Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
trucdang@free.fr
Bài Viết Của
Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
Hội đồng Giáo hoàng "Công lý và Hoà bình" : Nhân quyền và Giáo hội - Những suy tư lịch sử và thần học
Nội dung thiết yếu và tối thượng của văn hóa
Ngày gặp gỡ văn hóa thường niên Việt Nam hải ngoại: lần đầu tiên được tổ chức tại Bruxelles , tháng 08 năm 2008
Chứng Từ Về HY TGM Nguyễn Văn Thuận
Giáo hội công giáo và Nhân quyền
Phát biểu về ba tác phẩm “Về nguồn, Thức tỉnh và Vietnam, a painful transition” của LS Lâm Lễ Trinh
Các bài viết nối kết
KITÔ GIÁO VÀ CÁC TÔN GIÁO : LỜI TỰA


Xem Bài đã đăng

Bản dịch từ bản pháp văn « le christianisme et les religions » do Centurion - Les Éditions du Cerf, Paris, năm 1997. Xuất bản với giấp phép của Đức TGM Joseph Doré  « Les Éditions du Cerf »

 


Người dịch : Nguyễn đăng Trúc

Đọc lại : Linh mục Đamianô Trần minh Công O.Cist

 Linh mục Vicentê Lê phú Hải O.M.I

Kỷ thuật : Lê văn Yên, Phan đức Thông, Đỗ văn Bùi

 

o0o


Lời tựa

 

 

Vào những ngày cuối của nhiệm kỳ năm năm (1992-1997), Ủy ban quốc tế về thần học (CTI) đã chủ tâm cho ra một trong những tài liệu đáng lưu ý nhất về vấn đề tương quan giữa kitô-giáo và các tôn giáo, đấy là một « dấu chỉ thời đại » hùng hồn. Bản văn đã được toàn thể Ủy ban đồng ý theo thủ tục đặc biệt (in forma specifica) trong kỳ họp vào tháng mười năm 1996 ; sau đó được đệ trình lên vị chủ tịch là hồng y Joseph Ratzinger, tổng trưởng Bộ đức tin, ngài cho phép phổ biến. Bản gốc bằng tiếng tây-ban-nha và được dịch ra tiếng pháp từ tháng tư 1997 [1] . Tuy thế bản văn xuất bản lần nầy trong bộ sách quí « Các tài liệu của các Giáo hội » (Centurion-Ed. du Cerf) còn có một vài đính chính [2] .

Bài Tựa nầy không nhằm thay cho việc đọc bản văn hoặc chỉ làm công việc tóm lược bản văn, nhưng mong nêu lên mục tiêu tổng quát và tinh thần chung, khi trình bày rõ những định hướng chính yếu và những gì được bản văn nhấn mạnh một cách đặc biệt. Hẳn nhiên là công việc trình bày sẽ lưu ý nhiều hơn đến khung cảnh văn hóa của vùng nói tiếng pháp.

 

I. VẤN ĐỀ… VÀ...VẤN ĐỀ

1. Vấn đề sự kiện thực tế và vấn đề pháp lý

Ngay sau phần dẩn nhập ngắn gọn, bản văn thấy cần phải dành phần đầu để nói về hiện trạng của vấn đề (status quaestionis) "thần học các tôn giáo", sự kiện đó rất có ý nghĩa. Thật thế, sự kiện đưa vấn đề vào khuôn khổ một nền thần học và chú tâm suy xét kỷ lưỡng chủ đề ấy cũng đủ để nói lên tầm quan trọng của vấn đề các tôn giáo trong thần học công giáo, mà Ủy ban quốc tế về thần học xét thấy cần phải nhìn nhận, không phải chỉ về mặt pháp lý nhưng còn về sự kiện thực tế (và không chỉ về mặt sự kiện thực tế mà còn về mặt pháp lý).

Vấn đề sự kiện thực tế không còn có thể tranh cãi gì nữa. Ngay câu đầu của bản văn đã nêu rõ : « Vấn đề về các mối tương quan giữa các tôn giáo ngày càng trở nên quan trọng». Tại sao ? Chỉ vì nhịp độ gia tốc của một số các thành tố trong thế giới tân kỳ : " Những sự kiện về truyền thông và tương thuộc giữa các dân tộc và văn hóa đã giúp chúng ta nhận ra nhiều tôn giáo khác nhau trên hoàn vũ, với những nguy cơ cũng như những may mắn liên quan đến tình trạng nầy".(2)

Còn về vấn đề pháp lý, nó phát sinh từ sự kiện thực tế đó: nếu sự kiện có nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới là một thực tế, thì vấn đề cần có một « sự suy xét » có tính cách thần học không thể nào không đặt ra : phải quan niệm và « nhìn nhận » những « tôn giáo khác ấy » ngay từ nơi sự khác biệt của họ như thế nào? và phát xuất từ đó phải vận dụng các phương thế để tiến hành một cách sáng suốt cuộc đối thoại trách nhiệm với các tôn giáo như thế nào?, bởi lẽ cuộc đối thoại ấy nay đã trở thành cần thiết.

 « Mục đích chính » toàn bộ bản văn là đề nghị những « suy tư » nhằm « đưa ra một số nguyên tắc thần học » (3), giúp tiếp cận với thực trạng nầy và xử sự đúng theo sứ điệp kitô giáo trong hoàn cảnh ấy.

 

 

2. « Vấn đề thần học nền tảng »

Sau khi ghi nhận tầm quan trọng và khẩn trương của vấn đề các tôn giáo (khác), Ủy ban quốc tế về thần học nêu lên tức khắc vấn đề "nằm dưới" vấn đề ấy - đó là "vấn đề thần học nền tảng", mà ít nhất tình trạng đa nguyên tôn giáo mà thôi, tự nó, cũng đã đặt thành vấn đề trong xã hội chúng ta. Và lối đặt vấn đề thần học ở đây rõ rệt và chuẩn xác : « Vấn đề được nêu lên như sau : Các tôn giáo có phải là những trung gian của ơn cứu độ cho các tín đồ của mình không?» (8).

Tiến xa hơn một bước nữa, bản văn thẳng thắn ghi nhận rằng, khi đối diện với những vấn đề nầy, không những « thần học về các tôn giáo chưa đưa ra một qui chế về tri thức học nhất định » (4), mà các giải pháp đã từng được nêu lên lại không đồng bộ chút nào, trong dư luận chung của kitô hữu cũng như nơi các nhà thần học. Ta có thể thấy hai lập trường cực đoan : một mặt là một quan điểm chủ trương khắt khe tuyệt đối, gắn bó với một nền giáo hội học tập trung rõ rệt, quả quyết rằng tin vào Giáo hội và trung thành với giáo huấn buộc phải từ khước mọi giá trị cứu độ và mạc khải nơi các tôn giáo "không phải là kitô giáo" ; và mặt khác là một chủ trương tương đối hoàn toàn, cho rằng không có phương cách nào đứng đắn để tỏ lòng " kính trọng" các tôn giáo khác một cách phải lẽ, ngoài việc nhìn nhận rằng tất cả các tôn giáo đều có khả năng dẫn đưa tất cả tín đồ trung thành của họ đến ơn cứu độ, trong khuôn khổ tôn giáo liên quan và do tự bản chất các tôn giáo ấy.

 

3. Những giải đáp gây thành vấn đề

Bản văn rõ rệt khước từ cả hai lập trường trên. Một mặt, nó từ chối chủ trương đa nguyên « tự do » có khuynh hướng – ngay cả việc minh nhiên lên tiếng - rằng tất cả các tôn giáo đều giá trị như nhau... Nhưng điều đáng ngạc nhiên là tại sao chủ trương nầy chỉ vì nhân danh nhu cầu « liên lạc truyền thông » mà buông bỏ sứ điệp kitô giáo trong một thế giới đang thiếu vắng những đề nghị về « các ý nghĩa » và « các giá trị » ? Có thể nào lại đầu hàng sớm như thế trước « thắc mắc về chân lý» ( 13-15) ? Và nếu vấn đề nầy thực sự gắn liền với vấn đề « Thực Tại Tuyệt Đối », thì ta có dám cho rằng tất cả mọi giải đáp cho «thắc mắc về Thiên Chúa » ( 16-17), toàn khối hỗn tạp đó, đều được xếp đồng hàng với nhau hay không?

Mặt khác, bản văn cũng từ khước chủ trương khắt khe tuyệt đối tự nhận là kitô giáo...Và nhân dịp chúng ta cũng biết thêm rằng đường hướng nầy của bản văn không những không phải là quan điểm đa số trong nội bộ các tôn giáo cùng đồng hành với mình, mà cả Hội Đồng Đại Kết các giáo hội (không công giáo) cũng « chưa bước qua giai đoạn ấy» ; và cuối cùng ngay trong nội bộ giáo hội công giáo, những ngại ngùng dè dặt không thiếu, ngay cả khi chỉ nêu lên vấn đề có thể có một giá trị cứu độ nào nơi « các tôn giáo khác » hay không mà thôi !

 

4. Vấn đề đặt ra ra cho chính kitô giáo

Trước khi nói đến các lập trường riêng của bản văn, cũng cần nêu lên một khai lộ khác nữa cho lối đặt vấn đề. Nếu bản văn minh nhiên xác định "chúng ta nhìn nhận nơi Đức Giêsu Kitô và chỉ nơi Ngài là Vị Cứu-Độ duy nhất và phổ quát cho nhân loại" (18), thì nó cũng không ngại nói thêm rằng điều được trình bày như là cốt lõi của đức tin kitô giáo như thế sẽ giúp xác minh một cách dứt khoát vấn đề trước đây được xem như là " vấn đề thần học nền tảng". Vấn đề "giá trị cứu độ của các tôn giáo", nay cần được nhấn mạnh là " thiết yếu gắn liền" với " vấn đề kitô học " (19) ; nó gắn liền và phát sinh từ vấn đề kitô học : " Làm sao một biến cố đặc thù và lịch sử lại có thể là phổ quát được? Làm sao có thể tiến tới một cuộc đối thoại liên tôn trong sự tôn trọng các tôn giáo khác và không tiền kiến các tôn giáo ấy như là bất toàn và thấp hơn, nếu chúng ta nhìn nhận nơi Đức Giêsu Kitô và chỉ nơi Ngài là Vị Cứu Độ Duy nhất ?(18).

Và nói cho đúng đây là vấn đề đặt ra cho chính kitô giáo : « Khó khăn nhất của kitô giáo luôn nằm trong mầu nhiệm nhập thể của Thiên Chúa, con người và hành động của Đức Giêsu Kitô là những đặc điểm của duy nhất và phổ quát tính liên quan đến sự cứu độ nhân loại » (18). Nên không lạ gì khi Ủy ban quốc tế về thần học xác định « những phận vụ » mà « một nền thần học kitô giáo về các tôn giáo phải đương đầu » trong « hoàn cảnh » hiện nay như thế nầy: « Trước hết, kitô giáo sẽ phải nỗ lực để tự ý thức và tự thẩm định lại chính mình trong khung cảnh của tình trạng đa biệt của các tôn giáo ; nó phải suy tư một cách cụ thể về chân lý và tính phổ quát mà nó chủ trương » (7).

Từ đấy có thể rút tỉa được quan niệm về sinh hoạt tông đồ mà Giáo hội phải chu toàn và về ý nghĩa đối thoại tôn giáo (23-26) mà kitô hữu sẽ dấn thân thực hiện.

 

5. Một vấn đề không đặt ra ở đây

Và cũng đừng lầm về vấn đề đặt ra ở đây ; về điểm đó bản văn còn giúp minh định lối đặt vấn đề thần học kitô giáo khi suy tư về mối tương quan giữa kitô giáo với các tôn giáo (khác).

Bản văn nhấn mạnh rằng vấn đề không phải là thắc mắc xem những « người không phải là kitô hữu », bậc tu hành hay người trần tục, tín đồ hay không phải thực sự là tín đồ, có thể được cứu độ hay không – cứu độ ở đây được hiểu là cứu độ trên bình diện cá nhân dù con số được cứu độ tiên thiên được hiểu là vô tận. Trong khuôn khổ của vấn đề đặt ra, bản văn nhắc lại rằng điểm nầy đã rõ ràng trong truyền thống thần học công giáo ; số 81 nói : " Sự cứu độ có thể thực hiện ngoài Hội Thánh [mặc dù không phải ở ngoài Đức Kitô] đối với những ngưới sống theo lương tâm mình không còn phải là một đối tượng để tranh cãi " ; và phần cuối số 81 minh định : " Nhưng nếu nói rằng các tôn giáo tự mình có thể có một giá trị trong khuôn khổ của sự cứu độ, thì đó là một điểm còn cần bàn cãi ". Ngay từ số 8 khi tìm cách giải thích « vấn đề căn bản », thì chúng ta đã phân định rằng vấn đề ấy liên hệ đến « các tôn giáo » trong chiều hướng (nơi tư cách là những tôn giáo) có thể trở thành « những trung gian cứu độ », « những trung gian độc lập mang sự cứu độ ». Và bản văn đã kết luận : « Như thế, cần định vị qui chế của kitô giáo và các tôn giáo như là những thực tại xã hội văn hóa liên quan đến sự cứu độ con người. Đừng lẫn lộn vấn đề nầy với vấn đề ơn cứu độ của các cá nhân, kitô hữu hay không kitô hữu. Người ta thường không lưu ý đến sự phân biệt nầy một cách đúng mức ».

Ta thấy việc trách móc bản văn là ngăn chặn không để ơn cứu độ (kitô giáo) đến với tất cả mọi người không phải là kitô hữu, hoặc chỉ đồng ý một cách hạn chế thôi, là thiếu căn cứ. Cần lưu ý là một nền thần học về ơn cứu độ của những người không phải là kitô giáo – theo ngôn ngữ truyền thống là : «sự cứu độ các người ngoại giáo» - chưa phải là một « nền thần học về các tôn giáo». Nên ở đây , khi tiến hành xây dựng một nền thần học về các tôn giáo, Ủy ban quốc tế về thần học, trước hết nêu lên tầm quan trọng của vấn đề (1-3), và sau đó cống hiến việc minh định lại « đối tượng, phương pháp và mục đích » (4-6), nêu rõ các vấn đề quan yếu (8-26) , và từ đó qui định được « các phận vụ khác nhau » (7).

 

 

II. LẬP TRƯỜNG VÀ ĐỀ NGHỊ

Sau khi đã phân tích và lượng định một cách tổng quát thực trạng của thần học các tôn giáo, Ủy ban quốc tế về thần học đi vào phần thiết yếu của bản văn, đó là nêu lên những đề nghị được Ủy ban xem là thích hợp với tình thế và mang lại lợi ích cho thần học. Để đặt nền tảng cho các đề nghị của mình, Ủy ban biết rằng có thể và phải dựa vào các nguồn của đức tin – Thánh kinh, và ở điểm nầy (41-49), các giáo phụ sẽ đóng góp rất nhiều -, cũng như dựa vào một số các văn kiện gần đây của giáo quyền minh nhiên nói về vấn đề các tôn giáo khác.

Trước hết hẳn nhiên là các văn kiện của công đồng Vaticanô II, Dei VerbumLumen Gentium, nhất là Gaudium et SpesNostra Aetate ; nhưng cũng nêu lên Redemptoris Missio (1990), thông diệp của giáo hoàng Gioan-Phaolô II nhân dịp kỷ niệm hai mươi lăm năm văn kiện Nostra Aetate, cũng như Đối thoại và rao truyền (1991) là tài liệu được Hội Đồng giáo hoàng về đối thoại liên tôn và Thánh Bộ truyền bá phúc âm cho các dân tộc cùng công bố.

 

1. Những xác tín ngay trong đức tin kitô giáo

Trước khi đề cập đến các vấn đề thần học dấy lên từ mối tương quan giũa kitô giáo và các tôn giáo, Ủy ban quốc tế về thần học đã dành phần hai của bản văn để thiết yếu trình bày điều được gọi là « các tiền đề thần học căn bản ». Bởi vì, những « tiền đề » nầy thực sự không phải là những nguyên lý mà « một nền thần học mới» tự đặt ra cho mình, do tình thế cấp bách, để gây lại sự tín nhiệm cần thiết, dưới áp lực của « phái tiến bộ » trong nội bộ công giáo, nhằm đương đầu với những tấn công từ bên ngoài – và biết đâu còn những lý do khác nữa...- tất cả như buộc phải « áp ức» Truyền thống, phải trình bày một kitô giáo « theo thủa theo thời» đến độ có thể nói là biến chất. Hoàn toàn không phải như thế ! Những tiền đề nầy là những xác tín nền tảng của đức tin kitô giáo, không hơn không kém, nhìn từ bản chất của đức tin nầy ( có thể nói là « có hay không có thần học về các tôn giáo » thì cũng vậy !). Đúng như đoạn chót số 27 chuyển vào phần hai đã nói, những tiền đề nầy không phải chỉ là « những vấn đề thần học căn bản » ; nhưng là những xác quyết vừa đặc loại lại vừa có tính cách xây dựng nền móng cho đức tin kitô giáo- công giáo.

Các « tiền đề» của suy tư thần học đó có bốn , chỉ cần nêu lên ở đây .

- Sáng kiến của Thiên Chúa Cha trong việc cứu độ : Sáng kiến tối cao của Chúa Cha nhằm mục đích cứu độ « không kể đến ranh giới các dân tộc hay chủng tộc » (28), và « ý muốn cứu độ của Ngài không hạn chế » (29).

- Sự trung gian duy nhất của Đức Giêsu Kitô : «xác định không lay chuyển nơi Tân Ước» (32-42), « được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau trong (suốt) Truyền thống của Giáo hội » (41-49).

- Tính phổ quát của Thánh Thần : ngoài tính phổ quát nầy, « phổ quát tính của hành động cứu độ của Đức Kitô không thể hiểu được » (50), và vì thế chính « trong bối cảnh (của tính phổ quát nầy) chúng ta qui định vấn đề giá trị cứu độ của các tôn giáo » (49d).

- Hội Thánh, nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ: không phải theo nghĩa được hiểu rằng việc gia nhập minh nhiên vào Giáo hội hữu hình, thuộc cơ chế, phẩm trật, bí tích phải là điều kiện không thể thiếu (sine qua non) của ơn cứu độ, nhưng theo nghĩa là « sứ vụ của Hội thánh ( hẳn nhiên là hoàn toàn tùy thuộc vào sứ vụ của Chúa Giêsu) [...] do việc tiếp nhận trọng trách Thiên Chúa trao, phải thực hiện Nước Chúa đang đến » (65) cho toàn thế giới [3] .

 

2. Những viễn tượng thần học về vai trò các tôn giáo

Tuy thế, những xác tín được nhắc lại ở đây không cung cấp hết mọi tình tiết cho toàn bộ các vấn đề đặt ra cho (hơn là : bởi) « nền thần học các tôn giáo» hiện nay. Thần học là suy tư về đức tin và trong đức tin, còn cần phải tận tâm truy cứu các vấn đề ấy, trong nội vi của chúng và theo toàn bộ sự thật lịch sử-hiện sinh và xã hội-cơ chế mà các vấn đề nầy tiếp nhận ngày hôm nay. Đó là trọng điểm của phần ba của bản văn. Phần nầy tuần tự trở lại các câu hỏi về « giá trị cứu độ của các tôn giáo» (81-93), sau đó là về « chân lý được nêu lên như là vấn đề giữa thần học các tôn giáo và lập trường đa nguyên » ( 94-105), trước khi đi vào những thắc mắc về đối thoại và sứ mạng truyền giáo. Chúng tôi không muốn đọc thay hoặc dành mất những thành quả mà độc giả thu thái được khi tiếp cận bản văn nầy, nhưng sẽ tự giới hạn vào một vài điểm cần lưu ý để hổ trợ phần suy tư...

Nếu ý muốn cứu độ của Chúa Cha thực sự đến với tất cả mọi người; - nếu ý muốn ấy, luôn vẫn phổ cập cho mọi người, nhưng vì muốn mặc khải cho thế giới, mà đã hiện thực hữu hình nơi Đức Giêsu Kitô ; - nếu công cuộc nhập thể mà ý Ngài từng biết chính là phương thế để ý muốn ấy thực hiện trong mọi nơi mọi lúc nhờ Thánh Thần và trong Thánh Thần ; - và cuối cùng, vai trò của Giáo hội, không phải lấn chiếm, nhưng là phục vụ (như một bí tích) công việc truyền lan Thánh Thần của Chúa Cha và Chúa Con ..., thì bấy giờ ta có thể hiểu được rằng ý Chúa Cha muốn cứu độ toàn thế giới, sở dĩ thành hình do việc gửi Con Ngài là Đức Giêsu đến và qua sứ mạng của Giáo hội Chúa Kitô, kỳ cùng là để chính Đức Giêsu và Giáo hội Ngài làm trung gian cho Thánh Thần ( luôn là Thánh Thần của Chúa Con nhập thể và của Giáo Hội-Thân thể của Đức Kitô), Đấng « tiếp tục công việc (của họ) trong thế giới và hoàn thành toàn công cuộc thánh hóa ». Và đặc biệt dựa vào thông điệp Redemptoris Missio, bản văn cho rằng có thể nêu lên giả thuyết về "sự hiện diện của Thánh Thần, không phải chỉ ở trong những người thiện chí với tư cách cá nhân, mà còn ở trong xã hội và lịch sử, trong các dân tộc, các nền văn hóa, các tôn giáo - và tất cả điều đó luôn qui chiếu về Đức Kitô " (82; xem RM 28-29).

Nên từ đó : một mặt, do "sự hiện diện của Thánh Thần Đức Kitô trong các tôn giáo, người ta không có thể loại bỏ việc các tôn giáo, với tư cách của mình, có thể thực thi được một chức năng cứu độ nào đó" (84) ; điều nầy liên quan đến "vấn đề cứu độ"; mặt khác, người ta suy diễn ra rằng "chiều kích tri thức học không thể nào hoàn toàn vắng bóng nơi mà chúng ta nhận ra những yếu tố của ân sủng và cứu độ" (90), điều nầy liên quan đến "vấn đề Mạc khải", và, do đó có liên quan vấn đề chân lý).

 

3. Những định hướng lý thuyết và thực hành cho việc đối thoại và sứ mạng truyền giáo

Bản văn mới được phổ biến, nên khó có những yếu tố giúp ta biết chính xác xem tình hình nó được tiếp nhận như thế nào. Tuy thế không thể không thừa nhận tinh thần cởi mở của bản văn; một sự kiện ý nghĩa nữa của bản văn là nó vừa có tính cách vừa « quốc tế » vừa là « vatican » của thần học công giáo.

Nhưng mặt khác, người ta đã có thể nhận được những phê bình đến từ hai phía, nếu có thể nói như thế. Những người đầu đánh giá rằng thiếu « lưu ý thật sự đến các tôn giáo liên hệ », tiếc là người ta đã bỏ qua « nguyên tắc hỗ tương », nhấn mạnh rằng « người ta chưa thấy rõ bằng cách nào [...] kitô hữu {...] có thể được tài bồi và ngay cả việc có thể được cải biến khi tíếp xúc với các lối tin tưởng khác [4] ». Ngược lại, nhóm thứ hai tố giác bản văn như là một « bước nhảy hữu lý », mà kỳ thực Nostra Aetate (2) « đã hoàn tất rồi » : « Vaticanô II đã từ sự tôn trọng đối với các « hạt mầm của Ngôi Lời » có thể tìm thấy trong các tôn giáo không phải là kitô giáo, chuyển sang một sự kính trọng toàn bộ đối với các tôn giáo nầy xét từ chính bản chất của chúng. Ủy ban quốc tế về thần học nêu rõ quan điểm nầy khi đi từ sự hiện diện khả dĩ các « hạt mầm của Ngôi Lời » trong các tôn giáo nầy đến việc xác quyết rằng với tư cách riêng của mình, chúng thực thi được một tác năng cứu độ. Đó là bước vượt qua từ cá biệt đến phổ quát (= une synecdoque ) tạo nên cuộc cách mạng Copernic của Vaticanô II [5] . »

Hẳn nhiên chúng ta không đi vào cuộc tranh luận dài dòng ở đây; nhưng ta cần nhấn mạnh điểm chung mà đôi bên đã cùng giao nhau trên thực tế, nếu không nói là nơi ý hướng: hai lập trường trên đều kêu gọi gặp gỡ, đối thoại, thảo luận với các tôn giáo ! Và để có thể tiến xa trong sự hiểu biết thật sự kẻ khác, là điều kiện cần để đánh giá và nhìn nhận nhau một cách có trách nhiệm, thì cần phát triển một lối đi lại không nghi ngại gì nhau, như nhóm người thứ nhất đã nêu lên. Nhưng nếu không tranh luận, không đối thoại, và từ đó không lượng giá được, tôn giáo với tôn giáo, giáo điều với giáo điều, lễ nghi với lễ nghi ...thì không thể nào bước ra khỏi vòng nhận xét chung chung (như nhóm thứ hai đã lo ngại) phát xuất từ những lời tuyên bố « cung kính » đầy thiện chí, nhưng hời hợt không dẫn đến một điều gì cụ thể.

Khi nói đến điều nầy, ta cần nói rõ là ta không đi xa bản văn, vì chính bản văn đã dành cho vấn đề đối thoại (và sứ mạng truyền giáo) những khai triển cuối cùng, nơi các số cuối của phần ba (106-113), cũng như trong phần kết luận ngắn gọn nhưng chuẩn xác (114-117) tiếp liền theo đoạn trên.

Trong đường hướng của bản văn, chúng ta chỉ mong nhấn mạnh đến tầm quan trọng và cấp bách của công việc thực hiện cụ thể một cuộc đối thoại, cần được chuẩn bị chu đáo và sáng suốt, ý thức và trách nhiệm, mà Ủy ban quốc tế về thần học không những kêu gọi phải tiến hành, mà còn nêu lên tính cách trọng đại của sự việc và tinh thần hướng dẫn : " đối thoại liên tôn gắn liền với bản tính của ơn gọi kitô giáo " (114), và " nó có căn nguồn, mẫu mực và cứu cánh trong Chúa Ba Ngôi cực thánh " (115).

 

Joseph Doré

  Ủy ban quốc tế thần học

 



[1] Đăng trong La Documentation catholique, số 2157 ( ngày 6 tháng tư 1997), trang 312-332 ; và trong tạp chí Esprit et vie số 7 (ngày 3 tháng tư) và số 8 (ngày 17 tháng tư) 1997, trang 145-159 và 169-177.,

[2] Ở số 22 (câu áp chót), nay đọc thấy thế nầy : « Nhưng những bản văn Tân ước không quan niệm Ngôi Lời Thiên Chúa độc lập với Đức Giêsu » ; ở số 33 : « Họ sẽ đến từ Phương Đông và Phương Tây để ngồi và bàn tiệc Nước Trời, trong khi các con của vương quốc thì sẽ bị tống ra ngoài »

[3] Không thể quan niệm một loại trung gian cứu độ của Giáo hội nào đó độc lập với sự trung gian của Chúa Kitô, hoặc ngay cả thêm vào sự trung gian nầy. Tuyền thống tin lành nhấn mạnh rất đúng về điểm nầy.

[4] Xem « các phản ứng đối với bản văn » xuất bản trong l’Actualité religieuse, số 155 ( 15 thàng năm 1997), dưới tựa đề chung : « nhìn nhận kẻ khác ».

[5] Xem Catholica, số mùa xuân 1997, dưới tựa đề : « Kitô giáo và các tôn giáo theo Ủy ban quốc tế về thần học ».


Xem Bài đã đăng

Tác giả: Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
   dunglac@gmail.com