Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
trucdang@free.fr
Bài Viết Của
Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
Hội đồng Giáo hoàng "Công lý và Hoà bình" : Nhân quyền và Giáo hội - Những suy tư lịch sử và thần học
Nội dung thiết yếu và tối thượng của văn hóa
Ngày gặp gỡ văn hóa thường niên Việt Nam hải ngoại: lần đầu tiên được tổ chức tại Bruxelles , tháng 08 năm 2008
Chứng Từ Về HY TGM Nguyễn Văn Thuận
Giáo hội công giáo và Nhân quyền
Phát biểu về ba tác phẩm “Về nguồn, Thức tỉnh và Vietnam, a painful transition” của LS Lâm Lễ Trinh
Các bài viết nối kết
KITÔ GIÁO VÀ CÁC TÔN GIÁO: CHƯƠNG 2 - NHỮNG TIỀN ĐỀ THẦN HỌC NỀN TẢNG



Xem Bài đã đăng

 

27- Phần đặt vấn đề (status quaestionis) trên đây cho thấy những lối tiếp cận khác nhau của thần học các tôn giáo và giá trị cứu độ của các tôn giáo ấy phần lớn lệ thuộc như thế nào vào điều mà người ta suy nghĩ về ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa Cha: Tân Ước qui kết mọi sự vào Ngài, ơn cứu độ khởi phát nơi Ngài, cũng như sự trung gian duy nhất của Đức Kitô, tính phổ quát của hành động nơi Chúa Thánh Thần và tương quan của Thánh Thần với Đức Giêsu, tác vụ của Hội Thánh như bí tích phổ quát của ơn cứu độ. Câu trả lời cho những vấn đề vừa nêu lên đòi hỏi chúng ta suy tư ngắn gọn về các vấn đề thần học nền tảng sau đây:

 

 

II.1- Sáng kiến của Thiên Chúa Cha trong việc cứu độ.

 

28- Chính trong ánh sáng của ý định Thiên Chúa muốn cứu chuộc mọi người, không kể đến ranh giới các dân tộc hay chủng tộc, mà việc đề cập đến vấn đề thần học các tôn giáo có được ý nghĩa. Thiên Chúa, Đấng muốn cứu độ mọi người, đó là Cha của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Ý định cứu độ trong Đức Kitô đã có trước khi tạo dựng vũ trụ (xem Ep 1, 3-10) và được thực hiện bằng cách gửi Đức Giêsu đến trong thế gian, đó là bằng chứng tình yêu vô cùng và là lòng ân ái Chúa Cha thể hiện đối với nhân loại (xem Gioan 3, 16-17; 1 Gioan 4, 9-10,...). Tình yêu đó của Thiên Chúa đi đến mức "giao nộp" Đức Giêsu Kitô chịu chết để cứu chuộc mọi người và để hòa giải với thế giới (xem Rm 5, 8-11; 3, 2; 2 Co 5, 18-19...). « Thiên Chúa là Cha » thường được Tân Ước nối liền với đức tin vào Đức Giêsu, trong một vài đoạn lại mở ra những viễn cảnh rộng lớn hơn (xem Ep 3, 14-15; 4, 6). Thiên Chúa là Thiên Chúa của người Do Thái và của dân ngoại (xem Rm 3,29). Ơn cứu độ của Thiên Chúa, là Đức Giêsu, cống hiến cho tất cả các dân tộc (xem Lc 2, 30 ; 3, 6; Cv 28, 28).

 

29- Sáng kiến cứu độ của Chúa Cha được xác định trong 1 Gioan 4,14: "Chúa Cha đã gửi con Ngài đến làm Đấng Cứu độ thế giới". Thiên Chúa "Chúa Cha mà mọi sự đến từ Ngài" (1 Co 8,6), là căn nguyên của công cuộc cứu độ được thực hiện bởi Đức Kitô. Tước hiệu "Đấng Cứu độ", thường dùng cho Đức Kitô (xem LC 2, 11; Gioan 4,42; Công vụ 5, 31...), nhưng trước hết để gọi Thiên Chúa trong một số bản văn của Tân Ước (xem Tm 1, 1; 2, 3; 4, 10; Tt 1, 3; 2, 10; 3,4; Gđ 25), tuy nhiên không phải vì thế mà loại bỏ tước hiệu đó nơi Đức Kitô (Tt 1,4; 2, 13; 3, 6). Theo 1 Tm 2,3-4, "Thiên Chúa là Đấng cứu độ chúng ta (...) Người muốn rằng tất cả được cứu độ và đạt đến sự hiểu biết chân lý". Ý muốn cứu độ của Ngài không có hạn chế, nhưng nó đi kèm với ý muốn rằng con người biết được chân lý, nghĩa là gắn bó với đức tin (xem 1 Tim 4, 10, Thiên Chúa là "Đấng cứu độ mọi người, nhất là những kẻ tin"). Như vậy, ý muốn cứu độ nầy tất nhiên cần thiết phải có việc loan báo Phúc âm. Ngoài ra ơn Cứu độ liên hệ mật thiết với sự trung gian duy nhất của Đức Kitô (xem 1 Tm 2, 5-6) mà chúng ta sẽ nói đến trong phần sau.

 

30- Thiên Chúa Cha đồng thời là cùng đích mà tất cả hướng về và tiến tới. Cứu cánh tối hậu của tác động sáng tạo và cứu độ sẽ được thực hiện khi mọi sự đều được qui phục vào Chúa Con: "Bấy giờ chính Chúa Con sẽ qui phục Đấng đã làm cho mọi sự qui phục vào Ngài, để Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi sự" (1 Co 15, 28).

 

31- Một số tiền ảnh về đặc tính phổ quát nầy Cựu Ước đã mạc khải, nhưng nó được tỏ bày trọn vẹn nơi Đức Kitô. Mọi người, không loại trừ ai, đều đã được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa (xem St 1, 26 và tiếp theo; 9,6). Bởi vì trong Tân Ước hình ảnh Thiên Chúa là Đức Kitô (2 Co 4,4, Col 1,15), nên có thể thẩm định rằng: tất cả mọi người đều hướng về Đức Kitô. Giao ước của Thiên Chúa với No-ê bao gồm mọi sinh vật trên trái đất (xem St 9,9. 12. 17 và tiếp theo). Trong Abraham "tất cả mọi gia đình trên trái đất sẽ được chúc lành" (Sáng thế 12, 2; xem 18, 18). Vì Abraham đã vâng phục mà con cháu của ông từ muôn đời được Chúa chúc phúc (xem St 22, 17-18; 26, 4-5; 28, 14). Thiên Chúa của Israel đã được một số người ngoại quốc nhận biết tôn thờ (xem Jos 2; 1 Các vua 10, 1-13; 17, 17-24; 2 Các vua 5, 1.27). Trong Isaia thứ 2 và thứ 3, cũng có những đoạn nói đến sự cứu độ các dân tộc trong bối cảnh của sự cứu độ dân Israel (xem Is 42, 1-4; 49, 6-8; 66, 18-21...: những của lễ dâng hiến của các dân tộc sẽ được Thiên Chúa chấp nhận như những của lễ của người Israel; và Thánh vịnh 87; 47, 10: "Các vua chúa của các dân tộc hiệp nhất với nhau: đó là dân của Thiên Chúa, (Chúa) của Abraham"). Đó là một sự phổ quát của ơn cứu độ mà Israel là tâm điểm. Sách Khôn ngoan cũng nói đến mọi người không phân biệt chủng tộc hoặc quốc gia (xem Cn 1, 20-23; 8, 2-10; Kn 6, 1-10. 21;...)

 

 

II.2- Trung gian duy nhất của Đức Giêsu

 

A- Một vài đoạn văn Tân Ước

 

32- Chúng ta đã ghi nhận rằng ý muốn cứu độ của Chúa Cha lệ thuộc chặt chẽ với đức tin vào Đức Giêsu. Chương trình cứu độ chỉ được thực hiện trong Ngài mà thôi: "Dưới bầu trời nầy, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ Danh đó mà được cứu độ" (Cv 4,12). Sự cứu độ chỉ có được nhờ đức tin vào Chúa Giêsu, đó là một xác quyết chắc chắn trong Tân ước. Tất cả những ai tin vào Đức Kitô đều là hậu duệ chân thật của Abraham (xem Rm 9, 6-7; Ga 3,29; Gioan 8, 31-58; Lc 1,55). Sự chúc lành cho tất cả mọi người trong Abraham có ý nghĩa trọn vẹn của nó trong sự chúc lành cho tất cả trong Đức Kitô.

 

33- Theo Phúc âm Mathêu, Đức Giêsu cảm thấy mình đặc biệt được gửi đến cho dân Israel (Mt 15, 24; xem Mt 10, 5-6). Những xác quyết ấy đáp ứng được lối trình bày đặc biệt của Mathêu về lịch sử sự cứu độ: lịch sử Israel hướng đến sự hoàn tất của mình trong Đức Kitô (xem Mt 1,22-23; 2, 5-6. 15, 17-18. 23), và những lời Chúa hứa sẽ được thể hiện hoàn toàn khi trời và đất sẽ đi qua và khi mọi sự sẽ hoàn tất (xem Mt 5,18). Sự hoàn tất nầy đã bắt đầu trong các biến cố chung mãn của sự chết (xem Mt 27, 51-53) và sự sống lại (xem Mt 28, 2-4) của Đức Kitô. Nhưng Đức Giêsu không loại trừ những người ngoại giáo ra khỏi ơn cứu độ: Ngài khen ngợi đức tin của một vài người trong họ, mà người ta không tìm thấy đức tin đó trong Israel (xem Mt 8, 10; Lc 7, 9: người đội trưởng; Mt 15, 21-28; Mc 7, 24-30: người phụ nữ Syro-Phênicia); họ sẽ đến từ phương Đông và phương Tây để ngồi vào bàn tiệc Nước Trời trong khi con cái của vương quốc sẽ bị tống ra ngoài (Mt 8, 11-12; Lc 13, 18-29; xem 11, 20-24). Sau khi sống lại Đức Giêsu đã ban cho 11 Môn đệ một sứ mệnh phổ quát (xem Mt 28, 16-20; Mc 16, 15-18; Cv 1,8). Bởi thần khải, Hội Thánh sơ khai đã nhanh chóng bắt đầu sứ vụ nơi các dân ngoại, (Công vụ 10, 34). Trong Đức Kitô không có sự phân biệt giữa Do Thái và các dân ngoại (Ga 4,24; Col 3, 11).

 

34- Theo ý nghĩa đầu tiên, tính phổ quát của sự cứu độ nhờ Đức Giêsu đặt nền trên sự kiện là sứ điệp và ơn cứu độ của Ngài dành cho mọi người, và tất cả mọi người có thể đón nhận trong đức tin. Nhưng trong Tân ước, chúng ta còn thấy những bản văn nói lên rằng ý nghĩa đó vượt xa hơn nữa, nghĩa là bằng một cách nào đó nó đi trước sự tiếp nhận sứ điệp của Đức Giêsu từ phía người tín hữu.

 

35- Trước hết, chúng ta phải lưu ý rằng: tất cả những gì hiện hữu đều đã được tác thành bởi Đức Kitô (xem 1 Co 8, 6; 1, 3. 10; He 1,2). Theo Col 1, 15-20, mọi sự được dựng nên trong Ngài, bởi Ngài, và mọi sự đều qui hướng về Ngài. Cũng chính bản văn nầy cho thấy rằng nguyên nhân tính nơi Đức Kitô trong công cuộc tạo dựng liên quan đến sự trung gian cứu độ mà mọi to vật qui về. Đức Giêsu là người được sinh ra đầu tiên trong cuộc tạo dựng và là người được sinh ra đầu tiên từ cõi kẻ chết. Chính trong việc sinh lần thứ hai nầy đã làm cho việc sinh ra lần đầu mang trọn ý nghĩa. Việc thâu tóm mọi sự trong Đức Kitô là ý định tối hậu của Thiên Chúa Cha (xem Ep 1, 10). Bên trong tính cách phổ quát nầy, người ta phân biệt hành động đặc biệt của Đức Kitô trong Giáo hội: "Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Người, và đã thiết lập Người, làm chủ tất cả, làm Đầu của Hội Thánh, là thân thể của người: sự sung mãn của Đấng tràn đầy, tất cả trong mọi sự" (Ep 1, 22-23; xem Col 1, 17).

Đối chiếu song song của Phaolô giữa Adam và Đức Kitô (xem 1 Co 15, 20-22. 44-49; Rm 5, 12-21) hầu như qui về một hướng đồng nhất. Nếu có một ý nghĩa phổ quát nơi Adam đầu như là con người đầu tiên và cũng là kẻ phạm tội đầu tiên, thì Đức Kitô cũng phải có một ý nghĩa cứu độ phổ quát cho mọi người, mặc dù những từ ngữ nhằm nói đến ý nghĩa đó được biểu lộ ra một cách không rõ rệt. Ơn gọi của tất cả mọi người, hôm nay còn mang hình ảnh của Adam trần thế, là phải trở thành hình ảnh của Adam trên trời.

36- « (Lời Thiên Chúa) là ánh sáng thật, soi sáng cho mọi người; (Lời đó) đã đến trong thế gian » (Gioan 1,9) [1] . Chính Đức Giêsu với tư cách là Lời nhập thể, soi sáng cho mọi người. Lời đã thực thi trung gian sáng tạo rồi, nhưng không phải không qui về công cuộc nhập thể và cứu độ tương lai, và chính vì vậy Đức Giêsu đến cư ngụ giữa những người của Ngài. Và họ không đón nhận Ngài (xem Gioan 1, 3-4. 10.11). Đức Giêsu loan báo việc tôn vinh Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý, vượt khỏi phạm vi Giêrusalem và núi Garizim (xem Gioan 4, 21-24) và đường lối tôn thờ đó đã được nhận ra trong lời tuyên xưng của những người Samaritanô: "Thật chính Ngài là Đấng cứu độ thế giới" (Gioan 4, 42).

 

37- Sự trung gian duy nhất của Đức Giêsu Kitô liên hệ mật thiết với ý muốn cứu độ của Thiên Chúa, trong 1 Tm 2, 3-6. "Thiên Chúa Duy nhất, Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người cũng duy nhất, đó là Đức Giêsu Kitô, cũng chính thật là con người, đã tự nộp mình làm giá cứu chuộc cho chúng ta". Tính duy nhất của đấng trung gian (cũng xem He 8,6; 9, 15; 12; 24) tương ứng với tính duy nhất của Thiên Chúa, Đấng muốn cứu độ mọi người. Đấng trung gian duy nhất là con người Giêsu Kitô; đây cũng vậy, chữ ấy nhắm đến ý nghĩa phổ quát của Đức Giêsu với tư cách là Con Thiên Chúa nhập thể. Ngài là trung gian giữa Thiên Chúa với con người vì Ngài là Chúa Con làm người, đã tự giao nộp mình chịu chết làm của chuộc cho tất cả.

 

38- Trong bài giảng của Phaolô ở đồi Arê, (Cv 17, 22-31) rõ ràng cho thấy việc quay về với Đức Kitô hàm ngụ một sự đoạn tuyệt với quá khứ. Các tôn giáo trong thực tế đã dẫn con người đến việc thờ thần tượng. Nhưng người ta dường như thấy nỗ lực tìm kiếm triết học được xem là chân thực; nếu nỗ lực nầy không đi đến sự hiểu biết Thiên Chúa chân thật, thì nó cũng không phải vì thế mà là một con đường hoàn toàn sai lạc. Việc tìm kiếm lần mò về Thiên Chúa đáp ứng những ý định của Đấng Quan phòng; dường như sự tìm kiếm đó cũng có những khía cạnh tích cực. Phải chăng đã có một tương quan với Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô ngay cả trước khi gia nhập đạo (xem Công vụ 10, 34) ? Người ta không thấy Tân Ước khép kín đối với những gì không phát xuất từ đức tin vào Đức Kitô; ngược lại Tân ước nới mở và đón nhận các giá trị tôn giáo (xem Ph. 4,8).

 

39- Tân ước cho chúng ta thấy cùng một lúc tính phổ quát của ý muốn cứu độ nơi Thiên Chúa và mối liên hệ của sự cứu độ với công cuộc cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô, Đấng trung gian duy nhất. Con người đạt được sự cứu độ khi họ nhận biết và chấp nhận Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, trong đức tin. Tuy nhiên, một vài đoạn dường như giúp chúng ta hiểu rằng có một ý nghĩa cứu độ của Đức Giêsu đến với bất kỳ ai, kể cả những người không biết đến Ngài. Điều bất tương hợp với Sứ điệp Tân Ước đó là: hoặc giới hạn ý muốn cứu độ của Thiên Chúa, hoặc cho rằng có những trung gian song song ngoài sự trung gian của Đức Giêsu, hoặc sự trung gian phổ quát nầy được xem là công việc của Lời Vĩnh cửu được hiểu như không nhất thiết phải đồng nhất với Đức Giêsu.

 

 

B- Những chủ đề của Truyền thống được lặp lại trong giáo huấn gần đây của Giáo hội

 

40- Ý nghĩa phổ quát của Đức Kitô đã được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau trong Truyền thống của Hội Thánh từ những thời xa xưa nhất. Chúng ta hãy chọn lọc một vài chủ đề từng được nhắc đến trong các văn kiện gần đây của giáo huấn, nhất là trong Công đồng Vaticanô II.

 

41- Những hạt giống của Lời Thiên Chúa (semina Verbi). Bên ngoài những giới hạn của Giáo hội hữu hình, cụ thể là trong các tôn giáo khác nhau, người ta có thể tìm ra được "những hạt giống của Lời Thiên Chúa". Biểu tượng nầy thường được dùng với biểu tượng ánh sáng. Ánh sáng chiếu dọi cho mọi người và chuẩn bị cho Phúc âm (AG. 11. 15; LG 16. 17; NA 2; RM 56).

 

42- Thần học về các "hạt giống của Lời Thiên Chúa" đến từ Thánh Giustinô. Đứng trước tình trạng đa thần của thế giới Hy lạp, Giustinô nhận thấy triết học là một đồng minh với Kitô giáo, vì triết học đã đi theo lý trí; tuy nhiên, lý trí nầy chỉ tìm được ý nghĩa trọn vẹn trong Đức Giêsu Kitô, tự thân của Lời Thiên Chúa. Chỉ có người Kitô hữu mới nhận biết Ngôi Lời hoàn toàn [2] . Nhưng tất cả nhân loại đã chia sẻ sự hiểu biết ấy. Cho nên luôn luôn có những người sống đúng với Lời Thiên Chúa, và trong ý nghĩa đó, thì đã có "những Kitô hữu" rồi, mặc dù họ đã chỉ biết được một phần nào của hạt giống Lời Chúa [3] . Có một sự khác biệt lớn giữa mầm của sự vật, và chính vật đó. Nhưng bằng cách nào đi nữa, thì sự hiện diện một phần và mầm của Lời Thiên Chúa vẫn là quà tặng và ân sủng của Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa là Đấng gieo những "mầm chân lý" nầy [4] .

 

43- Đối với Clêmentê thành Alexandria, con người là hữu thể có lý trí, do đó nó cũng tham dự vào trí tuệ chân thật là Logos đang điều hành vũ trụ. Con người đạt đến lý tính nầy một cách toàn hảo, nếu nó trở lại và theo Đức Giêsu, Lời (Logos) nhập thể [5] . Với mầu nhiệm nhập thể, thế giới được đầy những hạt mầm của sự cứu độ. [6] Nhưng cũng có những vụ gieo mầm của Thiên Chúa từ khởi thủy của các thời đại, đã tạo nên những phần chân lý khác nhau tìm thấy nơi những người Hy lạp và những người mọi rợ, đặc biệt ở trong triết học nói chung [7] , dù rằng có cỏ lùng trộn lẫn vào chân lý [8] . Đối với người Hy lạp, triết học đã có một chức năng tương tự như Lề Luật đối với người Do Thái. Triết học và Lề Luật đã là sự chuẩn bị hướng đến sự kiện toàn nơi Đức Kitô [9] . Tuy nhiên có một sự khác biệt rõ ràng giữa hành động của Thiên Chúa trong các triết gia nầy và trong Cựu ước. Mặt khác, chỉ trong Đức Giêsu là ánh sáng soi cho mọi người, thì mới có thể chiêm ngắm Lời hoàn hảo, và chân lý tràn đầy. Những mãnh của chân lý thuộc về toàn thể của chân lý [10] .

 

44- Giustinô và Clêmentê đều cùng có một quan điểm khi phát biểu rằng các mãnh của chân lý toàn diện mà người Hy lạp biết đến, ít nhất một phần, đều xuất phát từ Maisen và các tiên tri. Những vị nầy xa xưa hơn các triết nhân [11] . Chính người Hy lạp đã "ăn cắp" nơi các ngôn sứ chương trình của Chúa quan phòng, nhưng người Hy lạp đã không biết cám ơn về những gì mình đã nhận [12] . Vì thế sự hiểu biết chân lý nầy, không phải không có tương quan với Mạc khải trong lịch sử; và Mạc khải nầy sẽ đạt đến mức sung mãn của nó trong mầu nhiệm nhập thể của Đức Giêsu.

 

45- Irénée không trực tiếp sử dụng hình ảnh về hạt giống của Lời Thiên Chúa. Nhưng thánh nhân nhấn mạnh rằng Lời Thiên Chúa đã luôn ở với con người trong tất cả mọi thời đi của lịch sử, Ngài đã đồng hành với con người, tiên liệu mầu nhiệm nhập thể đến [13] ; bằng công cuộc nhập thể, chính Đức Giêsu đã đem lại một sự mới mẻ hoàn toàn. Như vậy sự cứu độ nối liền với sự xuất hiện của Đức Giêsu, mặc dù ơn cứu độ ấy đã được loan báo và những hậu quả của nó đã xảy ra trước một cách nào đó [14] .

 

46- Con Thiên Chúa kết hợp với mọi người (xem GS 22; RM 6 và nhiều nơi khác). Ý tưởng nầy thường được các Thánh phụ đề cập đến khi chú giải một vài đoạn của Tân Ước. Một trong những đoạn làm cảm hứng cho lối giải thích ấy là dụ ngôn về con cừu bị lạc (xem Mt 18, 12-24; Lc 15, 1-7): Con cừu cái ấy được đồng hóa với nhân loại lạc lầm mà Đức Kitô đã đến để tìm lại. Với việc nhận lấy bản tính con người, Con Thiên Chúa đã vác lấy toàn nhân loại trên vai mình, để dâng lên Chúa Cha. Grêgôriô thành Nysse diễn tả thế nầy: "Con cừu cái đó, là chúng ta đây, những con người (...) Đấng cứu độ mang trọn con cừu cái trên vai Ngài (...), vì khi đã lạc lối hoàn toàn, nó được đưa về an toàn. Người mục tử vác nó trên vai mình, nghĩa là trong thiên tính của mình (...) Khi mang con cừu trên mình, người mục tử làm cho nó trở thành một với mình" [15] . Câu Gioan 1,14: "Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" cũng đã được giải thích trong nhiều dịp theo nghĩa cư ngụ "bên trong chúng ta", nghĩa là ở bên trong mỗi người; từ "ở trong chúng ta", dễ dàng đi đến "chúng ta ở trong Ngài" Tất cả chúng ta ở trong Ngài, thì Ngài có thể giải hòa tất cả chúng ta với Chúa Cha . Trong nhân tính được tôn vinh của Ngài, tất cả chúng ta có thể được sống lại và nghỉ an [16] .

 

47- Các Thánh Phụ không quên rằng sự hiệp nhất nầy của con người trong Thân Thể của Đức Kitô được thực hiện một cách đặc biệt trong bí tích rửa tội và thánh thể. Nhưng sự hiệp nhất của tất cả mọi người trong Đức Kitô, nhờ việc Ngài nhận lấy bản tính của chúng ta, thiết định một tiền đề khách quan để từ đó người tín hữu tăng trưởng trong sự hiệp nhất cá nhân với Đức Giêsu. Ý nghĩa phổ quát của Đức Kitô cũng giúp cho những người Kitô hữu đầu tiên thấy được việc Ngài giải thoát con người khỏi những quyền lực của thế gian nầy đang nhốt họ trong địa giới đặc thù và quốc gia [17] .

 

 48- Chiều kích Kitô học của hình ảnh. Theo Công đồng Vaticano II, Đức Giêsu là "con người hoàn hảo", và nhờ Ngài con người trở thành hoàn hảo hơn (GS 41, Tlđd. 22; 38; 45). Ngoài ra Công đồng còn dạy rằng chỉ "trong mầu nhiệm của Ngôi Lời nhập thể, mầu nhiệm về con người mới được sáng tỏ lên thật sự" (in mysterio Verbi in carnati mysterium hominis vere clarescit) (GS 22). Dựa vào nền tảng của lời xác quyết nầy, Công đồng trích dẫn một đoạn của Tertulianô, theo đó, Thiên Chúa, ngay từ khi tạo thành Adam từ bùn đất, đã nghĩ đến Đức Kitô, Đấng phải nhập thể [18] . Irénée cũng đã chứng minh rằng Ngôi Lời, Đấng làm nên mọi sự, đã tiên liệu nơi Adam một chương trình tương lai của nhân loại, mà chính Người sẽ mặc lấy nơi mình [19] . Mặc dù các lối giải thích của các Giáo Phụ về hình ảnh rất đa dạng, người ta khó có thể xem nhẹ luồng tư tưởng thấy nơi Con (Thiên Chúa), Đấng phải nhập thể (và phải chết và sống lại), như là mẫu mực Thiên Chúa đã chiếu vào đó để làm nên con người nguyên ủy. Nếu định mệnh con người là mang hình ảnh con người trên trời (1 Co 15, 49), thì dường như không lầm khi nghĩ rằng trong tất cả mọi người, phải có một chiều hướng nội tại qui về cứu cánh ấy.

 

 

C- Những lời kết luận

 

49- a) Chỉ trong Đức Giêsu con người mới có thể được cứu độ, và vì lý do đó, Kitô giáo có chủ trương rõ rệt về phổ quát tính. Vì thế Sứ điệp Kitô giáo nói với mọi người, và phải được loan báo cho mọi người.

 b) Một số bản văn của Tân ước và của Truyền thống xa xưa nhất hé lộ cho thấy ý nghĩa phổ quát của Đức Kitô vượt lên trên các nội dung chúng ta vừa nêu lên. Với việc giáng thế của Ngài, Đức Giêsu soi sáng cho mọi người biết Ngài là Adam tối hậu và chung cuộc mà tất cả chúng ta được mời gọi để trở nên giống Ngài v.v. Sự hiện diện phổ quát của Đức Giêsu được trình bày một cách kỹ lưỡng hơn trong giáo thuyết cổ xưa về hạt mầm Ngôi Lời (lógos spermatíkós). Nhưng ngay ở đây, người ta phân biệt rõ ràng giữa sự xuất hiện toàn mãn của Lời Thiên Chúa trong Đức Kitô, với sự hiện diện của những hạt mầm của Lời Thiên Chúa trong những ai không biết đến Ngài. Sự hiện diện nầy là hiện thực, tuy nhiên nó có thể hàm ngụ sự sai lầm và mâu thuẫn [20] . Từ khi Đức Giêsu đến trong thế gian, và nhất là từ lúc Ngài chết và sống lại, người ta hiểu được ý nghĩa tối hậu về sự gần gũi của Ngôi Lời đối với tất cả mọi người. Đức Giêsu đưa toàn bộ lịch sử đến mức hoàn thành (xem GS 10, 45).

 c) Nếu sự cứu độ liên kết chặt chẽ với sự xuất hiện lịch sử của Đức Giêsu, thì sự gắn bó của mỗi người vào Đức Kitô, bằng đức tin, không thể là việc tùy nghi. Chỉ trong Hội Thánh, là sự nối tiếp lịch sử với Đức Giêsu, người ta mới có thể sống trọn mầu nhiệm nầy. Vì thế, Hội Thánh nhất thiết phải loan truyền về Đức Kitô.

 d) Không bao giờ có thể quan niệm có những "trung gian" cứu độ khả dĩ khác tách rời khỏi con người Giêsu, Đấng trung gian duy nhất. Nhưng xác định làm sao những người không biết đến Đức Giêsu mà có liên hệ với Ngài, hoặc các tôn giáo có tương quan với Ngài như thế nào, việc đó lại khó khăn hơn. Bấy giờ chúng ta phải nói đến những con đường bí nhiệm của Chúa Thánh Thần, Đấng ban cho tất cả mọi người khả năng kết hợp với mầu nhiệm phục sinh (Hc GS 22); và công việc của Chúa Thánh Thần cũng không thể không tương quan với Đức Kitô (Tđ. RM 29). Chính trong bối cảnh của tác động phổ quát do Thần Linh Chúa Kitô, mà chúng ta phải qui định vấn đề giá trị cứu độ của các tôn giáo.

 e) Là vị trung gian duy nhất, Ngài hoàn thành ý định cứu độ của Thiên Chúa Cha Thiên Chúa duy nhất. Sự cứu độ cho mọi người là một và duy nhất: đó là sự hình thành toàn vẹn với Đức Giêsu và hiệp thông với Ngài trong sự tham dự vào chức năng làm con Thiên Chúa của Ngài. Bởi đó không thể chấp nhận có những chương trình cứu độ khác nhau dành cho những kẻ tin vào Đức Giêsu, và dành cho những ai không tin vào Ngài. Không thể có những con đường nào để đến với Thiên Chúa mà không qui kết vào con đường duy nhất là Đức Kitô (xem Gioan 14,6).

 

 

II.3- Tính phổ quát của Thánh Thần

 

50- Phổ quát tính của hành động cứu độ của Đức Kitô không thể nào hiểu được nếu không có hành động phổ quát của Chúa Thánh Thần. Một trong những yếu tố của tính phổ quát nầy nơi công việc Chúa Thánh thần đã thấy trong sự tạo dựng. Cựu Ước cho chúng ta thấy Thánh Thần của Thiên Chúa trên mặt nước (St 1,2). Và sách Khôn ngoan (Kn 1, 7) nói rằng: "Thánh Thần của Chúa tràn đầy mặt đất, và vì Ngài điều khiển tất cả vũ trụ, nên Ngài biết hết mỗi âm thanh"

 

51- Nếu điều đó có thể nói đến toàn vũ trụ, thì đối với con người nó có giá trị đặc biệt hơn nữa, vì con người được to dựng theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa (St 1, 26-27). Thiên Chúa tạo dựng con người để hiện diện trong con người, và cư ngụ trong con người. Nhìn ai với thiện cảm, thân cận với họ, có nghĩa là làm bạn với người ấy. Như thế ta có thể nói đến tình bạn nguyên sơ "amicitia originalis" của con người với Thiên Chúa và của Thiên Chúa đối với con người (Công đồng Tridentinô, Sessio VI, chương 7, DS 1528), như là hoa trái của hành động do Chúa Thánh Thần. Nhiều chỗ trong Cựu Ước diễn tả rằng sự sống nói chung và sự sống con người nói riêng được đặt vào mối tương quan khi rõ nét, khi ẩn kín với Thánh Thần Thiên Chúa (xem Tv. 104, 29-30; Jb 34, 14-15; Sách Giảng viên 12, 7). Đức Gioan Phaolô II cũng nhấn mạnh đến sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần trong việc tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa và trong tình bạn của Ngài (xem TĐ. Dominum et Vivificatem, 12; 34).

 

52- Thảm kịch của tội lỗi nằm ở trong sự kiện nầy: thay vì gần gũi giữa Thượng đế và con người, thì lại tạo ra tình trạng xa cách. Thần tối tăm trình bày Thiên Chúa như thù địch với con người, như một sự đe dọa (xem Sáng thế 3, 4-5; Đức Gioan Phaolô II, Tđ. DV, 38). Nhưng Thiên Chúa tự mình đến gần với con người qua nhiều giao ước khác nhau mà Cựu ước đã mạc khải. Ngay từ ban đầu hình ảnh và sự tương đồng, nói lên khả năng tương quan giữa con người với Thiên Chúa, nghĩa là khả năng giao ước. Thiên Chúa đã tuần tự đích thân đến gần với con người như vậy, qua những giao ước khác nhau, với No-ê (xem St 7, 1 và tiếp theo), với Abraham và Maisen; và Thiên Chúa đã trở thành bạn với họ (Yc 2, 23; Xuất hành 33,11).

 

53- Trong Tân ước, Thiên Chúa đến gần với con người đến độ Ngài đã gửi Con mình vào thế gian, nhập thể bởi việc làm của Chúa Thánh Thần, trong lòng Trinh Nữ Maria. Giao ước mới, trái với giao ước cũ, không phải giao ước của chữ viết, nhưng là giao ước của Thánh Thần (2 Co 3, 6). Đây là Giao ước mới, và phổ quát, giao ước của tính phổ quát từ nơi Chúa Thánh Thần. Phổ quát tính nghĩa là "Versus unum", qui về một Đấng duy nhất. Ngay chữ "thần" có nghĩa là sự linh hoạt chuyển động, và hàm ngụ một "định hướng". Thần được gọi là Dynamis (Cv 1, 8), và Dynamis hàm ngụ năng lực của một hướng đi. Từ những lời nói của Đức Giêsu về Chúa Thánh Thần, người ta biết được "Đấng hướng về" liên hệ về Đức Giêsu.

 

54- Sự liên hệ chặt chẽ giữa Chúa Thánh Thần và Đức Kitô biểu lộ trong việc xức dầu Đức Giêsu. Kitô có nghĩa chính xác là: Đấng được xức dầu của Thiên Chúa với dầu Chúa Thánh Thần: " Thần Linh của Chúa ở trên tôi, bởi vì Ngài đã xức dầu cho tôi..." (Lc 4, 18; Is 61, 1-2) Thiên Chúa đã ban cho Đức Giêsu dầu "của Thánh Thần và quyền năng", và "đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó và chữa lành mọi kẻ bị ma quỉ kềm chế " (Công vụ 10, 38). Như lời của Irénée: « Trong danh hiệu "Kitô" Đấng đã được xức dầu, phải hiểu ngầm Đấng đã xức dầu, và dầu mà ngài đã thụ nhận: Đấng xức dầu là Chúa Cha, Đấng được xức dầu là Chúa Con, được xức dầu trong Chúa Thánh Thần, tức là Dầu. Như Lời Thiên Chúa nói lên điều đó qua miệng của Isaia: "Thần Linh Chúa ở trên tôi, vì Ngài đã xức dầu tôi" (Is 61, 1-2), nghĩa là Chúa Cha là Đấng đã xức dầu và Chúa Con là Đấng đã được xức dầu và Dầu là Chúa Thánh Thần » [21] .

 

55- Như thế, phổ quát tính nơi giao ước của Thánh Thần là phổ quát tính giao ước trong Đức Giêsu. Ngài đã tự dâng hiến cho Chúa Cha nhờ sức mạnh Thánh Thần vĩnh cửu (He 9, 14), trong Chúa Thánh Thần, Ngài đã được xức dầu. Dầu nầy chảy tràn trên Đức Kitô toàn thể, trên những Kitô hữu được Thánh Thần xức dầu, và trên Hội Thánh. Inhatiô thành Antiokia đã từng quả quyết rằng Đức Giêsu đã nhận sự xức dầu "để xông một hương thơm của sự không hư nát cho Hội Thánh Ngài" [22] . Theo Irénée, "Đức Giêsu đã được xức dầu trong giòng sông Giorđanô để khi chúng ta được tiếp nhận nguồn phong phú của Dầu nầy, chúng ta được cứu độ" [23] . Còn Grêgôriô thành Nysse thì diễn tả sự việc đó bằng một hình ảnh đẹp và sâu xa: "Ý niệm xức dầu gợi lên (...) rằng không có một khoảng cách nào giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thực thế, cũng như lý trí và cảm giác không hề biết được có những trung gian nào cả giữa làn da nơi cơ thể ta và dầu, thì sự tiếp cận giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần cũng trực tiếp tức khắc như thế; cho nên ai chuẩn bị gặp gỡ Chúa Con bằng đức tin thì nhất thiết phải được xức dầu. Mọi phần đều tràn đầy Thánh Thần" [24] . Trong một nghĩa nào đó, Đức Kitô hàm ngụ toàn thể mọi người, vì Đức Kitô đã kết hợp với mọi người (GS 22). Đức Giêsu còn nói: "Khi các con đã làm việc gì cho một người bé nhỏ nhất trong anh em ta, thì chính các con đã làm việc đó cho Ta" (Mt 25, 40).

 

 

56- Hội Thánh là môi trường ưu tiên để Chúa Thánh Thần hoạt động. Trong Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô, Chúa Thánh Thần ban nhiều đặc ân khác nhau vì ích chung (xem 1 Co 12, 4-11). Danh ngôn của Irénée sau đây nói lên điều đó: "Ở đâu có Hội Thánh, thì ở đấy có Thánh Thần Thiên Chúa; và ở đâu có Thánh Thần Thiên Chúa, thì ở đó là Hội Thánh và mọi ân sủng" [25] . Và thánh Gioan Kim Khẩu nói rằng: "Nếu Chúa Thánh Thần không hiện diện, thì hẳn Hội Thánh không có; nếu Hội Thánh có, đó là một dấu chỉ hiển nhiên về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần" [26] .

 

57 - Một vài đoạn Tân Ước cũng cho thấy tầm phổ quát của tác động Chúa Thánh Thần, trong sứ mệnh rao truyền Phúc Âm của Hội Thánh cho mọi người. Chúa Thánh Thần đi trước và hướng dẫn việc rao truyền, Ngài là căn nguồn việc truyền giáo cho lương dân (Cv 10, 19. 44-47). Thánh Thần giúp lướt thắng tội lỗi của Babel. Ngược với mưu toan của các thợ xây tháp Babel, muốn tự sức mình vươn lên trời nơi Thiên Chúa ngự, nay là Chúa Thánh Thần từ trời xuống như là một ơn huệ, ban cho con người có khả năng nói tất cả các thứ tiếng, và mỗi người có thể nghe được những việc kỳ diệu của Thiên Chúa trong tiếng nói riêng của mình (Công vụ 2, 1-11). Tháp Babel là một nỗ lực thực hiện sự hiệp nhất không có phổ quát tính: "Chúng ta hãy tự làm ra cho mình một danh xưng (một dấu chỉ về sự hiệp nhất) để khỏi phải tản mác trên mặt địa cầu" (St 11,4). Lễ Hiện xuống là hồng ân của phổ quát tính trong Hiệp nhất: "Tất cả được tràn đầy Thánh Thần và bắt đầu nói nhiều loại tiếng khác nhau, tùy theo Chúa Thánh Thần ban cho họ nói." (Công vụ 2, 4). Trong hồng ân của Thánh Thần Hiện xuống, chúng ta thấy sự kiện toàn Giao Ước trên núi Si-nai, nay thật sự trở thành phổ quát (xem Xh 19, 1 và tiếp theo).

 

58 - Ơn của Chúa Thánh Thần là ơn của Đức Giêsu sống lại và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha (Cv 2, 32; xem Gioan 14, 15. 26; 15, 26; 16,7; 20, 22); đó là một giáo huấn bền vững trong Tân Ước. Chính sự sống lại của Đức Giêsu được thực hiện với sự can thiệp của Thánh Thần (xem Rm 1,4; 8, 11). Thánh Thần ban cho chúng ta là Thần Linh của Đức Kitô, Thần Linh của Chúa Con (xem Rm 8,9; Ga 4,6; Ph 1, 19; Cv 16,7). Hoạt động của Chúa Thánh Thần luôn luôn kết hợp với hành động phổ quát của Đức Giêsu. Các Thánh Phụ đã để lại cho chúng ta những lý chứng hiển nhiên về sự kiện đó [27] . Chính nhờ tác động của Chúa Thánh Thần mà chúng ta có thể rợp khuôn với hình ảnh của Đức Giêsu sống lại, Adam mới. Trong Ngài con người đạt được một cách dứt khoát phẩm giá từng được mời gọi để hoàn thành ngay từ thuở nguyên sơ: "Và tất cả chúng ta, màn che trên mặt đã được mở ra, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như trong một tấm gương, chúng ta được biến cải nên chính hình ảnh ấy, đi từ vinh quang đến vinh quang, do từ nơi Chúa, là Thánh Thần" (2 Co 3,18). Con người đã được to dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, nhờ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần nay được biến đổi theo hình ảnh của Thiên Chúa (hoặc của Đức Kitô) nhờ vào tác động của Chúa Thánh Thần. Chúa Cha là họa sĩ; Con Ngài là hình mẫu cho loài người; Thánh Thần là cây bút lông, với bút nầy con người được vẽ trong sự tạo dựng và trong công cuộc cứu chuộc.

 

59 - Vì lý do đó, Chúa Thánh Thần đưa đến Đức Kitô. Chúa Thánh Thần hướng dẫn tất cả mọi người đến với Đức Kitô, Đấng được xức dầu. Đến lượt Ngài, Đức Kitô hướng dẫn tất cả mọi người về với Chúa Cha. Không ai đến với Chúa Cha nếu không qua Đức Giêsu, vì chính Ngài là đường (Gioan 14,6), nhưng chính Chúa Thánh Thần là Đấng dẫn lối cho các môn đệ về với chân lý trọn vẹn (Gioan 16, 12-13). Từ ngữ "sẽ dẫn lối" (hodegései) hàm ngụ con đường (hódos), như thế Chúa Thánh Thần dẫn lối trên con đường là Đức Giêsu, Đấng đưa ta về với Chúa Cha. Nên không ai có thể nói "Đức Giêsu là Chúa", nếu không được Chúa Thánh Thần tác động (1 Co 12,3). Từ ngữ "Đấng bênh đỡ" mà được Gioan dùng cho chúng ta thấy rằng Chúa Thánh Thần là "luật sư" trong vụ án đã bắt đầu ở Giêrusalem, và mãi tiếp tục trong lịch sử. Chúa Thánh Thần Bênh-Đỡ ở trong các môn đệ Chúa Giêsu sẽ bênh vực Đức Giêsu về các lời buộc tội chống lại Ngài ở trong các môn đệ Chúa Giêsu. "Chính Ngài sẽ làm chứng cho ta, và đến phiên các con, cũng phải làm chứng cho ta, vì các con ở với ta từ lúc ban đầu" (Gioan 15, 26-27).

 

60 - Như thế, Chúa Thánh Thần là hồng ân của Đức Giêsu, và Thánh Thần dẫn chúng ta về với Đức Giêsu, mặc dù con đường cụ thể Thánh Thần dùng để dẫn dắt con người chỉ có một mình Thiên Chúa biết đến. Vatiacanô II đã diễn tả sự kiện đó rõ ràng như sau: "Vì Đức Kitô đã chết cho mọi người và vì ơn gọi tối hậu của con người thực sự là duy nhất, nghĩa là bởi Thiên Chúa, cho nên chúng ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho tất cả mọi người khả năng được tham dự vào mầu nhiệm phục sinh, cách nào đó chỉ có Thiên Chúa biết mà thôi" (GS 22). Xác quyết đặc tính phổ quát của hành động Chúa Thánh Thần, mà không đặt trong tương quan với Đức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể, chết và sống lại, là một xác quyết không có một ý nghĩa gì. Hơn nữa nhờ sức mạnh tác động của Thánh Thần, tất cả mọi người có thể kết hợp với Đức Giêsu, Đấng đã sống, đã chết và đã được phục sinh trong một nơi và một thời điểm cụ thể. Ngoài ra, tác động của Thánh Thần không chỉ giới hạn ở chiều kích nội tâm và cá nhân con người, nhưng còn liên hệ đến các chiều kích xã hội: "Cũng một Chúa Thánh Thần ấy đã hành động trong công cuộc nhập thể, trong đời sống, cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, và đang hành động trong Hội Thánh. Ngài không tự thay thế Đức Kitô và không lấp đầy khoảng trống giữa Đức Kitô và Lời Thiên Chúa, như giả thiết từng được nêu lên. Điều mà Chúa Thánh Thần làm trong tâm hồn của con người và trong lịch sử các dân tộc, trong các nền văn hóa và các tôn giáo, là chu toàn nhiệm vụ chuẩn bị cho Tin Mừng. Công việc đó của Chúa Thánh Thần phải được thực hiện trong tương quan với Đức Kitô (TĐ. RM 29).

 

61 - Môi trường ưu tiên cho hoạt động của Chúa Thánh Thần là Hội Thánh, thân thể Chúa Kitô. Nhưng tất cả các dân tộc, bằng nhiều cách khác nhau, được mời gọi hiệp nhất với Dân Chúa mà trong đó Thánh Thần không ngừng hoạt động: "Đặc tính phổ quát, một đặc điểm của Dân Chúa, là ơn huệ Thiên Chúa nhờ đó Hội Thánh luôn nỗ lực một cách hữu hiệu qui tụ toàn thể nhân loại và do mọi sự tốt lành nơi họ vào Đức Kitô Đấng Thủ lãnh, trong sự hiệp nhất với Thánh Thần Ngài (...).Vì thế tất cả mọi người được mời gọi vào sự hiệp nhất Công giáo nầy của Dân Chúa, sự hiệp nhất ấy loan báo và cổ võ nền  hòa bình chung. Các tín hữu Công giáo cũng như những ai tin vào Đức Kitô và cuối cùng là mọi người, tất cả đều được ơn Chúa kêu gọi để được cứu độ, tất cả đều thuộc về cùng một sự hiệp nhất nầy, và được xếp đặt để hướng về sự hiệp nhất đó - bằng nhiều cách khác nhau - (LG 13). Chính tính phổ quát của hành động cứu độ do Đức Kitô và do Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn chúng ta tìm hiểu về chức năng của Hội Thánh như là bí tích phổ quát ơn cứu độ.

 

 

 

 

II.4- "Hội Thánh, nhiệm tích phổ quát ơn cứu độ"

 (Ecclesia, Universale salutis sacramentum)

 

 62 - Không thể khai triển thần học các tôn giáo mà không lưu ý đến sứ mệnh cứu độ có tính cách phổ quát của Giáo hội, được xác minh bởi Thánh kinh và bởi Truyền thống đức tin của Giáo hội. Sự thẩm định thần học các tôn giáo từ lâu đã không thể quan niệm được, bởi vì nguyên tắc "ngoài Hội Thánh, không có sự cứu độ" (Extra Ecclesiam, nulla salus) được hiểu theo một nghĩa độc chuyên. Với giáo lý về Hội Thánh như là "nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ" hoặc "nhiệm tích của Nước Thiên Chúa", thần học đang cố gắng đi vào một phương cách mới để đề cập đến vấn đề. Giáo huấn nầy trở về với quan điểm về nhiệm tích Giáo hội trong Tân ước đã được Công đồng Vaticanô II nhắc lại.

 

63- Ngày nay câu hỏi đầu tiên không phải là để biết con người có thể đạt được sự cứu rỗi hay không, nếu họ không thuộc về Hội Thánh hữu hình. Về phương diện thần học, khả năng đó được xem là chắc chắn. Sự kiện có nhiều tôn giáo khác nhau mà Kitô hữu luôn luôn ý thức, sự hiểu biết kỹ lưỡng hơn về chính các tôn giáo nầy, việc cần đối thoại với các tôn giáo, khả năng nhận định rõ ràng hơn về những giới tuyến không gian và thời gian của Hội Thánh, tất cả những việc đó nêu lên câu hỏi: Liệu chúng ta còn có thể cho rằng Giáo hội cần thiết cho ơn cứu rỗi hay không? Và làm sao để dung hợp nguyên tắc nầy với ý muốn cứu độ mọi người của Chúa?

 

 

A- "Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ "

 (Extra Ecclesiam nulla salus)

 

64 - Đức Giêsu đã nối kết việc loan báo Nước Thiên Chúa với Giáo hội Ngài. Sau cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, Dân Chúa lại được kết hợp; lần này sự kết hợp được thực hiện nhân danh Đức Giêsu Kitô. Giáo hội của người Do Thái và của cả dân ngoại đã được hiểu như là công trình của Thiên Chúa, và là cộng đồng trong đó người ta sống kinh nghiệm về tác động của Chúa được vinh thăng và tác động do Thánh Linh của Ngài. Bí tích rửa tội nhân danh Đức Giêsu Kitô - (phương thế để tham dự vào sự chết mang lại ơn cứu rỗi của Ngài) - bí tích tha tội, và việc gia nhập vào cộng đồng ơn cứu độ, tất cả được kết hợp với đức tin vào Đức Giêsu Kitô - Đấng trung gian phổ quát của ơn cứu độ. (xem Mc 16,16; Gioan 3, 5). Chính vì thế mà bí tích rửa tội được so sánh với con tàu của ơn cứu độ (1 P 3, 20 tiếp theo). Theo Tân ước, sự cứu rỗi được đặt trên nền móng của sự trung gian cứu độ duy nhất nơi Đức Giêsu Kitô.

 

65- Sự cần thiết của Hội Thánh đối với việc cứu độ phải được hiểu theo hai nghĩa: sự cần thiết phải gia nhập Hội Thánh đối với những ai tin vào Đức Giêsu, và sự cần thiết của sứ vụ Hội Thánh cho công cuộc cứu độ; vì Hội Thánh tiếp nhận trọng trách Thiên Chúa trao là phải thực hiện Nước Chúa đang đến.

 

66- Trong thông điệp Mystici Corporis, Đức Piô XII đề cập đến vấn đề mối tương quan giữa Hội Thánh và những ai đạt đến sự cứu độ ngoài sự hiệp thông hữu hình với Hội Thánh. Ngài nói: Họ được xếp đặt ở trong thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô do một ước muốn vô thức (DS 3821). Sự chống đối của tu sĩ dòng Tên người Mỹ Leonard Feeney, nhấn mạnh đến lối giải thích chấp nhất về câu "Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ" (Extra Ecclesiam nulla salus) là dịp để Bộ Thánh Vụ viết thư cho Tổng giám mục Boston, ngày 8.8.1949, bác bỏ lối giải thích nầy của Freeney và minh định về giáo huấn của Đức Piô XII. Bức thư phân biệt giữa sự cần thiết gia nhập Hội Thánh để được cứu độ (necessitas proecepti) và sự cần thiết của những phương tiện thiết yếu cho sự cứu độ (intréseca necessitas); tương quan với những phương thế nầy, Hội Thánh là một sự hỗ trợ tổng quát cho sự cứu độ (DS 3867-3869). Trong trường hợp ở vào hoàn cảnh không hiểu biết bất khả kháng, thì chỉ cần ước muốn mặc nhiên thuộc về Giáo hội; ước muốn đó hiện hữu khi một người khao khát thực hiện ý muốn của mình cho hợp với ý của Thiên Chúa (DS 3870). Nhưng đức tin, theo nghĩa của He 11,6 và tình yêu thì luôn luôn cần thiết phải có (DS 3872).

 

67- Công đồng Vaticanô II lấy lại câu "Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ" (Extra Ecclesiam nulla salus). Nhưng với câu nầy, Công đồng minh nhiên nói với những người Kitô hữu, và giới hạn hiệu lực của nó đối với những ai biết đến sự cần thiết của Hội Thánh để được cứu độ mà thôi. Công đồng cho rằng xác quyết ấy được xây dựng trên nền tảng của sự cần thiết đức tin và của bí tích rửa tội mà Đức Kitô quả quyết (LG 14). Như thế, Công đồng đã mặc nhiên dùng giáo huấn của Đức Piô XII, đồng thời làm nổi bật tính cách huấn dụ nguyên thủy của câu nói nầy.

 

68- Khác với Đức Piô XII, Công đồng không còn nói đến "Ước muốn mặc nhiên" (votum implicitum) và chỉ áp dụng chữ "Ước muốn" (votum) nơi ước muốn minh nhiên của những người dự tòng muốn gia nhập Hội Thánh (LG 14). Còn về những người không phải là Kitô hữu, Công đồng nói rằng họ được sắp đặt một cách khác để thuộc về Dân Chúa. Theo những phương thức khác nhau, qua đó ý muốn cứu độ của Thiên Chúa bao gồm cả những người không phải Kitô hữu, Công đồng phân chia thành bốn nhóm: trước hết, là những người Do Thái, thứ đến là người Hồi giáo; thứ ba là những ai không mang lỗi gì về phía mình, nhưng không biết đến Phúc âm của Đức Kitô và không biết Hội Thánh, họ tìm kiếm Thiên Chúa với tấm lòng chân thành và cố gắng chu toàn Ý muốn của Ngài được biết đến qua lương tâm; và thứ tư là những ai, không do lỗi gì về phần mình, nhưng chưa đạt đến sự nhìn nhận rõ rệt về Thiên Chúa, nhưng mặc dù thế, họ vẫn cố gắng sống một cuộc sống ngay chính (LG 16).

 

69- Những ơn huệ mà Chúa ban cho mọi người để họ được cứu độ, theo Công đồng, là do ý muốn cứu độ phổ quát của Ngài (LG 2; 3; 16; AG 7): Sự kiện người không phải Kitô hữu cũng được sắp đặt để qui hướng về Dân Chúa dựa trên lời mời gọi tất cả mọi người đi vào ơn cứu độ; lời mời gọi đó hàm ngụ ơn gọi của mọi người thực hiện sự hiệp nhất công giáo của Dân Chúa (LG 13). Công đồng cho rằng tương quan mật thiết giữa hai ơn gọi nầy dựa trên sự trung gian duy nhất của Đức Kitô. Ngài hiện diện ở giữa chúng ta trong thân thể của Ngài, đó là Hội thánh (LG 14).

 

70- Như thế chúng ta hiểu được ý nghĩa nguyên sơ của câu "Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ" (Extra Ecclesiam nulla salus) , là nhằm khích lệ những phần tử của Hội Thánh [28] cần trung kiên. Khi đưa câu nầy vào nội dung một câu bao quát hơn "Ngoài Đức Kitô không có ơn cứu độ" (Extra Christum nulla salus), thì câu ấy không còn thấy mâu thuẫn với lời mời tất cả mọi người đi vào sự cứu độ nữa.

 

 

B- "Họ được tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh"

 (Paschali Mysterio consociati)

 

 71- Hiến chế tín lý về Giáo hội "Ánh sáng muôn dân" (Lumen Gentium) nói đến một sự xếp đặt tuần tự hướng về Giáo hội đi từ quan điểm của lời mời gọi mọi người đi vào ơn cứu độ; lời mời gọi của ơn cứu độ hàm ngụ lời mời kết hợp với Giáo hội. Ngược lại, Hiến chế mục vụ "Vui mừng và hy vọng" (Gaudium et Spes) mở ra một đường hướng Kitô học, Thánh Thần học và cứu độ học rộng lớn hơn. Điều gì nói đến Kitô hữu thì cũng có giá trị cho mọi người thiện chí, nơi tâm hồn họ ân sủng tác động một cách vô hình. Họ cũng có thể được Chúa Thánh Thần kết hợp vào mầu nhiệm Phục sinh, và vì thế có thể họ được dự phần vào cái chết của Đức Kitô và đi đến sự sống lại.(GS 22)

 

72- Khi người không phải là Kitô hữu được thánh hóa bởi ân sủng Thiên Chúa, thông hiệp với mầu nhiệm Phục sinh của Đức Giêsu Kitô, thì họ cũng hiệp thông với mầu nhiệm của Thân Thể Ngài là Hội Thánh. Mầu nhiệm Hội Thánh trong Đức Kitô là một thực tại năng động trong Chúa Thánh Thần. Mặc dầu sự hiệp nhất có tính cách tinh thần nầy còn thiếu sự biểu lộ hữu hình trong việc tham gia vào Hội thánh, nhưng người không phải là Kitô hữu, được thánh hóa cũng ở trong Hội Thánh là "Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô" và là "cộng đồng tinh thần" (LG 8). Chính trong nghĩa nầy mà các Thánh Phụ của Hội Thánh có thể nói rằng những người không phải Kitô hữu được trở thành công chính và thuộc về Hội Thánh từ Abel (ecclesia ab Abel). Trong khi những người nầy được tụ tập trong Hội Thánh phổ quát với Chúa Cha (LG 2), thì những kẻ thuộc về Hội Thánh chỉ "bằng thân xác", nhưng không phải "bằng tâm hồn" lại sẽ không được cứu độ, bởi vì họ đã không trung kiên trong đức ái (LG 14).

 

73- Như vậy chúng ta có thể không những nói đến một sự sắp xếp cho những người không phải Kitô hữu công chính hóa được tham dự mầu nhiệm Hội Thánh, mà cũng có thể nói đến một mối giây liên hệ với mầu nhiệm của Đức Kitô và của Thân Thể Ngài là Hội Thánh. Nhưng có lẽ không nên nói đến sự thuộc về Hội Thánh, ngay cả một sự thuộc về có tính cách tuần tự, hoặc là nói đến một sự hiệp nhất bất toàn với Giáo hội, vì đó là một lối nói dành riêng cho những người Kitô hữu không Công giáo (UR 3; LG 15); bởi vì Hội Thánh tự yếu tính là một thực thể hỗn hợp, được cấu thành bởi sự liên kết hữu hình và sự hiệp thông tinh thần. Dĩ nhiên, những người không phải là Kitô hữu không có lỗi gì về việc không thuộc về Hội Thánh. Họ hiệp thông với những người được mời gọi vào Nước Thiên Chúa và họ thực thi tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Sự hiệp thông đó sẽ được tỏ hiện ra như Giáo hội phổ quát (Ecclesia universalis) vào lúc Nước của Thiên Chúa và của Đức Kitô được hoàn thành.

 

 

C- "Nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ"

 (Universale salutis sacramentum)

 

74- Một khi dựa vào tiền đề cho rằng mọi người đều có liên hệ với Giáo hội, thì sự cần đến Giáo hội để có được sự cứu rỗi hẳn được hiểu là cần phải thuộc về Giáo hội. Và khi mà Giáo hội ý thức về hoàn cảnh thiểu số của mình, xét về mặt thời gian cũng như số lượng, thì sự cần thiết của chức năng cứu độ phổ quát được đặt lên hàng đầu. Sứ mệnh phổ quát của Giáo hội song song với xác tín về sự hiệu quả có tính cách nhiệm tích hướng đến sự cứu độ: sự phối hợp nầy đã tìm ra được lối diễn tả thần học trong danh xưng. Giáo hội là nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ. Trong tư cách ấy, Giáo hội nỗ lực phục vụ công cuộc Nước Chúa đến, trong sự nối kết tất cả mọi người với Thiên Chúa và trong sự hiệp nhất những con người lại với nhau (LG 1).

 

75- Thiên Chúa đã thực sự mạc khải Ngài như tình yêu, không phải chỉ vì Ngài đã cho chúng ta thông phần vào Nước Thiên Chúa và những hoa trái của nó ngay từ bây giờ, nhưng còn ở việc Ngài gọi chúng ta và cứu thoát chúng ta để hợp tác đưa Nước Ngài đến. Như thế, Hội Thánh không phải chỉ là một dấu chỉ, mà cũng còn là một dụng cụ làm cho Nước Thiên Chúa vụt đến. Hội Thánh chu toàn sứ mệnh của mình với tư cách là nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ, bằng việc chứng tá đức tin (martyria), phụng vụ (leiturgia) và phục vụ (diakonia).

 

76- Qua chứng tá của Phúc âm (martyria) về công cuộc cứu chuộc mọi người đã được Đức Giêsu Kitô hoàn thành, Hội Thánh loan báo cho mọi người mầu nhiệm Phục sinh của ơn cứu độ hiến ban cho họ hoặc họ đã từng sống mầu nhiệm đó mà không biết. Là nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ, Hội Thánh tự bản chất là một Hội Thánh truyền giáo. Bởi vì Thiên Chúa trong tình yêu của mình không những kêu gọi con người đạt đến sự cứu độ tối hậu của họ bằng sự hiệp thông với Ngài; nhưng hơn thế nữa, ơn gọi toàn diện của con người còn đòi buộc sự cứu độ của mình phải được thực hiện, không phải chỉ trong việc phục vụ cho "bóng mờ của những điều sẽ đến" (Col 2, 17), nhưng trong sự hiểu biết đầy đủ về chân lý, trong sự hiệp thông với Dân Chúa và trong sự hợp tác tích cực đưa Nước Chúa đến, một sự hiểu biết được cũng cố bởi niềm hy vọng chắc chắn vào sự kiên trung của Thiên Chúa.(AG 1-2).

 

77- Trong phụng vụ (leiturgia) - nghĩa là việc cử hành mầu nhiệm phục sinh - Hội Thánh đi diện cho toàn nhân loại hoàn thành sứ mệnh phục vụ tế lễ của mình. Theo ý muốn của Chúa, Phụng vụ dùng phương cách hữu hiệu mang lại ơn ích cho mọi người khi tái diễn tác động của Đức Kitô Đấng "đã mặc lấy tội lỗi" vì chúng ta (2 Co 5, 21) và đã bị "treo lên trên thập tự giá" (Ga 3, 13) thay cho chúng ta, để giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi (LG 10). Cuối cùng trong việc phục vụ (diakonia), Hội Thánh làm chứng về sự tự hiến đầy yêu thương của Thiên Chúa cho con người cũng như sự xuất hiện của triều đại công lý yêu thương và hòa bình.

 

78- Sứ mệnh của Hội Thánh như là nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ cũng còn là việc phải làm sao để "mọi dấu vết của thiện hảo, bất luận là dấu vết nào, vốn hiện diện trong tâm hồn và tư tưởng của con người, không những đừng để chết đi, nhưng ngược lại phải được thanh tẩy, nâng lên và đưa đến mức toàn thiện" (LG 17). Vì tác động của Chúa Thánh Thần đi trước và đôi khi còn xuất lộ ra một cách hữu hình, nên sinh hoạt tông đồ (AG 4) và hoạt động của Hội Thánh cũng có thể biểu lộ trong nỗ lực tìm kiếm sự cứu thoát và nổi khắc khoải tôn giáo của con người. Mầu nhiệm Phục sinh, mà ý Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được dự phần, là một thực tại cứu độ bao hàm toàn thể nhân loại; thực tại cứu độ ấy nối kết từ trước Giáo hội với những người không phải là Kitô hữu, những người mà Giáo hội tìm đến; thực tại đó gắn liền Giáo hội với công tác phục vụ Mạc khải, công tác mà Giáo hội luôn phải thực hiện. Một khi Hội Thánh biết, cân nhắc và tiếp nhận điều thật và điều tốt mà Thánh Thần đã thực hiện nơi những lời nói và hành vi của những người không phải là Kitô hữu, thì Giáo hội lại càng thật sự trở thành Giáo hội công giáo hơn, "Giáo hội đó nói tất cả các thứ tiếng, hiểu và ôm ẵm tất cả các ngôn ngữ trong đức ái của mình, và như thế Giáo hội chiến thắng sự phân tán của Babel".(AG 4).

 

79- "Vì thế cho nên dân truyền giáo nầy, mặc dù chưa phải là toàn dân và thường còn được thấy như là một đoàn chiên nhỏ, nhưng cống hiến cho toàn nhân loại hạt mầm dũng mạnh nhất đem lại sự hiệp nhất, hy vọng và cứu độ. Dấu ấy được Đức Kitô thiết lập để thông truyền sự sống, bác ái và chân lý; nó là dụng cụ đầy hiệu năng của ơn cứu chuộc cho mọi người; nó được gửi đến để làm ánh sáng thế gian và muối đất" (xem Mt 5, 13-16) - (LG 9).

 



[1] Dường như nên chọn lối đọc nầy hơn là lối đọc của cuốn Vulgate, omnem hominem venientem in mundum.. Cuốn Néo-vulgate dịch veniens in mundum.

[2] Xem Apol I 5, 4; II 6, 7; 7, 2-3.

[3] Xem Apol I 46, 2-4; II 6, 7; 7, 1-3.

[4] Xem Apol I 44, 10; II 10, 2; 13, 2-6.

[5] Xem Protr I 6, 4; X 98, 4 (SC 2 bis, 60; 166); Ped I 96, 1 (SC 70, 280).

[6] Xem Protr. X 110, 1-3 (SC 2 bis, 178).

[7] Xem Strom. I 37, 1-7 (SC 30, 73-74).

[8] Xem Strom. VI 67, 2 (GCS 15, 465).

[9]Xem Strom. I 28, 1-3; 32, 4 (SC 30, 65; 69); VI 153-154 (GCS 15, 510 tiếp theo).

[10]Xem Strom I 56-57 (SC 30, 89-92).

[11] Giustinô Apol I 44, 8-9; 59-60 

[12] Clêmentê thành Alexandria, Protr VI 70 (SC 2 bis, 135); Strom I 59-60; 87, 2 (SC 30, 93 tiếp theo; 113); II 1, 1(SC 38, 32 tiếp theo).

[13] Xem Adv. Haer III 16, 6; 18, 1 (SC 211, 312; 342); IV 6, 7; 20,4; 28, 2 (SC 100, 454; 634 tiếp theo; 758); V 16, 1 (Sch 153, 214); Demons. 12 (SC 406, 100).

[14] Xem Adv. Haer IV 34, 1 (Sch 100, 846 tiếp theo).

[15] Contra Apol. XVI (PG 45, 1153); cũng xem Irénée thành Lyon; Adv. Haer II 19, 3 (SC 406, 130); V 12, 3 (Sch 153, 150); Demons. 33 (Sch 406, 130); Hilariô thành Poitiers In Mt. 18, 6 (Sch 258, 80 tiếp theo).

[16] Hilariô thành Poitiers. Tr. Ps 13, 14; 14, 5. 17; 51, 3 (CSEL 22, 81; 87 tiếp theo; 96; 98).

[17] Xem Origène, In Luc. hom. 35 (CGS Orig. W. 9. 200 tt); De Princ. IV 11-12 (Or. W 5, 339 tt); Augustinô Civ. Dei V 13. 19 (CCL 47, 146-148; 154-156).

[18] De carnis res. (De res. mort.) 6 (CCl 2, 928; trích trong GS 22, số 20): "quodcumque limus exprimebatur, Christus cogitabatur, homo futurus"; Ngài tiếp liền sau đó: "Id utique quod finxit, ad imaginem Dei fecit illum, scilicet Christi (...) Ita limus ille, iam tunc imaginem induens Christi futuri in carne, non tantum Dei opus erat, sed et pignus"; cũng như trong Adv. Prax. XII 4 (CCL 2, 1173).

[19] Xem Adv. Haer III 22, 3 (SC211, 438).

[20] Ngoài các bản đã trích, xem Augustinô. Ep. 137, 12 (PL 33, 520 tt) Retr. I 13,3 (PL 32, 603).

[21] Xem Adv. Haer III 18, 3 (SC 211, 350-352). Ý kiến nầy được lặp lại gần như y nguyên bởi Basiliô thành Césarée - De Spiritu Sancto XII 28 (Sch 17 bis, 344), và Ambrôsiô thành Milanô, De Spiritu Sancto I 3, 44 (CSEL 79, 33).

[22] Ad Ephesios 17, 1 (SC 10, 63). 

[23] Adv. Haer III 9,3 (SC 211, 112). Đối với Irénée, Thánh Thần còn xuống trong Đức Giêsu để "quen với việc" cư ngụ trong nhân loại, (Tlđd. 17, 1 (330).

[24] De Spir. Sancto contra Macedonianos 16 (PG 45, 1321 A - B).

[25] Irénée Adv. Haer. III 24, 1 (SC 211, 474).

[26] Hom. Pent I 4 (PG 49, 459).

[27] Chẳng hạn nơi Irénée thành Lyon Adv. Haer III 17,2 (SC 211, 334): "(...) Dominus accipiens munus a Patre ipse quoque his donavit qui ex ipso participantur, in universam terram mittens Spiritum sanctum"; Hilario thành Poitiers, Tr. Ps. 56, 6 (CSEL 22, 172): "Et quia exaltatus super caelos impleturus essèt in terris omnia sancti spiritus gloria, subiecit: et super omnem terram gloria tua (PS 57, 6. 12). Cum effusum super omnem carnem spiritus donum gloriam exaltati super caelos domini protestaretur"

[28] Xem Origène, In Jesu Nave 3,5 (SC 71, 142 tt); Cyprianô, De cath. unit. 6 (CSEL 3/1, 214 tt); Ep. 73, 21 (CSEL 3/2, 795)



Xem Bài đã đăng

Tác giả: Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
   dunglac@gmail.com