Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
trucdang@free.fr
Bài Viết Của
Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
Hội đồng Giáo hoàng "Công lý và Hoà bình" : Nhân quyền và Giáo hội - Những suy tư lịch sử và thần học
Nội dung thiết yếu và tối thượng của văn hóa
Ngày gặp gỡ văn hóa thường niên Việt Nam hải ngoại: lần đầu tiên được tổ chức tại Bruxelles , tháng 08 năm 2008
Chứng Từ Về HY TGM Nguyễn Văn Thuận
Giáo hội công giáo và Nhân quyền
Phát biểu về ba tác phẩm “Về nguồn, Thức tỉnh và Vietnam, a painful transition” của LS Lâm Lễ Trinh
Các bài viết nối kết
KITÔ GIÁO VÀ CÁC TÔN GIÁO: CHƯƠNG 1 - THẦN HỌC CÁC TÔN GIÁO


Xem Bài đã đăng

 

(hiện trạng của vấn đề = status quaestionis)

 

I.1- Đối tượng, phương pháp và cùng đích


4- Thần học về các tôn giáo chưa đưa ra một qui chế về tri thức học nhất định. Đó chính là một trong những lý do chủ yếu của cuộc tranh luận hiện nay. Trong thần học công giáo trước Vaticanô II, người ta truy tìm được hai đường hướng tư tưởng có liên hệ đến vấn đề giá trị cứu độ của các tôn giáo:

Đường hướng thứ nhất có Jean Daniélou, Henri de Lubac là tiêu biểu, và những nhà thần học khác; đường hướng nầy nghĩ rằng các tôn giáo có nền tảng trong giao ước với No-ê, một giao ước có tính cách vũ trụ khai mở Mạc khải của Thiên Chúa trong lãnh vực tự nhiên và trong lương tâm, khác biệt giao ước với Abraham. Các tôn giáo, với tư cách tồn giữ những nội dung của giao ước có tính cách vũ trụ nầy, nên chứa đựng những giá trị tích cực, nhưng không có giá trị cứu độ tự nơi chúng. Các tôn giáo là những "hòn đá chờ đợi", nhưng cũng còn là "những hòn đá chận đường", do tội lỗi. Tự bản chất của mình, các tôn giáo đi từ con người đến với Thiên Chúa. Chỉ trong Đức Kitô và Hội Thánh của Ngài, các tôn giáo mới đạt đến sự hoàn thành tối hậu và dứt khoát. Hướng suy tư thứ hai - mà Karl Rahner đại diện - xác quyết rằng, trong trật tự hiện nay, ân sủng được ban tặng cho mọi người; và những người nầy có một ý thức nào đó về tác động và ánh sáng của ơn sủng ấy, dù ý thức đó không nhất thiết được nhận thức một cách phản tỉnh. Khi chấp nhận nét đặc loại của xã hội tính như phẩm tính cá biệt của hữu thể con người, thì các tôn giáo là những lối diễn tả có tính cách xã hội của con người với Thiên Chúa, nên có khả năng giúp tín đồ của họ tiếp nhận ơn sủng của Chúa Kitô (fides implicita) cần thiết cho sự cứu độ, và mở ra với tình yêu tha nhân, mà Đức Giêsu đã kết chặt làm một với tình yêu Thiên Chúa. Trong ý nghĩa đó, các tôn giáo có thể có một giá trị cứu độ, mặc dù chúng còn chứa đựng những yếu tố của tình trạng vô minh, tội lỗi và hư đốn.

 

5- Hiện nay người ta thường muốn hiểu rõ hơn nữa từng mỗi một tôn giáo, trước khi xây dựng một nền thần học về các tôn giáo nói chung. Vì trong mỗi truyền thống tôn giáo có những yếu tố về nguồn gốc và tầm vóc rất khác nhau, cho nên suy tư thần học phải tự giới hạn trong việc nghiên cứu những hiện tượng cụ thể và rõ rệt để tránh những những phán đoán có tính cách bao quát và tiên thiên. Do đó, một số người thì chủ trương một nền thần học về lịch sử các tôn giáo, một số khác lại lưu ý đến sự diễn tiến có tính cách lịch sử của các tôn giáo, những nét đặc thù của chúng, đôi khi không tương hợp được với nhau; một số khác nữa nhìn nhận tầm quan trọng của các dữ kiện thuộc hiện tượng luận và lịch sử, nhưng không hoàn toàn phi bác hiệu lực của phương pháp diễn dịch; cuối cùng lại có người từ chối không muốn nhìn nhận giá trị tích cực có tính cách bao quát nơi các tôn giáo.

 

6- Ở vào một thời đại mà đối thoại, thông cảm và khoan dung được đề cao, thì tự nhiên thấy xuất hiện những cố gắng xây dựng một nền thần học về các tôn giáo dựa trên những tiêu chuẩn được mọi người chấp nhận, nghĩa là không loại trừ một truyền thống tôn giáo nào nhất định. Vì lý do đó, người ta thường không phân biệt được rõ ràng giữa những điều kiện để có được sự đối thoại liên tôn và những nền tảng xây dựng nên nền thần học Kitô giáo về các tôn giáo. Để lẫn tránh giáo điều, người ta lại tìm kiếm những mấu mốc bên ngoài và tưởng rằng có thể thẩm định được chân lý của một tôn giáo. Những cố gắng được thực hiện trong chiều hướng nầy không đạt đến thành quả có tính cách thuyết phục. Nếu thần học là "đức tin tìm sự hiểu biết" (fides quaerens intellectum), thì người ta không thấy được tại sao lại có thể vất bỏ "nguyên lý tín điều", hoặc không hiểu được tại sao suy tư trong khuôn khổ thần học mà bất chấp những căn nguồn đặc thù của nó.

 

7- Đối diện với hoàn cảnh nầy, thần học Kitô giáo về các tôn giáo phải đương đầu với nhiều công việc khác nhau. Trước hết, Kitô giáo sẽ phải nỗ lực để tự ý thức và tự thẩm định lại chính mình trong khung cảnh của tình trạng đa biệt của các tôn giáo; nó phải suy tư một cách cụ thể về chân lý và tính phổ quát mà nó chủ trương. Thứ đến, nó phải truy tìm ý nghĩa, chức năng và giá trị đặc thù của các tôn giáo trong toàn bộ của lịch sử ơn cứu độ. Cuối cùng, thần học Kitô giáo phải học hỏi và tra cứu các tôn giáo cụ thể, với những nội dung nhất định của chúng, để đối chiếu lại với các nội dung của đức tin Kitô giáo. Muốn thực hiện điều đó, cần phải thiết lập những tiêu chuẩn cho phép ta luận bàn một cách có phê phán về những dữ kiện ấy và mở ra một lối thông diễn để giải thích.

 

 

I.2- Luận bàn về giá trị cứu độ của các tôn giáo

 

8- Câu hỏi nền tảng nêu lên như sau: Các tôn giáo có phải là những trung gian của ơn cứu độ cho các tín đồ của mình không? Một vài người trả lời rằng không, và có người còn cho rằng nêu lên câu hỏi nầy tự nó không có ý nghĩa gì cả. Một số khác lại trả lời rằng có, và câu trả lời tích cực nầy lại dấy lên những thắc mắc khác: Ở đây các tôn giáo là những trung gian cứu độ độc lập, hoặc đây là do ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô đang thực hiện trong các tôn giáo ấy? Như thế, cần định vị qui chế của Kitô giáo và các tôn giáo như là những thực tại xã hội văn hóa liên quan đến sự cứu độ con người. Đừng lẫn lộn vấn đề nầy với vấn đề về ơn cứu độ của các cá nhân, Kitô hữu hay không Kitô hữu. Người ta thường không lưu ý đến sự phân biệt nầy một cách đúng mức.

 

9- Bằng nhiều cách, người ta đã cố gắng xếp loại các lập trường thần học khác nhau đối với vấn đề nầy. Chúng ta hãy lược lại một số phương cách xếp loại đó: Đức Kitô chống lại các tôn giáo, ở trong các tôn giáo, ở trên các tôn giáo, cùng với các tôn giáo. Vũ trụ lấy Giáo hội làm trung tâm hoặc Kitô học chấp nhất; vũ trụ lấy Chúa Kitô làm trung tâm hoặc Kitô học bao hàm; vũ trụ lấy Thiên Chúa làm trung tâm với một nền Kitô học qui phạm; vũ trụ lấy Thiên Chúa làm trung tâm với một nền Kitô học không qui phạm. Một số nhà thần học áp dụng lối phân chia làm ba lập trường: chấp nhất thuyết, bao hàm thuyết, đa nguyên thuyết ; song song với một lối phân chia khác: học thuyết lấy Giáo Hội làm trọng tâm, lấy Đức Kitô làm trọng tâm, lấy Thiên Chúa làm trọng tâm. Vì phải chọn một trong các cách xếp loại nầy để tiếp tục con đường suy tư của chúng ta, chúng ta sẽ giữ lại lập trường cuối cùng, nhưng đồng thời chúng ta sẽ bổ túc lập trường nầy với các cách xếp loại khác nếu thấy cần thiết.

 

10- Học thuyết lấy Giáo Hội làm trọng tâm một cách chấp nhất, là kết quả của một hệ thống thần học nhất định, hoặc là của một lối hiểu sai lầm về câu "Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ nào" (extra Ecclesiam nulla salus). Chủ trương hạn hẹp đó từ nay không được các nhà thần học Công giáo bênh vực nữa, sau những lời xác quyết rõ rệt của Đức Piô XII và Công đồng Vaticanô II về ơn cứu độ có thể đến với những ai không thuộc về Giáo hội theo hình thức thấy được bên ngoài (chẳng hạn xem Hc LG16; Hc GS 22).

 

11- Học thuyết lấy Đức Kitô làm tâm điểm chấp nhận rằng ơn cứu độ có thể xảy ra trong các tôn giáo, nhưng lại từ chối một sự "độc lập tự túc" về ơn cứu độ nầy nơi các tôn giáo, vì phải dựa vào duy nhất tính và phổ quát tính của ơn cứu độ đến từ Chúa Giêsu Kitô. Học thuyết nầy dĩ nhiên là phổ biến hơn cả nơi các nhà thần học Công giáo, mặc dù có những dị biệt giữa họ với nhau. Nó cố dung hợp ý muốn cứu độ có tính cách phổ quát của Thiên Chúa với sự kiện mọi người cũng có thể, theo nhân tính, tự kiện toàn lấy mình trong khung cảnh của truyền thống văn hóa mà tôn giáo được xem là một lối biểu lộ cao cả nhất và là nền tảng tối hậu.

 

12- Học thuyết lấy Thiên Chúa làm trọng điểm tự cho mình vượt lên trên Học thuyết lấy Đức Kitô làm trọng điểm: nó được xem là một sự thay đổi về mô thức đối chiếu, một cuộc cách mạng Copernic. Một trong những lý do đưa đến Học thuyết nầy là một loại cảm thức ân hận nào đó phát xuất từ những mối giây ràng buộc giữa công cuộc truyền giáo trong quá khứ với lối chính trị thực dân, mặc dù đôi khi người ta quên đi cuộc sống hào hùng đã đồng hành với công cuộc truyền bá Phúc âm. Học thuyết ấy cố gắng nhìn nhận những nguồn phong phú của các tôn giáo và chứng tá đạo đức của những tín đồ các tôn giáo nầy, và cuối cùng nó chủ trương tạo thuận lợi cho việc đoàn kết tất cả các tôn giáo để cùng nhau xây dựng hòa bình và công lý trên thế giới. Người ta có thể thiết định một sự phân biệt giữa một Học thuyết lấy Thiên Chúa làm trọng điểm trong đó Đức Giêsu Kitô, dù không phải là yếu tố chính yếu cũng được nhìn nhận như là mẫu mực cho ơn cứu độ. Và còn có một học thuyết khác, trong đó người ta lại không nhìn nhận ngay cả giá trị mẫu mực nầy nơi Đức Giêsu Kitô. Trong trường hợp thứ nhất, người ta không phủ nhận rằng những vị khác cũng có thể là trung gian của sự cứu độ, nhưng nhìn nhận nơi Đức Giêsu Kitô là vị trung gian diễn đạt ơn cứu độ nầy một cách hoàn hảo hơn cả; tình yêu của Thiên Chúa được mạc khải rõ rệt nhất trong con người và việc làm của Ngài, và vì thế Ngài là mẫu mực cho các vị trung gian khác. Nhưng không có Ngài, thì chúng ta cũng tìm được ơn cứu độ, mặc dầu ơn cứu độ đó không được thể hiện hoàn hảo. Trong trường hợp thứ hai, Đức Giêsu Kitô vừa không được xem như cấu tố, lại vừa không được xem là mẫu mực cho sự cứu độ của con người. Lập trường nầy cho rằng Thiên Chúa siêu việt và không thể hiểu biết được, nên không thể phán đoán về ý định của Ngài theo thước đo của con người. Cũng vì thế mà ta càng không thể đánh giá hay so sánh các hệ thống tôn giáo dị biệt. Học thuyết lấy "sự cứu độ làm trọng điểm" còn cố triệt để hóa học thuyết lấy Thiên Chúa làm trọng điểm, bởi vì nó ít lưu ý đến vấn đề Đức Giêsu Kitô (học thuyết chính truyền = orthodoxie) hơn là chú ý đến sự dấn thân thiết thực của mỗi tôn giáo cho nhân loại đang khổ đau (thực hành chân chính = orthopraxie). Bằng cách nầy, giá trị các tôn giáo ở ngay trong sự kiện cổ võ Nước Trời, sự cứu độ, và cuộc sống an lành của nhân loại. Vì thế lập trường nầy được xem là duy thực tiễn và duy nội tại.

 

 

 

I.3- Câu hỏi về chân lý

 

13- Toàn cuộc tranh luận nầy hàm chứa vấn đề chân lý của các tôn giáo. Ngày nay người ta có khuynh hướng coi vấn đề chân lý là thứ yếu khi suy tư về giá trị cứu độ. Câu tra vấn về chân lý được xem là nghiêm trọng về mặt lý thuyết cũng như thực hành, bởi vì trong quá khứ nó đã có những hệ quả tiêu cực cho việc gặp gỡ giữa các tôn giáo. Do đó, có khuynh hướng muốn tiết giảm vấn đề nầy hoặc đẩy nó vào lãnh vực riêng tư, bằng việc xác nhận rằng tiêu chuẩn chân lý được nêu lên chỉ có giá trị cho tôn giáo liên hệ mà thôi. Một vài người lại đưa ra ý niệm có tính cách hiện sinh hơn về chân lý. Theo họ chỉ có nếp sống đạo đức luân lý làm cho con người trở nên công chính, còn các điều họ tin có thể bị lên án hay không, việc đó không quan trọng. Nhưng quan niệm như thế sẽ tạo ra một sự lẫn lộn mơ hồ giữa "ở trong sự cứu độ" và "ở trong chân lý". Đáng ra phải theo hướng nhìn của Kitô giáo về sự cứu độ như là chân lý và ở trong chân lý như là sự cứu độ. Không nói đến về chân lý sẽ đặt tất cả các tôn giáo trên mọi sự đồng đẳng hời hợt, đồng thời tước bỏ tận căn tiềm năng cứu độ của các tôn giáo. Quả quyết rằng tất cả các tôn giáo đều chân thật chẳng khác gì tuyên bố rằng tất cả đều sai lạc. Gạt bỏ vấn đề chân lý là điều không thể chấp nhận trong quan điểm của Kitô giáo.

 

14- Quan niệm tri thức luận chủ trương đa nguyên nầy sử dụng sự phân biệt của Kant giữa noumenonphenomenon. Thiên Chúa hay Thực-Tại-Tối-Hậu là Siêu việt và con người không thể vươn tới, nên ta chỉ có thể kinh nghiệm được như một biểu tượng, và diễn tả bằng những hình ảnh, những ý niệm lệ thuộc vào các điều kiện của văn hóa. Điều đó giải thích lý do tại sao các biểu tượng khác nhau của chính một thực tại không buộc phải tự loại trừ nhau một cách tiên thiên. Vấn đề về chân lý lại còn bị tương đối hóa hơn nữa với việc du nhập của ý niệm về chân lý có tính cách thần thoại. Chân lý ở đây không phải là sự đồng hợp với một thực tại, nhưng chỉ gợi lên nơi chủ thể một tâm trạng tương hợp với những điều được tường thuật. Tuy nhiên cần nhận ra rằng: những cách biểu lộ của noumenon đa dạng, đối chọi nhau; và kỳ cùng chúng sẽ làm tan biến luôn chính noumenon và làm mất hết ý nghĩa thần thoại của nó. Ở đây cũng hiểu ngầm quan niệm muốn tách rời tận căn Siêu việt, Mầu nhiệm Tuyệt đối, với các biểu tượng của nó: mọi sự là tương đối, bởi vì bất toàn và không tương hợp, cho nên không thể tự cho mình có độc quyền trong vấn đề chân lý.

 

15- Tìm kiếm tiêu chuẩn chân lý của một tôn giáo, (tiêu chuẩn) mà các tôn giáo khác có thể chấp nhận được, phải là một việc làm độc lập, ở ngoài tôn giáo ấy: đây đúng là một công việc nặng nề cho suy tư thần học. Một số nhà thần học tránh dùng các từ ngữ Kitô giáo để nói về Thiên Chúa (Eternal One, Ultimate Reality, Real) hoặc để chỉ định cuộc sống ngay chính (Reality-centredness chứ không phải dùng Self-centredness). Nhưng người ta nhận thấy rằng lối diễn tả đó, hoặc vẫn lệ thuộc vào một truyền thống nhất định (Kitô giáo), hoặc trở thành quá trừu tượng đến độ chúng không có ích lợi gì. Còn việc chỉ dựa vào humanum mà thôi thì lại không có giá trị thuyết phục, vì đó là một tiêu chuẩn thuần túy thuộc hiện-tượng-luận, có thể làm cho thần học các tôn giáo lệ thuộc vào môn nhân-loại-học chỉ có giá trị ưu thắng trong một thời. Ngoài ra người ta cần lưu ý rằng tôn giáo được xem là đích thực hẳn vì nó thành công trong việc: hoặc giải hòa được hữu hạn tính, (đặc tính tạm thời và hay thay đổi của nỗ lực tự kiến tri) với vô tận vô biên mà con người nhắm tới, hoặc qui kết được các kinh nghiệm đa biệt của thực tại và những quan điểm tôn giáo vào một mối nhất thống.

 

 

 

I.4- Câu hỏi về Thiên Chúa

 

16- Chủ trương đa nguyên có tham vọng gạt bỏ tất cả những ý định độc chuyên hoặc ưu thắng đối với các tôn giáo khác nơi Kitô giáo. Vì thế họ quả quyết rằng các tôn giáo tuy khác nhau, nhưng thực tại tối hậu là một. Đồng thời họ cũng tương đối hóa quan điểm của Kitô giáo về Thiên Chúa như nội dung tín điều đã dạy và tín lý bắt buộc. Bằng cách đó họ tách biệt Thiên Chúa Tự Tại, Đấng con người không thể vươn tới, với Thiên Chúa biểu lộ qua kinh nghiệm của con người. Những hình ảnh về Thiên Chúa được cấu tạo do kinh nghiệm về siêu việt tính và do khung cảnh xã hội văn hóa liên hệ: những hình ảnh đó không phải là Thiên Chúa, nhưng chúng nhằm chỉ về Thiên Chúa một cách đứng đắn; và những hình ảnh nầy cũng có thể nói được là những biểu tượng, chứ không phải là hiện thân của Thần tính. Kết quả là không một biểu tượng nào có thể được xem là độc chuyên. Từ đó suy ra tất cả các tôn giáo đều tương đối, không phải trong việc các tôn giáo hướng về Tuyệt đối, nhưng trong những phương cách diễn tả cũng như sự thinh lặng của các tôn giáo. Vì có Một Thiên Chúa Duy nhất và có cùng một chương trình cứu độ cho nhân loại, nên các cách biểu lộ nơi các tôn giáo liên hệ với nhau và bổ sung cho nhau. Mầu nhiệm linh hoạt và hiện diện một cách phổ quát, không có sự biểu lộ nào của nó có thể cho là cuối cùng và dứt điểm. Như thế vấn đề về Thiên Chúa gắn liền với vấn đề Mạc khải.

 

17- Liên quan với vấn đề nầy, có hiện tượng cầu nguyện trong các tôn giáo khác nhau. Phải chăng có một Đấng Đối diện duy nhất được kêu cầu bằng nhiều tên gọi khác nhau trong kinh nguyện của các tín đồ? Các thần thánh và các quyền thần linh thiêng, các sức mạnh của thiên nhiên trong đời sống và xã hội được nhân cách hóa, các phóng ảnh thuộc tâm lý hoặc huyền thoại, tất cả chúng có diễn tả cùng một thực tại hay không? Ở đây phải chăng người ta đã đi trật bước, khi nhảy vọt từ một thái độ chủ quan đến một phán đoán khách quan? Có thể có một lời cầu xin có tính cách đa thần kêu đến Thiên Chúa chân thật; và một hành vi cứu độ có thể xảy đến xuyên qua một trung gian sai lạc. Điều đó không có nghĩa là nhìn nhận một cách khách quan rằng trung gian tôn giáo ấy là một trung gian cứu độ, dù rằng lời kinh chân thành nầy đã được Chúa Thánh thần linh ứng. (xem tl Đối-thoại và Rao truyền, 27)

 

 

I.5- Luận bàn Kitô học

 

18- Trong vấn đề "Thượng đế" vừa được nêu lên trên đây đã có vấn đề chúng ta sắp đề cập bây giờ. Đó là thần học về Đức Kitô. Thượng đế học và Kitô học liên hệ mật thiết với nhau. Chúng tôi trình bày riêng rẽ vì tính cách phức tạp của vấn đề. Khó khăn lớn nhất của Kitô giáo luôn luôn nằm trong "Mầu nhiệm nhập thể của Thiên Chúa": Con người và hành động của Đức Giêsu Kitô là những đặc điểm của duy nhất tính và phổ quát tính liên quan đến sự cứu độ nhân loại. Làm sao một biến cố đặc thù và lịch sử lại có thể là phổ quát được? Làm sao có thể tiến tới một cuộc đối thoại liên tôn trong sự tôn trọng các tôn giáo khác và không tiên kiến các tôn giáo ấy như là bất toàn và thấp hơn, nếu chúng ta nhìn nhận nơi Đức Giêsu Kitô và chỉ nơi Ngài là Vị Cứu-độ Duy-nhất và phổ quát cho nhân loại? Người ta không thể quan niệm được bản vị và tác động cứu chuộc của Thiên Chúa xuyên qua những trung gian khác ngoài Đức Giêsu Kitô hay sao?

 

19- Vấn đề Kitô-học thiết yếu gắn liền với giá trị cứu độ của các tôn giáo, điều đó chúng ta đã bàn tới. Ở đây chúng ta chú trọng hơn nữa vào việc truy tìm những hệ luận Kitô học của những lập trường lấy Thiên Chúa làm trọng điểm. Một trong những hệ luận là nêu lên lập trường "Thiên Chúa duy nhất là Đấng Cứu chuộc" chủ trương rằng có nhiều trung gian cứu độ chính đáng và chân thật. Bên trong lập trường nầy, như chúng ta đã từng nhận xét, có một nhóm thần học gia nhận định rằng Đức Giêsu Kitô là một giá trị có tính cách qui phạm, vì con người và cuộc đời Ngài mạc khải một cách rõ rệt và dứt khoát hơn cả về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Khó khăn lớn nhất mà lập trường nầy gặp phải là đối với Kitô giáo cũng như đối với các tôn giáo khác, nó không xác định được đâu là nền tảng cho đặc tính qui phạm nơi Đức Giêsu.

 

20- Một nhóm thần học gia khác chủ trương một "lập trường lấy Thiên Chúa cứu độ làm trọng điểm", với một nền Kitô học không có giá trị qui phạm. Tách rời Đức Kitô khỏi Thiên Chúa là làm cho Kitô Giáo hết tham vọng chủ trương phổ quát tính về sự cứu độ (và như thế hẳn sẽ tạo điều kiện khả dĩ cho việc đối thoại chân thực với các tôn giáo), nhưng lại phải đối đầu trực diện với đức tin của Hội Thánh, và cụ thể là tín điều của Công Đồng Chalcedonia. Các nhà thần học nầy cho rằng tín điều ấy là một lối diễn tả lệ thuộc vào các điều kiện của Triết lý Hy lạp xét về mặt lịch sử. Lối diễn tả đó nay cần phải được cập nhật lại vì nó ngăn cản công cuộc đối thoại liên tôn. Việc nhập thể sẽ là một cách diễn tả không có giá trị khách quan, nhưng có tính cách ẩn dụ, thi ca và thần thoại. Nó chỉ nhằm nói lên tình yêu của Thiên Chúa đang nhập thể trong những con người nam-nữ mà cuộc sống của họ phản ảnh hành động của Thiên Chúa. Những xác quyết về ơn cứu độ duy nhất thực hiện bởi Đức Giêsu Kitô có thể được giải thích trong bối cảnh lịch sử văn hóa: văn hóa cổ điển (chân lý chắc chắn và bất biến một cách duy nhất), tâm thức hướng về thời chung mãn - thế mạt (vị tiên tri cuối cùng, Mạc khải dứt khoát) và thái độ của một thiểu số (ngôn ngữ nói đến sự sống còn, đấng cứu độ duy nhất).

 

21- Hậu quả quan trọng nhất của quan niệm nầy là Đức Giêsu Kitô không thể được xem là vị trung gian duy nhất và tuyệt đối. Chỉ riêng đối với người Kitô hữu, Ngài là hình thái con người của Thiên Chúa, giúp con người gặp gỡ được Thiên Chúa, mặc dù không là mẫu mực độc chuyên. Ngài "là Thiên Chúa hoàn toàn" (totus Deus), bởi vì Ngài là tình yêu đích thực của Thiên Chúa trên cõi trần nầy, nhưng không phải là "tất cả của Thiên Chúa" (totum Dei) vì Ngài không múc cạn hết tình yêu Thiên Chúa trong Ngài. Chúng ta hẳn có thể nói được rằng: "Ngài hoàn toàn là Lời Thiên Chúa, nhưng không phải tất cả của Ngôi Lời" (totum Verbum, sed non totum Verbi). Bởi vì Lời Thiên Chúa (Logos) rộng lớn hơn Đức Giêsu, nên Lời nầy cũng có thể nhập thể trong các vị sáng lập các tôn giáo khác.

 

22- Vấn đề đặt ra y hệt như khi xác quyết rằng Đức Giêsu là Đức Kitô, nhưng Đức Kitô thì hơn cả Đức Giêsu. Quan niệm nầy được cho là sẽ giúp ta dễ dàng hiểu được sự phổ quát của hành động Lời Thiên Chúa (Logos) trong các tôn giáo. Tuy nhiên các bản văn Tân Ước không quan niệm Lời Thiên Chúa độc lập với Đức Giêsu. Một lối lý luận khác trong đường hướng nầy là ghép mọi hành động cứu độ phổ quát của Thiên Chúa vào Chúa Thánh Thần; hành động của Thánh Thần như thế không nhất thiết dẫn mọi người đến đức tin vào Đức Giêsu Kitô.

 

 

 

I.6- Sứ mệnh rao truyền và đối thoại tôn giáo

 

23- Những lập trường khác nhau khi đối diện với các tôn giáo đi kèm với những cách hiểu khác biệt về sinh hoạt rao truyền Phúc âm và đối thoại liên tôn. Nếu như các tôn giáo thực sự là những con đường dẫn đến cứu độ (= lập trường đa nguyên), thì việc nhập đạo không còn là mục tiêu đầu tiên của việc truyền giáo, vì điều quan trọng là mỗi người được khích lệ bởi chứng tá của kẻ khác cứ nỗ lực sống trọn vẹn niềm tin riêng của mình.

 

24- Lập trường chủ trương bao hàm nầy không còn xem sứ mệnh rao truyền Phúc âm như một trách vụ vì muốn tránh sự lên án của các người chưa được biết đến Phúc âm (nó đi ngược lại lập trường chủ trương sự cứu độ duy nhất nơi Đức Giêsu Kitô). Đồng thời với việc nhìn nhận hành động phổ quát của Chúa Thánh Thần, lập trường nầy nhận thấy rằng, trong chương trình cứu độ mà Thiên Chúa muốn, hành động ấy có một sức năng động nhập thể có thể làm cho chương trình cứu độ tự thể hiện. Nhờ thế việc rao truyền Lời Chúa dẫn đưa chính năng lực nầy đến sự toàn mãn. Rao truyền Lời Chúa không chỉ có nghĩa là một nỗ lực trình bày về siêu việt tính, nhưng là sự thực hiện cao độ nhất của siêu việt tính nầy, đặt con người trước một quyết định triệt để. Loan báo và chấp nhận đức tin một cách minh nhiên làm triển nở những khả năng của ơn cứu độ cũng như tinh thần trách nhiệm của con người. Hơn nữa, ngày nay người ta xem sứ mệnh rao truyền Phúc âm, không phải chỉ nhắm đến những cá nhân mà thôi, mà còn cho tất cả các dân tộc và tất cả các nền văn hóa.

 

25- Đối thoại liên tôn, trong khuôn khổ thần học, được đặt trên nền tảng: hoặc là mọi người cùng chung một nguồn gốc và được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, hoặc trong vận mệnh chung là sống viên mãn nơi Thiên Chúa, hoặc trong chương trình cứu độ duy nhất của Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, hoặc trong sự hiện diện đầy linh hoạt của Chúa Thánh Thần giữa các tín đồ của các truyền thống tôn giáo khác (Tl Đối thoại và Rao truyền, 28). Sự hiện diện của Thánh Thần không thể hiện cùng một cách thế như nhau trong truyền thống Thánh Kinh và trong các tôn giáo khác, bởi vì Đức Giêsu Kitô là sự toàn mãn của Mạc khải. Nhưng những kinh nghiệm và nhận thức, các cách diễn tả và những lối lãnh hội thì khác nhau, lại có thể phát sinh từ cùng một "biến cố siêu việt". Điều đó càng làm tăng cường giá trị cho công cuộc đối thoại liên tôn. Và chính nhờ qua nỗ lực đối thoại mà tiến trình giải thích và hiểu biết hành động cứu độ của Thiên Chúa có thể được phát triển.

 

26- "Một đức tin không trở thành văn hóa là một đức tin không hoàn toàn được tiếp nhận, suy tư, và sống một cách trung thực". Câu nói nầy của Đức Gioan Phaolô II trong bức thư gửi đến Đức Hồng y Quốc Vụ- Khanh (ngày 20.5.1982) cho thấy rõ ràng tầm quan trọng của công cuộc hội nhập văn hóa của đức tin. Người ta nhận thấy rằng tôn giáo, với tư cách là thẩm cấp phán định về ý nghĩa tối hậu và là năng lực thiết kế cấu trúc nền tảng, đúng là tâm điểm của cuộc sống văn hóa. Do đó, công cuộc hội nhập văn hóa của đức tin không thể bỏ qua việc gặp gỡ với các tôn giáo, nhất là xuyên qua việc đối thoại liên tôn .


Xem Bài đã đăng

Tác giả: Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
   dunglac@gmail.com