Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Văn Toàn, Gs.
toan.tran@nordnet.fr
Bài Viết Của
Trần Văn Toàn, Gs.
Tầm quan trọng của phụng vụ
Tôn giáo hay là tín ngưỡng ?
Vô thần và Tôn giáo
Tu thân, tu đạo, tu dòng. Mấy điều tư lượng về dòng Mến Thánh Giá
Comment l’identité de la nation vietnamienne a été racontée depuis l’arrivée des missionnaires chrétiens
XEM XÉT VỀ KINH HẠT

Dưới cái đề-tài vắn tắt nêu ra đây tôi xin đưa ra một vài nhận xét về vấn-đề đọc kinh lần hạt. Thiết tưởng nên xem lại quá khứ, xét lại quá khứ, để tìm ra một lối sống đạo hợp với những điều-kiện mới trong giáo-hội Việt-Nam. 

Xem lại quá-khứ : Chúa khuyên cầu-nguyện, Ta thích đọc kinh. 

‘’Phải cầu-nguyện luôn’’. 

Đọc Phúc-âm ta thấy Chúa Giêsu hay tìm những nơi thanh vắng để cầu-nguyện (Mc 1, 35), và càng gặp bước khó-khăn, như khi ở núi cây ô-liu, ‘’người lâm cơn xao-xuyến bồi-hồi, nên càng khẩn-thiết cầu-xin’’ (Lc 22, 44). Đối với các môn-đệ thì Chúa dạy ‘’phải cầu-nguyện luôn, không được nản chí’’ (Lc 18, 1), và còn dạy : ‘’Hãy canh thức và cầu-nguyện để khỏi lâm vào cơn cám-dỗ’’ (Mt 26, 41). 

Có ai hỏi phải cầu-nguyện như thế nào thì Chúa dạy :’’Khi cầu-nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo-đức giả : chúng thích đứng cầu-nguyện trong các hội-đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Còn anh, khi cầu-nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu-nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh. Khi cầu-nguyện, anh em đừng lải-nhải như dân ngoại, họ nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu-xin. Vậy anh em hãy cầu-nguyện như thế này : Lạy Cha chúng con ở trên trời... (kinh Lạy Cha)’’ (Mt 6, 5-14). 

Lời dạy của Chúa thật là rõ-ràng, đơn-sơ, vắn-tắt. Bất cứ ai cũng có thể cầu-nguyện cho đúng phép, mà không cần phải tốn nhiều công-phu học-tập vất-vả với sư-phụ giầu kinh-nghiệm. Vì lẽ rằng đạo Chúa không phải là dành riêng cho một ít người có trí-tuệ, có tài-cán, có đức-hạnh xuất chúng, nhưng là con đường Chúa mời mọi người bước lên. Thế nhưng từ lâu rồi chúng ta không còn cầu-nguyện đơn-sơ vắn-tắt như thế nữa. 

b) Đọc kinh lần hạt. 

Trước đây người công-giáo Việt-Nam có thói quen đọc kinh rất nhiều. 

Về phía các linh-mục và thày dòng, thì phải đọc kinh trong sách nguyện. Mà kinh nhật-tụng thì phải đọc suốt ngày : kinh sáng, kinh giờ ba, giờ sáu, giờ chín, rồi kinh chiều và kinh tối. Khi chưa được phép dịch các giờ kinh phụng-vụ, thì phải đọc bằng tiếng la-tinh. Nếu không thạo tiếng la-tinh, thì không dễ gì mà hiểu được cho hết. Mà vì phải đọc nhiều, cho nên thường đọc rất mau. Như thế dù có hiểu được cho hết, thì cũng khó mà chú ý vào những câu mình đọc ngoài miệng. Biết vậy, nhưng các vị cũng thường tự nhủ rằng đó là kinh-nguyện chính-thức của giáo-hội, mình đọc vậy, nhưng là giáo-hội cầu-nguyện. Có khi không có thì-giờ để đọc cho hết, thì áy-náy trong lương-tâm, nên có người tìm cách hoặc là đọc dồn trước, hoặc là đọc bù sau. Vào đầu những năm 50 của thế-kỷ trước, khi phong trào các linh-mục làm thợ bắt đầu phát-triển, các đấng bề trên thường khiển trách các linh mục đó, cho rằng đây là một nếp sống mâu-thuẫn : đã làm thợ thì làm sao có thể sống như linh-mục được, làm gì có thì-giờ đọc kinh nhật-tụng suốt ngày trong sách nguyện được ? 

Sau công-đồng Vaticanô II thì giáo hội đã bớt đi cho các vị khá nhiều, nhưng như thế có còn là nhiều quá hay không, thì xin để các vị đang ở trong cuộc trả lời. 

Về phía giáo dân thì cầu-nguyện thường có nghĩa là đọc kinh lần hạt. Đọc kinh lâu, lần hạt nhiều, tức là cầu-nguyện nhiều . Mà đọc nhiều lắm. Có ván kinh sáng, có ván kinh chiều, xưa gọi là tảo-khóa-kinh và vãn-khóa-kinh . Trừ một vài kinh đọc tùy lúc, tùy mùa ra, thì ván kinh thường theo một thứ-tự nhất-định, cho nên dễ nhớ để đọc thuộc lòng hết kinh nọ đến kinh kia, từ các kinh thờ-phượng Chúa cho đến các kinh xin Đức Bà và các thánh cầu bầu cho. Nhiều khi người ta còn đọc thêm kinh cầu này kinh cầu khác, hay là lần hạt năm chục, một trăm, trăm rưởi. Có những kinh đọc riêng vào dịp lễ, vào dịp có giỗ cầu cho ông bà tổ-tiên đã qua đời. Vào dịp này người ta còn có thói quen đọc ‘’kinh cầu chữ’’, nghĩa là kinh cầu Đức Bà bằng chữ Nho, cho nó thêm phần long trọng, tuy nhiều người không hiểu gì cả, cho nên nhiều chỗ lại vô-tình đọc sai đi. Riêng về phép tôn kính Đức Bà thì còn có kinh ‘’A-ve’’, nguyện vào buổi trưa, khi nghe chuông nhà thờ đánh.  

Giáo-dân thường đọc kinh chung, to tiếng, trong gia đình. Những người không theo đạo công giáo, nhưng đã có dịp sống ít lâu trong một làng công giáo đều nhận ra như thế. Tôi có đọc trong một cuốn sách của ông Nguyễn Khắc Viện kể truyện đã quan sát như vậy khi ông đến trú-ngụ ở nhà một nông dân công giáo trong thời kháng chiến. Vì đọc kinh quan-trọng như thế, cho nên thanh niên lớn lên mà không chịu đọc kinh, đó là một nỗi lo-âu cho cha mẹ. 

Khi dự thánh-lễ, vì không tham gia trực tiếp vào ván lễ, mà chỉ ‘’xem lễ’’ thôi, cho nên người ta cũng thường đọc kinh suốt ván lễ, và về cuối thường đọc kinh cám ơn chịu lễ khá dài vì chia ra làm nhiều phần : tạ ơn, dâng và cầu xin. 

Ngần ấy thôi, chắc là chưa hết, nhưng cũng đủ thấy rằng giáo-dân Việt-Nam đọc kinh thật là nhiều. Mà càng đọc nhiều thì càng đọc mau. 

Đọc kinh nguyện ngắm 

Các vị hữu-trách trong giáo hội cũng biết là đọc kinh lần hạt chưa phải là tất cả việc cầu-nguyện, cho nên đã chỉ-định phải có thêm phần nguyện ngắm. Các linh mục và tu-sĩ thì thường có giờ nhất-định để nguyện ngắm riêng hằng ngày, vào những ngày tĩnh-tâm, ngày cấm phòng hàng năm, thì có ‘’ngắm riêng trong phòng (cho đủ năm ngày)’’, và có người ngân nga thảm-thiết đọc sách ngắm để giúp suy niệm. 

Giáo dân cũng được giúp đi sâu vào các mầu-nhiệm trong đạo bằng cách nghe các kinh ngắm, các sách ngắm. Có nhiều thứ ngắm, như : ngắm đàng tháng-giá, ngắm bảy sự thương khó Đức Bà, đọc tràng hạt mân côi, ngắm năm sự vui, năm sự thương, năm sự mừng, ‘’ngắm rằng’’ trong khi ngắm mười lăm sự thương khó Đức Chúa Giêsu, hay là ngắm khi nghe giảng sự thương khó Đức Chúa Giêsu. Rồi trong ‘’tuần làm phúc’’ cũng có suy ngắm khi đọc kinh ‘’Lạy Chúa Ngôi Hai’’, viết theo kiểu vãn, mỗi câu bốn chữ. Lại còn ngắm lễ theo các mùa khác nhau, v.v. 

Cứ sự thường thì suy ngắm đi đôi với đọc kinh : ‘’Khi ngắm bấy nhiêu sự thì nguyện một kinh lạy cha mười kinh kính mừng’’. Cho nên việc đọc kinh vẫn là phần quan trọng. 

2- Xét lại quá khứ : Lấy phép cầu-nguyện, Làm luật đức tin. 

Phép cầu nguyện. 

Trong đạo chúng ta có một tiêu-chuẩn rõ-rệt là : phép cầu nguyện cũng là luật đức tin. Nghĩa là : cách thức cầu nguyện là do đức tin định hình. Vì thế cứ xem vào lời cầu nguyện và cách thức cầu nguyện thì biết người ta có tin tưởng ra sao. 

Hiện nay ngoài những kinh đọc thật đầy đủ ý-nghĩa ra, lễ-nghi phụng-tự của chúng ta rất là phong-phú, vừa đẹp, vừa trang nghiêm, làm cho tình-cảm người ta xúc-động. Nhưng mà tín-lý cũng lại rất phức-tạp, ngôn-ngữ trừu-tượng khó hiểu, nhiều khi làm cho người ta đau đầu. Có những chân-lý căn bản, vì là do Chúa mặc-khải qua các thánh-nhân, được diễn-tả ra cho rõ-ràng dễ hiểu qua các công-thức thần-học, lại có những chân-lý tuy không phải là do mặc-khải, nhưng gắn liền với các chân-lý thần-học, cho nên cũng được coi như là vững chãi, rồi lại có những chân lý mà Tông-tòa Roma cho là phải tin một cách dứt-khoát. Ai cũng biết rằng các chân lý ấy không có một giá trị như nhau, có cái chính cái tùy, có cái chắc cái không chắc. Thế mà Tông-tòa cho là phải tin phải vâng một loạt như nhau cả, thì làm sao tránh được thiên-hạ trách mình là giáo-điều . Nhưng đó là vấn-đề khác cần phải xét tỉ-mỉ sau này. 

Trở lại cái tiêu-chuẩn tín-lý, ta có thể căn-cứ vào phép đọc kinh lần hạt để nhận ra nội-dung của đức tin, đồng thời cũng có thể căn cứ vào tín-lý để xem kinh hạt của ta có phải phép hay không. Một ví-dụ : trong kinh ông thánh Phan-chi-cô Xa-vi-e cầu cho kẻ ngoại trở lại, có một đoạn vắn vẫn đọc trước đây quãng nửa thế-kỷ (Lạy Chúa kìa những linh-hồn ấy đang sa xuống ...), nhưng nghe nó làm sao ấy ; tôi bái-phục các đấng bề trên đã xén đoạn đó đi (bao giờ không biết), để cho nó hợp với tín-lý hơn.  

            Xem lại cuốn sách kinh đã dùng trong lúc thiếu-thời, tôi thấy thật là có qui củ có lý-sự. Mỗi kinh đều vắn tắt, lại có mạch lạc, có phần đoạn tử-tế, chứ không có ‘’lải nhải’’ như một số kinh mới đặt (ví dụ như một vài kinh kính Đức Bà hằng cứu giúp). Trong phần thờ-phượng Chúa thì các kinh đọc đã diễn-tả được hết các tâm-tình đạo-đức, đã nói lên lòng tín-cẩn, lòng trông cậy, lòng kính mến, lòng cám ơn, lòng ăn-năn tội, v.v. Khi cầu-nguyện, thì ta ‘’xin Chúa nghe cho chúng tôi’’, ‘’xin Chúa nhận lời chúng tôi’’, ‘’xin Chúa thương xót chúng tôi’’, ‘’xin Chúa ban cho ... ‘’. Còn đối với Đức Bà và các thánh, thì ta xin ‘’cầu (cùng Chúa) cho chúng tôi’’. Trừ một vài trường hợp mới đây người ta xin Đức Mẹ ‘’thương xem’’, hay là nói đến Đức Bà ‘’ban ơn’’, thì có lẽ đó là vào lúc người ta bắt đầu bỏ quên cái trật-tự ở trên trời . Chứ thời xưa các đấng đặt ra kinh đọc đã không quên lãng như thế. 

            Ngoài những kinh đọc nói lên niềm tin, chúng ta còn nhiều kinh khác có mục-đích giảng dạy, thường đọc vào ngày chủ-nhật, trước khi cử-hành thánh-lễ, như : kinh 10 điều răn ĐCT, kinh 6 điều răn Hội thánh , kinh 8 mối phúc thật, kinh cải tội 7 mối có 7 đức , v.v. 

            Ngoài các kinh như thế, dĩ-nhiên là còn sách bổn. Cho nên có thể nói là kinh bổn của ta đã dạy cho giáo dân biết khá đủ về niềm tin để giữ đạo, nghĩa là thờ Thiên-Chúa cho hợp với thiên-đạo và cư-xử đối với người đồng loại cho đúng nhân-đạo . Tôi dám chắc là trước khi có đạo Thiên-Chúa ở đất Việt-Nam, chưa ai nghĩ đến việc giảng dạy tôn giáo một cách cặn kẽ như thế, và viết lên sách vở hẳn-hoi như thế. 

Luật đức tin. 

Nếu ta xét theo lời Chúa dạy thì trong khi cầu nguyện, một là chúng ta không cần dài lời, và chỉ cần vài lời thôi (đừng lải-nhải) ; hai là chúng ta cũng không cần xin xỏ nọ kia, vì nếu Cha trên trời đã biết chúng ta cần gì, thì cần gì phải xin nữa ? Và nếu bạ cái gì cũng xin thì Chúa sẽ bảo : ‘’Các anh không biết các anh xin gì !’’ ( Mc 10, 38). 

Thế nhưng chúng ta vẫn cầu, vẫn xin. Và như thế vẫn không phải là vô nghĩa. Vì trong các tôn-giáo người ta thường cầu xin với thần-linh, với Trời Phật đủ điều, nhưng nhất là vì khi cầu xin thì ta nhìn nhận rằng ta thiếu thốn và tùy-thuộc vào Thiên-Chúa, đồng thời tin rằng Thiên-Chúa không phải là vô-tình. Đó là bước đầu trong tôn giáo. Nếu người ta không cầu xin gì cả, thì hoặc là vì cho rằng mình tự-lập, không cần đến ai, và cũng không muốn cần đến ai, hoặc là vì cho rằng guồng máy trời đất vận-chuyển một cách vô-tình, tuần-hoàn theo luật nhân-quả mà không ai thoát được, cho nên cầu khấn cũng vô-ích, và nếu thấy cái nghiệp của mình là chướng, là khó chịu, thì phải chịu khó vậy, chứ biết làm sao.  

Nhưng nếu tôn-giáo rút cục chỉ là cầu xin mà thôi, thì ta khó mà tránh được lời phê-bình của Ludwig Feuerbach, một trong mấy ông tổ của học-thuyết vô-thần. Ông lý-luận thế này : hành đạo như thế, xem bề ngoài là thờ Đức Chúa, nhưng thực ra là người ta thờ chính mình, vì coi mình là trọng-tâm, là cùng-đích, Đức Chúa chỉ còn là phương-tiện để cho mình được mọi điều mình cần. 

Đúng thế, cầu nguyện không phải chỉ là cầu xin. Ngay từ thời đạo cũ là đạo Do-thái, lời cầu nguyện đã để trọng-tâm vào việc tung-hô ngợi khen Đức Chúa cao cả đã tạo thiên lập địa, vào việc cảm tạ Chúa đã tạo nên các vật trong trời đất cho người ta được dùng, đã giải-phóng và hướng-dẫn dân người qua Biển Đỏ mà và đất Chúa đã hứa cho. Người công giáo chúng ta còn thêm vào đó lời cảm tạ Chúa đã cho chúng ta Đức Giêsu, để giảng dạy và cho ta thấy lòng Chúa đối với ta như thể nào. Lời cảm tạ ấy được long-trọng tuyên-xưng trong lễ Đại-tạ, là lễ Mi-sa, tưởng-niệm đến đời sống và cuộc tử-nạn của người. Tôi trộm nghĩ : có lẽ vì khó tham-gia, hay là không tham gia được vào lễ Đại-tạ, cho nên người ta đã tìm cách cho giáo dân bù vào đó, bằng cách đọc kinh lần hạt thật nhiều. 

Một điểm nữa trong luật đức tin cũng cần nhắc lại : chúng ta thờ phượng một chứ không phải ba Đức Chúa Trời. Cho nên lời cầu nguyện chính thức của gíáo-hội đều hướng thẳng về một Chúa (Cha), qua Đức Giêsu, trong Thánh-Thần của người, mỗi ngôi có chỗ đứng khác, không như nhau. Ví-dụ ngay trong kinh Đức Chúa Thánh-Thần, thì lời nguyện không hướng thẳng về ĐCTT, nhưng : ‘’Chúng tôi cầu cùng ĐCT xưa đã cho ĐCTT xuống soi lòng dạy-dỗ các thánh tông-đồ, thì rày chúng tôi cũng xin ĐCT cho ĐCTT lại xuống yên-ủi dạy dỗ chúng tôi là những việc lành vì công nghiệp ĐC Giêsu Kirixitô là Chúa nhúng tôi’’. Nghĩa là không có cầu nguyện riêng với từng ngôi. Sau này khi người ta cầu nguyện riêng với Thánh-Tâm ĐC Giêsu, thì là do lòng sùng đạo chị nữ-tu này bà thánh kia cổ-võ, để chống lại quan-niệm duy-lý của người đương thời, chứ không căn cứ vào truyền-thống phụng-vụ của giáo-hội. 

Bên ngoài truyền thống phụng-vụ.

Phép cầu-nguyện và luật đức tin là thế, nhưng nếu người ta đôi khi không theo hẳn truyền-thống phụng-vụ chính-thức, thì cũng không phải là không có lý do. 

Thực vậy, ngay từ trước đây mươi mười lăm thế-kỷ, giáo hội la-tinh ở Tây-Âu đã quen dùng tiếng la-tinh trong kinh-nguyện và trong phụng-vụ, chứ không thích dùng tiếng nói của người thường dân trong các lễ-nghi tôn-giáo chính-thức, như giáo hội Chính-thống ở Đông-Âu thường làm. Như thế là người dân bị đẩy ra ngoài rìa phụng-vụ chính-thức. Đã thế sau này, như tôi đã giải-thích trong một bài khác, vì vai trò trung-gian của Đức Giêsu bị lu-mờ đi, cho nên người ta đề cao vai trò trung-gian của Đức Bà và các thánh ở trên trời, của vị giáo-tông, của các giám mục và linh mục ở dưới đất, và vì thế giáo dân chỉ còn cách là cầu nguyện bằng tiếng nói thông thường, bên ngoài phụng-vụ chính-thức, và đọc kinh lần hạt thật nhiều, kính Đức Bà và các thánh, đến nỗi ngay cả trong khi có linh-mục cử-hành thánh-lễ Đại-tạ Mi-sa cũng vậy. Thêm vào đó người ta còn hay tổ chức rước kiệu, hành hương (trẩy hội) là những hoạt-động tôn-giáo rất quen-thuộc đối với người dân cả trong đạo lẫn ngoài đạo. 

Ngày nay nên làm gì ? 

Ngày nay phụng-vụ được cử-hành bằng tiếng nói của người dân và vai trò trung-gian của Đức Giêsu lại được đề cao và được đặt làm trung-tâm, thì việc xét lại cách-thức cầu-nguyện của chúng ta cũng là một truyện đương-nhiên. 

Như đã nói trên đây, thanh-niên lớn lên thường bỏ kinh hạt, làm cho cha mẹ có đạo không an-tâm. Tuy vậy tôi nghĩ không ai dám kết luận lếu-láo rằng phải dẹp bỏ cả đi cho nó hợp thời. Vấn-đề là phải tìm lại ý-nghĩa của kinh hạt và vị-trí của nó trong đời sống tôn-giáo. Có thế mới tránh được cho kinh hạt không còn phải là tác-động của con vẹt (lải-nhải, như Đức Giêsu đã nói), nhưng là việc có ý-thức và có ý-nghĩa. 

Kinh hạt không phải là tất cả đời sống tôn-giáo, vì ngoài ra còn có nguyện ngắm, và nhất là có thánh lễ Mi-sa và các phép bí-tích khác. Về điểm này thiết tưởng không có gì phải thay đổi cả, vì giáo dân ta rất hay dự lễ Mi-sa, hầu như ngày nào cũng đi lễ, và vì lễ được cử-hành bằng tiếng Việt, cho nên người ta tham gia sốt sắng. Thiết tưởng việc dự lễ đại-tạ như thế quan trọng hơn là đọc hàng trăm kinh để xin Đức Bà và các thánh làm trung-gian cầu cho ta, quan trọng hơn nhiều vi ta tiếp xúc thẳng với vị trung-gian độc nhất trong phép bí-tích Thánh-Thể. Tôi không đề nghị bỏ hết kinh hạt đi, nhưng chỉ đề-nghị phụng-tự phải theo thứ-tự, phải biết phân-biệt đâu là chính đâu là tùy. 

Ngày xưa giáo dân không tham gia được vào kinh nguyện chính thức của giáo hội được, thì đọc kinh bằng tiếng nói thường nhật, không đọc 150 thánh-vịnh bằng tiếng la-tinh được, thì lần hạt một trăm rưởi. Ngày nay Sách Thánh đã được dịch lại và được phổ-biến, cho nên thiết tưởng cũng nên cầu nguyện theo như cách-thức giáo-hội đã lấy lại của đạo Do-thái. Nghĩa là : bắt đầu là đọc lời Chúa trong Cựu-ước hay là Tân-ước. Sau khi nghe lời Chúa, thì mình phát biểu tình cảm bằng cách đọc thánh-vịnh. Và sau cùng thì đọc lời cầu-nguyện. 

Chính vì thánh-vịnh là lời thơ, cho nên người ta cũng hay dịch ra thành thơ, rồi phổ nhạc vào để mọi người đồng-thanh ca hát. Thày Martin Luther, người Đức, ông tổ của phái Tin Lành, và nhiều người theo Tin Lành, như Claude Goudimel (1505-1572) ở Pháp, v.v., xưa kia cũng quen làm như thế và đã làm giầu cho cuốn Sách Hát của Tin Lành. Bên Việt Nam có nhiều người sáng-tác bài hát, thiết tưởng cần phải căn-cứ vào thánh-vịnh và vào Sách Thánh để đặt từ sao cho hợp lẽ đạo, đồng thời cũng duy-trì được tứ thơ. Nếu không như thế thì dễ đi đến chỗ lời ca quá ư tình-cảm, và điệu hát than thở ướt át. Có lẽ vì bên Tây cũng như bên ta, các bài hát tôn-giáo có nhiều cái thiếu sót như thế, cho nên càng làm nhiều, thì lại càng không thỏa-mãn, và lại càng sáng-tác nữa. Đôi khi tôi tự hỏi : thay vì vô số bài hát (càng làm tốn công tập hát), nhiều khi khó hát nên chỉ dành riêng cho hội hát, thì sao không thử làm thành thơ lục bát, hay là thơ tứ tự, để cho mọi người đọc chung có hay hơn không ? Trong sách kinh cũ của ta thực sự đã có một ít bài thơ như thế rồi, và xem ra cũng hợp với tinh-thần Việt Nam khá, vì thực ra ngày nay ta mới học hát theo kiểu người Âu-châu, chứ xưa kia ta không có hát, nhưng chỉ đọc kinh đọc thơ theo nhiều cung điệu khác nhau thôi. Nhưng thôi, tôi xin đưa ra mấy suy nghĩ này để trình các vị hữu-trách xét. 

Sau cùng là lời cầu nguyện. Tôi nghĩ : về điểm này ta có thể lấy lại trong sách kinh rất nhiều, nhưng nên tránh đừng dài lời, kẻo bị Chúa khiển trách. Nhưng ta cũng có thể đặt ra nhiều lời nguyện vắn-tắt đầy đủ ý-nghĩa và phù-hợp với từng hoàn cảnh. 

Mấy lời đề-nghị trên đây không có mục-đích phế bỏ cuốn sách kinh cũ, nhưng chỉ muốn sao cho kinh hạt được đặt cho đúng chỗ, đồng thời cũng muốn cho kinh nguyện của chúng ta theo cho sát kinh nguyện của giáo hội, nhất là để chúng ta nghe lời Chúa nhiều hơn. Tôi nhận xét rằng anh em bên Tin Lành, khi cho in sách Tân-Ước, thì cũng in kèm vào đó 150 thánh-vịnh, để sau khi đọc lời Chúa, người ta có sẵn ngay lời cầu nguyện. Thiết tưởng đó cũng là một thói quen tốt.

Tác giả: Trần Văn Toàn, Gs.
   dunglac@gmail.com