế rồi căn cứ vào niềm tin tưởng ấy, mà khuyên bảo cho hồn người chết biết cách sửa soạn và xử sự như thế nào trong thế giới bên kia, để tránh được tai vạ. 

Trái lại thầy Khổng thì lại dè dặt và răn các học trò không nên bàn đến những việc ấy, trong khi bây giờ còn chưa biết sống thế nào cho phải : vị tri sinh, yên tri tử ? ( Luận ngữ , 11/ 12). Trong Thánh Kinh Cựu Ước, đạo Do-Thái cũng rất ít lời về thế giới bên kia, và còn cấm không được tìm cách giao tiếp với những người đã chết. Trong Thánh Kinh Tân Ước, đạo Chúa Cứu thế cũng theo một truyền thống như thế.  

Tuy vậy người ta vẫn giữ cái chứng tò mò, muốn biết về thế giới bên kia. Người ta đinh ninh rằng Đức Chúa có thể và thực sự cũng cho một ít nhân vật đặc biệt được biết trước (tiên tri !) những việc về sau. Trong nhiều sách ngoại thư (apocryphes) đồng thời hay muộn hơn bộ Tân Ước ít chút - những sách này không được Giáo Hội công nhận cho vào sổ Thánh-kinh - , người ta lại làm như trong các tôn giáo đã nói trên, và kể nhiều truyện và sự tích về những việc xẩy ra sau khi người ta chết. Những truyện đó, tuy không có trong Thánh-kinh, không thuộc về phạm vi đạo Chúa mặc khải, nhưng giáo dân đọc lại rất lấy làm thích thú. Nhà thi hào nước Ý là Đan-tề (Dante Alighieri, 1265-1321) đã làm thành thơ trong tác phẩm khá dài La divina commedia (Hài kịch của Đức Chúa), kể lại cuộc du hành qua địa-ngục, luyện-ngục và thiên-đường. Đàng khác, tuy biết đó không phải là Thánh-kinh, nhưng hàng giáo sĩ cũng để vậy không động đến, vì có thể dùng những truyện đó làm gương để giảng dậy giáo huấn cho người ta theo đàng lành bỏ đàng dữ. Ngày nay đạo giáo được ăn rễ sâu xa hơn vào trong Thánh-kinh, cho nên các nhà thần học Âu châu gọi đó là pastorale de la peur, dùng lối dọa dẫm làm phương tiện mục-vụ. Ở bên Việt Nam trước đây ta còn thấy dấu vết của lối giảng đạo như thế trong sách Tứ chung , giảng về ‘’bốn sự sau’’, nhất là trong những ‘’tuần làm phúc’’. Giáo dân thời đó cũng không thấy như thế là kỳ quặc, vì cũng đã quen thấy bên Phật giáo có nhiều hình vẽ thập điện Diêm-vương. Nội dung có chỗ thấy cũng tương tự như ‘’bốn sự sau’’ của ta. 

Những điều thắc mắc 

Ở Âu châu thời Cận-đại, nhà tư tưởng đã cực lực phê bình và chống lại những quan niệm về thế giới bên kia, là Ludwig Feuerbach (1804-1872). Ông là người Đức, có theo học triết-học với Hegel. Lối phê bình tôn giáo của ông trong tác phẩm Bản chất của đạo Thiên Chúa (Das Wesen des Christentums, 1841), đã ảnh hưởng rất nhiều vào tư tưởng vô-thần của Karl Marx. Có thể nói là suốt đời ông đã chú tâm vào một việc phê bình tôn giáo. Năm 1830, ông cho xuất bản nặc danh một cuốn sách nhan đề là Những tư tưởng về cái chết và về trường sinh bất tử. Tiếng là nặc danh nhưng ai cũng biết là tay ông viết ra, cho nên chính quyền đã chận hẳn con đường sự nghiệp của ông : ông không còn hi vọng gì làm giáo sư đại học nữa. Mười bẩy năm sau, khi cho xuất bản toàn tập các tác phẩm của ông, thì ông lấy cuốn sách đó, sửa chữa, rút vắn lại, đặt tên lại là Những tư tưởng về cái chết, và điềm nhiên cho in vào tập III, cùng với ba bài luận văn khác về vấn đề trường sinh bất tử. Các vấn nạn mà ngày nay người Âu châu đưa ra để phi bác quan niệm về thế giới bên kia, thì thường là từ Feuerbach mà ra, tuy nhiều người không còn biết đến tên ông. 

Nói cho cùng thì chẳng cần phải tựa vào Feuerbach, ai cũng thấy rằng vấn đề thế giới bên kia là một vấn đề gai góc. Nếu bảo rằng chết không phải là hết, thì phải hỏi là còn cái gì. Chắc không phải là cái thân xác này, vì nó sẽ mai một đi. Nếu bảo rằng còn cái hồn, thì lại vướng vào quan điểm nhị nguyên, coi con người như là hai vật (hồn và xác) biệt lập, chứ không phải là một đơn vị duy nhất. Nói cho đúng hơn thì trong quan điểm nhị nguyên, người ta thường cho rằng con người đích thực là linh hồn, chứ không phải là thể xác. Nếu nhận như các nhà hiện tượng học rằng con người là một chủ-thể dưới hình thể xác, thì khi thể xác mai một đi, con người không làm gì tồn tại được. Nếu bảo rằng nhờ phép Thiên Chúa mà con người ta được sống lại, thì người ta lại thắc mắc không biết là với cái thân xác nào, với những nguyên tố vật chất nào. Nếu là những nguyên tố mới, thì làm sao chứng tỏ rằng đó vẫn là một con người như trước. Nếu cho rằng không còn cái tự-ngã như trước, hay là nếu nói như kiểu nhà Phật rằng không có cái tự-ngã nào hết, thì tương lai như thế có liên can gì đến vận mệnh của con người bây giờ mà phải lo. Thật là lắm điều. Nhưng những câu hỏi như thế, người theo đạo Chúa Cứu thế đã đặt cả ra ngay trong mấy thế kỷ đầu.  

Feuerbach đã theo học thần học trong tông phái Tin lành, cho nên những câu hỏi như thế đối với ông không có gì lạ cả. Ông nhận xét rằng những quan niệm về thế giới bên kia thường căn cứ vào chủ trương nhị nguyên về con người. Hơn nữa, thế giới bên kia thường được coi như là quãng thời gian tiếp theo lúc người ta chết đi, và như là khoảng không gian trong đó cũng có các đồ vật như trong thế giới này. Vì thế có nhiều dân tộc, khi tống táng người chết, thường để trong mộ nhiều đồ vật, dụng cụ và tiền nong, gọi là để dùng trong thế giới bên kia. Vua chúa thì nhiều khi còn bắt chôn theo mình một số nô tỳ thê thiếp để hầu hạ nữa. Feuerbach kết luận rằng chỉ có thế giới này là có thực, còn thế giới bên kia chỉ là cái ảo ảnh mà đầu óc ta thêu dệt ra, đồng thời nó là phản ảnh của những mơ ước mà người ta đang có bây giờ và còn muốn kéo dài mãi ra trong thế giới bên kia. 

Có điều đáng ghi nhận là khi đặt vấn đề như thế, cả người tin có, lẫn người không tin có thế giới bên kia, cả hai bên đều nói như thể là mình đã biết thế giới đó như thế nào : cũng có thời gian và không gian như thế giới này. Thiết tưởng vấn đề phiền phức hơn, và vì thế cần phải đặt lại vấn đề. 

Có thật là sống lại hay không ? 

Nói cho ‘’chính danh’’ thì trong niềm tin của đạo Chúa Cứu thế, dùng hai chữ sống lại tức là nói chưa hết ý, nói chưa đúng ý. 

Thực thế, vấn đề ở đây không phải là vận mệnh riêng của cá nhân đang muốn kéo dài cuộc đời cho đến chỗ vô tận, và vì không kéo dài được kiếp sống thì muốn rằng hết kiếp này còn kiếp khác, và mãi mãi như thế. Có những vị hiền nhân quân tử cho rằng nếu thực sự có như thế thì cũng chưa hết vấn đề, vì ở kiếp nào ta cũng thấy có cái khổ đi kèm, cũng thấy có lầm có lỗi. Cho nên vấn đề là làm sao giải thoát được ra ngoài cái vòng chết đi sống lại vô tận, vì có ai dại gì mà lại muốn trường sinh bất tử, muốn sống đi sống lại, để chịu khổ vô tận. 

Trong kinh bổn của đạo Chúa Cứu thế, ta thường thấy xin cho các linh hồn ‘’được nghỉ ngơi đời đời và được sáng soi vô cùng’’, ‘’được thanh nhàn vui vẻ vô cùng’’, ‘’được rỗi được sống cùng được sống lại’’,. Cho nên tuy nói là sống lại, nhưng phải hiểu là được sống một nếp sống khác hẳn nếp sống ở đời này. Khác là ở chỗ thay vì vất vả, khổ sở, đau buồn, thì người ta hình dung ra là thanh nhàn vui vẻ ; thay vì vất vả ở trong bãi sa mạc hay là trong xứ nóng nảy, thì xin được ở nơi thanh nhàn mát mẻ (locum refrigerii) ; thay vì u mê tối tăm thì được ánh sáng. Khi đọc kinh Phật, thấy dùng những chữ, như : vô minh, vô lượng quang Phật, v.v.,ta có cảm tưởng là khi muốn hình dung ra kiếp sống này và tình trạng giải thoát ở bên bờ bên kia, người ta thường dùng một kiểu hình ảnh như nhau.  

Nhưng trong đạo Chúa điều đặc biệt và quan hệ nhất là ‘’được hưởng mặt Chúa đời đời’’, chứ không thấy nói đến nhiều kiếp sống đi sống lại, hay là nói đến trường sinh bất tử. Cho nên, thay vì muốn trường sinh bất tử mà cô độc, thì muốn được gặp mặt Đức Chúa như mình ao ước. Tựu chung thì ‘’sống lại’’ hay là được ‘’cứu rỗi’’ đều là hai từ ngữ cùng dùng để chỉ một viễn tượng như nhau, nhưng cũng chưa nói lên được cái nội-dung cốt yếu, là gặp mặt Đức Chúa. 

Khi người Âu châu muốn nói đến sự ‘’rỗi linh hồn’’, thì thường dùng từ ngữ salus (salut), salvus (sauf). Đó là những từ ngữ dùng để chỉ sức khỏe hay để chỉ tính cách toàn vẹn. Tựu chung cũng là nói về sự sống, về mạng sống của người ta. Riêng người Đức thì dùng chữ Heil, do động từ heilen, nghĩa là cứu chữa. Khi phiên dịch theo tinh thần Việt Nam thì cha ông chúng ta dùng chữ rỗi. Có lẽ rỗi có nghĩa là rỗi rãi, thanh nhàn, không vất vả như trong thế giới này. Như thế cũng là hợp với ước vọng của người dân đang sống chật vật khổ sở. Nhưng không phải chỉ có thế. 

Trong sách Thánh giáo yếu lý quốc ngữ, do Đức Cha Bá Đa Lộc (Pierre Pigneau de Béhaine) soạn, thì bản nôm viết chữ rỗi bằng cách chắp nối chữ lỗi (ba chữ thạch) với bộ khẩu ở bên tả. Nhưng điều làm cho tôi rất lấy làm thán phục là trong cuốn sách nôm Phép dòng chị em mến câu rút Đức Chúa Giêsu , do Đức Cha Phước (Paul Puginier) cho khắc in năm 1869, thì chữ rỗi được viết bằng cách ghép chữ lỗi ở bên hữu để chỉ cách đọc, và chữ sinh ở bên tả để chỉ nghĩa là sống . Nếu cách viết dùng bộ khẩu không có gì là thần tình, thì cách viết dùng chữ sinh bên tả mới thật là đúng tinh thần đạo Chúa Cứu thế. Không biết vị nào cao minh đã có sáng kiến dùng chữ sinh thay chữ khẩu như thế, vừa hợp với giáo lý, vừa đúng với thần học : được rỗi cũng có nghĩa là được sống ! Cùng một chữ rỗi mà vừa nói lên được cái ước vọng thanh nhàn, lại vừa nói lên cái ước vọng được sống mãi mãi ! Cách viết chữ nôm biết sử dụng lối hội ý như thế thật là thâm thúy, chữ quốc ngữ viết theo mẫu tự la-tinh không sao sánh được. 

Nhưng sống như thế nào mới gọi là được rỗi ? Đó là tất cả vấn đề cần phải được trình bầy. 

Nội dung quan niệm ‘’rỗi’’, ‘’sống lại’’ 

Như đã nói trên đây ‘’sống lại’’, ‘’rỗi’’, không phải là những hình ảnh hay một quan niệm đã được đẽo gọt và xác định để nói về thế giới bên kia một cách dứt khoát. Đó là kinh nghiệm của cộng đồng tín hữu đang từ từ khám phá ra thực chất của mối tương quan giữa Thiên Chúa và người ta. Mối tương quan ấy ta chưa xác định ngay được, vì hai lý do.  

 Thứ nhất : tương quan là tương quan giữa đôi bên, cho nên phải biết cả hai bên như thế nào thì mới xác định được tương quan. Vậy trong trường hợp ở đây, một bên thì ta có thể hiểu biết kha khá về con người ; nhưng bên kia là Thiên Chúa, thì ta không sao biết, nếu Thiên Chúa không tự giới thiệu, không mặc khải cho ta. Thứ hai : Thiên Chúa mặc khải cho ta trong lịch sử, cho nên phải xem lịch sử tôn giáo, nhất là lịch sử của dân Chúa, gọi là thánh sử, mới thấy Chúa đã theo lịch sử phát triển của loài người ta, mà cho ta dần dần hiểu biết ngài là ai , đã làm gì cho ta và có dự định gì về ta. Do đó, tương quan giữa Thiên Chúa và người ta cũng biến chuyển theo lịch sử. Nói chung chung thì, quan niệm của người ta về Thiên Chúa đã thay đổi nhiều, tùy dân tộc và tùy thời đại. Và đó là nền tảng cho cuộc gặp gỡ đối thoại giữa các tôn giáo. Nhưng nói riêng thì ta biết có một truyền thống tôn giáo được phát triển theo lịch sử, gồm những kinh nghiệm, tư tưởng và lối hành đạo, nối liền đạo Do-Thái với đạo Chúa Giêsu Cứu thế.  

Theo như truyền thống đó thì sự rỗi, sự sống lại không phải chỉ là kinh nghiệm về một việc đã được thực hiện trong quá khứ, nhưng còn là niềm hi vọng về một thực tại chưa hoàn toàn thực hiện, nhưng ngay từ bây giờ ta đã có thể dùng lễ nghi trong các phép bí tích để đón nhận trước, một cách tượng trưng.  

Vì thế không có ý niệm nào, không có hình ảnh nào có thể dùng để chỉ nó một cách đích xác, vì phần lớn vẫn còn ở ngoài kinh nghiệm của ta. Các hình ảnh ta dùng, như ‘’sự rỗi’’, ‘’sự sống lại’’, v.v. đều chỉ là tương đối, và cần phải được cộng đoàn dân Chúa kiểm soát và chứng thực. Nếu không thế chúng có thể chỉ là phản ảnh của những ước vọng tự nhiên của ta mà thôi.

 Hai chữ ‘’sống lại’’ mà ta quen dùng, thì nghĩa đen của nó rất hạn hẹp, không hàm súc bằng cái thực tại mà ta muốn nói đến. Vì vấn đề ở đây không phải là tái thiết, tái lập hay là dựng đứng dậy một cá nhân hay một dân tộc đã bị đánh đổ, đánh chết. Để nói về thực tại ấy, ngoài hai từ ngữ đã nói trên, thì Kinh Thánh còn dùng nhiều từ ngữ khác, ví dụ như : ‘’sự sống’’, ‘’sự sống đời đời’’, ‘’hằng sống’’ (Ga 1,4 ; 3,6 ; 6,33 ; 11,25 ; v.v.)‘’, đó là dùng từ ngữ về thời gian vô tận để nói về sự sống không còn ở trong thời gian. Ví dụ khác : ‘’ánh sáng’’, ‘’sáng soi’’ (Ga 1,4 ; 8,12). Có những đoạn văn khác nói về việc Đức Chúa cho người tín hữu được ‘’nâng lên’’, được ‘’sùng thượng’’ (Cv 2,33 ; Pl 2,9), được ‘’tôn vinh’’, được ‘’biến đổi hình dạng’’ (Mc 9,2-3), được ‘’tái tạo’’ (Cl 3,10 ; Gl 6,15 ; 2Cr 5,17), v.v. Trong kinh phép lần hạt mân côi hay là mai-khôi, khi ngắm năm sự mừng thì ta xin cho ‘’được sống lại thật về phần linh hồn’’ (bốn chữ cuối có mang dấu vết quan niệm nhị nguyên về con người !), ‘’được thưởng cùng Đức Mẹ trên nước Thiên đàng’’. Nói tóm lại là ta có thể nói về sự sống lại mà không cần dùng đến từ ngữ ‘’sống lại’’.  

Chính vì lời nói của ta rất hữu hạn không nói lên được cho hết ý, nhất là khi muốn nói về thế giới bên kia, cho nên thánh Phao-lô giải thích rằng đó là ‘’điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người’’ (1 Cr 2,9).  

Cần phải nhìn theo quan điểm lịch sử 

Tất cả những đặc điểm ta nói trên đây về sự ‘’sống lại’’ đã không xuất hiện ngay một lúc, một cách rõ rệt trong tâm thức của người tín hữu. Tín hữu đón nhận dần dần những điều đó, tùy theo lịch sử của cá nhân mình hay là của cộng đoàn. Rồi khi nói lên niềm tin của mình thì cũng thường tùy theo các điều kiện văn hóa, giáo dục và tâm lý của mình. 

Vì thế cho nên ngay trong cùng một niềm tin của đạo Chúa Cứu thế, ta thấy có tất cả một lịch sử, có nhiều lối hình dung và nhiều cách diễn tả thế nào là ‘’sống lại’’. Có khi thì nhấn mạnh vào tương lai của tập đoàn, có lúc lại chú trọng vào vận mệnh của cá nhân. Có khi thì nói rằng người ta sẽ được ‘’biến đổi hình dạng’’, có lúc lại giảng rằng người chết sẽ được sống lại. Những kiểu nói khác nhau như thế thường là tùy thuộc vào những điều kiện văn hóa khác nhau của người nói cũng như của người nghe. Ví dụ khi giảng cho người Hi-lạp, quen chủ trương thuyết nhị nguyên và tin rằng linh hồn bất tử, thì thánh Phao-lô nói rằng thân xác của người ta sẽ được sống lại (Cv 17,31-32), và đó là điểm dị biệt với quan niệm người Hi-lạp. Tuy vậy thánh nhân cũng nói thêm rằng cái xác chết đi và cái xác sống lại thật là khác nhau : ’’ Việc kẻ chết sống lại cũng vậy : gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt ; (...) gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí’’(1 Cr 15,42-44).  

Nói tóm lại : khi nói đến niềm tin có sống lại, thì có nhiều kiểu nói, nhưng không có kiểu nói nào là kiểu nói duy nhất và dứt khoát, nói lên được cho hết ý. Nhiều kiểu nói có khác nhau, nhưng đều bổ túc cho nhau, và cùng nhằm về một đối tượng cốt yếu, duy nhất : con người ta khi có liên quan thân ái với Thiên Chúa thì được sống, được biến đổi hình dạng như thế nào. Chứ không phải chỉ là để cho cái cá nhân cô độc của ta được sống lâu vô cùng vô tận. Quan niệm ‘’sống lại’’ đã có một lịch sử. Nó tùy theo cái nhìn của người ta về vũ trụ, và về chỗ đứng của mình trong vũ trụ, trong những thời đại và trong những văn hóa khác nhau. Có theo quan điểm lịch sử mà tìm hiểu, mới mong tránh được cái nhìn phiến diện lệch lạc, và giữ được đìều căn-bản.

Tác giả: Trần Văn Toàn, Gs.
   dunglac@gmail.com