Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
trucdang@free.fr
Bài Viết Của
Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
Hội đồng Giáo hoàng "Công lý và Hoà bình" : Nhân quyền và Giáo hội - Những suy tư lịch sử và thần học
Nội dung thiết yếu và tối thượng của văn hóa
Ngày gặp gỡ văn hóa thường niên Việt Nam hải ngoại: lần đầu tiên được tổ chức tại Bruxelles , tháng 08 năm 2008
Chứng Từ Về HY TGM Nguyễn Văn Thuận
Giáo hội công giáo và Nhân quyền
Phát biểu về ba tác phẩm “Về nguồn, Thức tỉnh và Vietnam, a painful transition” của LS Lâm Lễ Trinh
Các bài viết nối kết
KITÔ GIÁO VÀ CÁC TÔN GIÁO: CHƯƠNG 3 - MỘT VÀI HỆ LUẬN CHO NỀN THẦN HỌC VỀ CÁC TÔN GIÁO


Xem Bài đã đăng


80- Một khi đã nghiên cứu khởi nguồn sự cứu độ nơi Chúa Cha, việc trung gian phổ quát nơi Đức Kitô, tính phổ quát nhờ ơn Chúa Thánh Thần, chức năng của Hội Thánh trong việc cứu độ mọi người, bây giờ chúng ta có được những yếu tố để phác họa một nền thần học các tôn giáo. Trước hoàn cảnh đa nguyên tôn giáo, ta thấy khuôn khổ của vấn đề nằm trong thắc mắc: ý nghĩa phổ quát của Đức Giêsu Kitô; sự tương quan của ý nghĩa đó đối với các tôn giáo; cũng như vấn đề chức năng của các tôn giáo trong ý định của Thiên Chúa - ý định nầy không là gì khác ngoài việc thu góp mọi sự vào Đức Kitô (Ep 1, 10). Không có gì phải ngạc nhiên trong việc sử dụng lại các chủ đề xa xưa của truyền thống để làm sáng tỏ những hoàn cảnh mới. Về phương diện tích cực, phải duy trì ý nghĩa phổ quát của Đức Giêsu và Thánh Thần của Ngài, cũng như sự phổ quát của Hội Thánh. Thật thế, Hội Thánh nầy loan truyền Phúc âm, phục vụ nhân loại bằng việc tế tự thuộc chức năng tư tế của mình trong việc cử hành phụng vụ của mầu nhiệm phục sinh. Về phương diện tiêu cực, tính phổ quát đó có tính cách độc chuyên: Không có Lời Thiên Chúa nào mà không phải là Đức Kitô, và cũng không có Thánh Thần nào không phải là Thánh Thần của Đức Kitô. Chính trong nội vi của các tiêu mốc nầy, chúng ta nhận diện các vấn đề cụ thể sắp được khai triển một cách kỹ lưỡng hơn. Chúng ta sẽ nghiên cứu một số điểm đã được đề cập đến trong phần "thực trạng của vấn đề" (status quaestionis).

 

III.1- Giá trị cứu độ của các tôn giáo

81- Sự cứu độ có thể thực hiện ngoài Hội Thánh đối với những người sống theo lương tâm mình không còn phải là một đối tượng để tranh cãi. Như chúng ta đã thấy ở phần trình bày trên, sự cứu độ đó không thể có được một cách độc lập với Đức Kitô và Hội Thánh của Ngài. Nó được xây dựng trên sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần, không thể tách rời ra khỏi mầu nhiệm phục sinh của Đức Giêsu (LG 22; RM 10 ...). Một số bản văn của Công đồng Vaticanô II đặc biệt nói về những tôn giáo không phải là Kitô giáo như thế nầy: Những người chưa hề nhận biết Phúc âm được xếp đặt bằng nhiều cách để thuộc về Dân Chúa, và việc gia nhập vào các tôn giáo khác nhau dường như không phải không liên hệ đến những hậu quả của việc "xếp đặt" nầy (LG 16). Người ta nhìn nhận rằng có những tia chân lý nơi các tôn giáo khác nhau, soi dọi mọi người (NA 2), có những hạt giống của Lời Thiên Chúa (AG 11). Theo sự quan phòng của Thiên Chúa, trong các tôn giáo có những sự tốt lành và chân thực (OT 16), có những yếu tố chân lý, ân sủng và thiện hảo không những nơi tâm hồn con người, mà còn thấy trong những lễ nghi và tập tục của các dân tộc, mặc dù tất cả cần phải được "thanh lọc, thăng hóa và đưa đến mức toàn hảo" (AG 9; LG 17). Nhưng nếu nói rằng các tôn giáo tự mình có thể có một giá trị trong khuôn khổ của sự cứu độ, thì đó là một điểm còn cần bàn cãi.

82- Thông điệp "Sứ mệnh Đấng Cứu chuộc" (Redemptoris Missio), rập theo và khai triển đường hướng của Công đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh rõ rệt hơn nữa về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, không phải chỉ ở trong những con người thiện chí với tư cách cá nhân, nhưng còn ở trong xã hội và lịch sử, trong các dân tộc, các nền văn hóa, các tôn giáo; và tất cả điều đó luôn qui chiếu về Đức Kitô (RM 28, 29). Có một hành động phổ quát của Chúa Thánh Thần, không thể tách rời cũng không thể lẫn lộn với hành động đặc thù mà Ngài hoạt động trong Thân Thể Đức Kitô đó là Hội Thánh (Tlđd). Từ cấu trúc của Chương II của Thông điệp nầy, tựa đề là "Thánh Thần, Đấng thúc đẩy sứ mệnh truyền giáo", có thể nói được rằng hai cách hiện diện và hành động ấy của Chúa Thánh Thần đều phát xuất từ mầu nhiệm Phục sinh. Thực vậy, các số 28-29, nói về sự hiện diện phổ quát, sau khi đã khai triển ý tưởng về truyền giáo do Chúa Thánh Thần thúc đẩy (các số 21-27). Phần cuối số 28 quả quyết rõ ràng rằng chính Đức Giêsu sống lại đang hành động trong tâm hồn con người là nhờ bởi sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần ban phát các hạt giống của Lời Thiên Chúa hiện diện trong các nghi lễ và các tôn giáo. Việc phân loại thành hai tác động khác biệt của Chúa Thánh Thần không thể đưa đến việc tách rời hai tác động đó, làm như chỉ có tác động đầu mới có sự tương quan với mầu nhiệm cứu chuộc của Đức Kitô.

83- Thông điệp cũng đề cập đến sự hiện diện Chúa Thánh Thần và hành động Thiên Chúa trong các tôn giáo (RM 55 - 56) trong bối cảnh đối thoại với anh em thuộc các tôn giáo khác. Các tôn giáo cũng là một thách đố cho Hội Thánh, vì chúng thúc đẩy Hội Thánh nhận ra dấu chỉ sự hiện diện của Đức Kitô và hành động của Chúa Thánh Thần. "Thiên Chúa mời gọi các dân tộc quay về với Ngài trong Đức Kitô. Ngài muốn thông ban cho mọi người sự Mạc khải và tình yêu trọn vẹn của Ngài. Ngài cũng không quên tỏ lộ sự hiện diện của Ngài bằng nhiều cách, không những cho các cá nhân nhưng còn cho các dân tộc, bằng những kho tàng tinh thần phong phú mà các tôn giáo của họ là một biểu lộ chính và thiết yếu, mặc dù còn có "những thiếu sót, bất cập và lầm lẫn" (RM 55). Tuy nhiên ở đây cũng cần biết rằng có sự khác biệt với sự hiện diện của Thiên Chúa do Đức Kitô và Phúc âm Ngài mang lại.

84- Vì đã nhìn nhận một cách minh nhiên rằng Thánh Linh Đức Kitô hiện diện nơi các tôn giáo, chúng ta không thể phủ nhận việc các tôn giáo, trong tư cách của mình, có thể thực thi một chức năng cứu độ nào đó, nghĩa là các tôn giáo có thể giúp con người đạt đến cứu cánh tối hậu của mình, mặc dù còn mập mờ thiếu sót. Trong các tôn giáo, mối tương quan giữa con người và Đấng Tuyệt đối, nghĩa chiều kích siêu việt được nêu lên rõ rệt. Thực khó mà nghĩ rằng những điều Chúa Thánh Thần thực hiện trong tâm hồn mỗi người có một giá trị cứu độ, trong khi đó những điều mà cũng do chính Thánh Thần ấy thực hiện trong các tôn giáo và trong các nền văn hóa lại không có giá trị cứu độ như thế. Giáo huấn của Hội Thánh gần đây dường như không chấp nhận một sự phân biệt triệt để như vậy. Ngoài ra cần phải lưu ý rằng nhiều bản văn mà chúng ta đã qui chiếu không những chỉ nói đến các tôn giáo mà còn nhắc đến các nền văn hóa, lịch sử các dân tộc v.v...bên cạnh các tôn giáo nầy. Tất cả các dữ kiện đó cũng có thể được các yếu tố ân sủng tác động.

85- Thánh Thần tác động trong các tôn giáo cũng chính là Chúa Thánh Thần, Đấng dìu dắt Hội Thánh. Nhưng sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần không thể so sánh với sự hiện diện đặc biệt của Ngài trong Hội Thánh của Đức Kitô. Không thể loại bỏ giá trị cứu độ của các tôn giáo, nhưng điều đó không có nghĩa rằng tất cả mọi điều trong các tôn giáo đều có tính cách cứu độ. Đừng quên rằng có sự hiện diện của thần ác, gia sản của tội lỗi, sự bất toàn nơi sự đáp ứng của con người trước hành động của Thiên Chúa.v.v... (xem Tài liệu Đối thoại và Rao truyền 30-31). Chỉ một mình Hội Thánh là Thân Thể của Đức Kitô, và chỉ trong Hội Thánh ấy Chúa Thánh Thần hiện diện và hoạt động đắc lực. Do đó không ai có thể hững hờ với việc gia nhập Hội Thánh Đức Kitô và tham dự vào sự sung mãn của các ân huệ cứu độ trong Hội Thánh (RM 55). Các tôn giáo có thể thực thi chức năng "chuẩn bị cho Phúc âm" (proeparatio evangelica). Các tôn giáo có thể sửa soạn cho các dân tộc và văn hóa khác nhau tiếp nhận biến cố cứu chuộc đã xảy ra rồi. Trong ý nghĩa ấy, chức năng của các tôn giáo không thể so sánh với chức năng của Cựu ước. Bởi vì Cựu Ước đã chuẩn bị cho biến cố Đức Kitô đến.

86- Sự cứu độ có được nhờ hồng ân Thiên Chúa trong Đức Kitô, nhưng cần phải có sự đáp ứng và thuận nhận của con người. Các tôn giáo cũng có thể giúp con người đáp ứng, một khi các tôn giáo thúc đẩy con người tìm kiếm Thiên Chúa, hành động đúng theo lương tâm của mình, và sống cuộc đời ngay chính (xem LG 16; VS. 94: ý thức đo đức của các dân tộc và các truyền thống tôn giáo cho ta thấy rõ hành động của Thánh Thần Thiên Chúa). Tìm kiếm sự thiện hảo tựu trung là một thái độ tôn giáo (xem VS. 9, 12). Sự trả lời của con người trước lời mời gọi của Thiên Chúa, luôn luôn được tiếp nhận trong và bởi Đức Kitô [1] . Các chiều kích khách quan và chủ quan, đi xuống và đi lên, dường như phải đi đôi với nhau như đã từng xảy ra trong mầu nhiệm của Đức Kitô. Vậy như đã nói, các tôn giáo có thể là một phương thế giúp cho tín đồ của mình đạt sự cứu độ, nhưng không thể so sánh với chức năng mà Hội Thánh thực hiện phục vụ sự cứu độ Kitô hữu và người ngoài Kitô hữu.

87- Quả quyết rằng các tôn giáo có thể có những yếu tố cứu độ, nội dung đó không đồng nghĩa với phán đoán về sự hiện diện của các yếu tố cứu độ trong mỗi một tôn giáo cụ thể. Vả lại, tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân theo nghĩa tối hậu chỉ có thể thực thi được nhờ vào Đức Giêsu mà thôi, Ngài là vị trung gian duy nhất; Ngài là con đường độc đạo để đến với chính Thiên Chúa. Các tôn giáo có thể chất chứa chân lý cứu độ khi dẫn đưa con người đến tình yêu chân thật. Nếu thực sự việc đó cũng có thể xảy ra nơi những người không sống một tôn giáo nào, thì dường như tình yêu chân thật hướng về Thiên Chúa phải đưa đến sự tôn thờ và thực thi tôn giáo trong sự hiệp thông với những người khác.

 

 

III.2- Câu hỏi về Mạc khải

88- Tính cách đặc loại và quyết định của Mạc khải Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô đặt nền tảng trên sự kiện là Thiên Chúa Ba Ngôi tự tỏ mình trong Ngài mà thôi. Từ nội dung đó, người ta chỉ có thể nói về Mạc khải Thiên Chúa một cách chính xác, khi có sự kiện chính Thiên Chúa tự tỏ mình ra. Như thế Đức Kitô vừa là trung gian, vừa là sự viên mãn của mạc khải (DV 2). Đừng lẫn lộn ý niệm thần học về mạc khải với ý niệm hiện tượng luận về tôn giáo (các tôn giáo mạc khải, là những tôn giáo cho rằng mình được xây dựng trên một mạc khải thần thánh). Chỉ trong Đức Kitô và trong Thánh Thần mà Thiên Chúa đã hoàn toàn tự mạc khải cho con người; vì thế chỉ khi sự tự-truyền-thông nầy tự-khai-mở cho biết, thì bấy giờ mạc khải Thiên Chúa mới thực sự xảy đến theo nghĩa trọn đầy. Sự tự hiến mà Thiên Chúa thực hiện và mạc khải của Ngài là hai khía cạnh không thể tách ra ngoài biến cố Đức Giêsu.

89- Trước khi Đức Kitô đến, Thiên Chúa đã tự mạc khải Ngài một cách đặc biệt cho dân Israel như là Thiên Chúa Duy nhất, Hằng sống và Chân thật. Với tư cách là chứng tá cho mạc khải nầy, các sách Cựu ước là Lời Thiên Chúa và có một giá trị vĩnh cửu (xem DV. 14). Chỉ trong Tân ước mà các sách của Cựu Ước tiếp nhận và thể hiện ý nghĩa trọn vẹn của chúng (xem DV 16). Nhưng Do thái giáo dừng lại nơi mạc khải chân thật của Thiên Chúa nơi Cựu ước. Một số yếu tố của mạc khải Kinh thánh đã được Hồi giáo thu nhặt; nhưng lại được giải thích trong một bối cảnh khác.

90- Thiên Chúa đã tự mạc khải, và còn tiếp tục tự tỏ mình ra cho con người biết bằng nhiều phương cách: bằng những công việc của công trình tạo dựng (xem Kn 13, 5; Rm 1, 19-20), bởi những phán đoán của lương tâm (xem Rm 2, 14-15). v.v... Thiên Chúa có thể soi sáng con người trên những nẻo đường khác nhau. Sự kiên trung của Thiên Chúa có thể làm phát sinh một loại nhận thức bẩm sinh. Các truyền thống tôn giáo đã cho thấy có "nhiều nhân vật thành khẩn, được Thánh Thần Thiên Chúa hứng khởi" (Tài liệu Đối thoại và Rao truyền, 30). Một cách nào đó, con người không ngừng nhận ra tác động của Thánh thần. Nếu theo giáo huấn của Hội Thánh, các tôn giáo có được những "hạt giống của Lời Thiên Chúa" và những "tia sáng chân lý", thì ta không thể loại bỏ những yếu tố của một sự hiểu biết chân thật về Thiên Chúa nơi các tôn giáo dẫu chúng còn bất toàn (xem RM 55). Chiều kích tri thức học không thể nào hoàn toàn vắng bóng nơi mà chúng ta nhận ra những yếu tố của ân sủng và cứu độ.

91- Mặc dù Thiên Chúa đã soi sáng con người bằng nhiều cách, nhưng chúng ta không bao giờ có được sự bảo đảm trong việc tiếp nhận và giải thích đúng về những ánh sáng nầy nơi những người tiếp nhận. Chỉ trong Đức Giêsu chúng ta mới có được sự bảo đảm của một sự tiếp nhận đầy đủ ý muốn của Chúa Cha. Chúa Thánh Thần đã phù trợ một cách đặc biệt các Tông đồ trong việc làm chứng về Đức Giêsu và trong sự truyền bá sứ điệp của Ngài. Do lời giảng dạy của các tông đồ mà Tân Ước đã xuất hiện, và cũng nhờ vào sự giảng dạy ấy mà Hội Thánh đã đón nhận Cựu Ước. Sự linh ứng của Thiên Chúa mà Hội Thánh nhìn nhận nơi các bản văn Cựu Ước và Tân ước bảo đảm rằng mọi sự đã được ghi lại trong các bản văn nầy điều do ý muốn Thiên Chúa.

92- Các tôn giáo không phải tất cả đều có những sách thánh. Mặc dù người ta không thể loại bỏ một sự soi sáng của Thiên Chúa trong việc chép các bản sách nầy (đối với những tôn giáo có sách thánh = theo từ ngữ ta dùng ở đây), nhưng thích đáng hơn nên thận trọng về phẩm chất của "thần hứng" nơi các sách kinh ấy (xem DV 11). Danh xưng "Lời Chúa" đã được truyền thống dành riêng để chỉ những bản văn của hai bộ Cựu ước và Tân ước. Sự phân biệt nầy rõ rệt, kể cả nơi các tác giả vào thủa ban đầu trong Giáo hội từng nhìn nhận những hạt giống Lời Chúa trong các bản văn triết lý và tôn giáo. Những sách kinh của các tôn giáo khác nhau, dù có thể là một chặng đường chuẩn bị cho Phúc âm, cũng không có thể cho là tương đương với Cựu ước, vì Cựu ước tạo nên sự chuẩn bị trực tiếp cho việc Đức Kitô đến trong thế gian.

 

III.3-  Chân lý là vấn đề nêu lên cho thần học các tôn giáo và lập trường đa nguyên

93- Đối thoại liên tôn không phải chỉ là một ước muốn phát xuất từ Công đồng Vaticanô II và được Giáo hoàng đương kim duy trì. Đó cũng còn là một nhu cầu trong hoàn cảnh hiện nay của thế giới. Chúng ta biết rằng đối thoại nầy là một mối ưu tư chính của nền thần học đa nguyên về các tôn giáo trong suốt thời gian gần đây. Để có thể thực hiện được cuộc đối thoại nầy, các đại diện của các lập trường thần học đa nguyên nghĩ rằng phía Kitô hữu, cần loại bỏ mọi chủ trương ưu thế và độc tôn. Cần phải cho rằng mọi tôn giáo đều có giá trị ngang nhau. Họ nghĩ rằng nhìn nhận Đức Giêsu như là Đấng Cứu chuộc và Trung gian duy nhất cho con người là một chủ trương cho mình có ưu thế.

94- Do đó, họ cho rằng bỏ đi chủ trương nầy được xem như thiết yếu để có thể đi đến đối thoại. Chắc chắn đây là điểm quan trọng nhất mà chúng ta phải đương đầu. Đối diện với những xác quyết nầy, cần chứng minh rằng : việc thần học công giáo khẳng định tất cả những gì là chân thật và đáng quí trọng trong các tôn giáo khác nhau đều đến từ Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần, không bao giờ có nghĩa là một sự khinh thị hoặc đánh giá thấp. Nhưng đây là phương thức hay nhất mà Kitô hữu diễn tả sự quí mến đối với các tôn giáo.

95- Nếu chúng ta so sánh một số lập trường thần học được trình bày trong chương I với những quan điểm giáo huấn của Giáo hội hiện nay và nền tảng của các quan điểm nầy trong Kinh thánh và Truyền Thống được khai triển trong chương II, thì sẽ nhận ra rằng đôi bên đều có chung ý định nền tảng là chân nhận một cách kính trọng và biết ơn những chân lý và giá trị được tìm thấy trong các tôn giáo khác nhau. Đôi bên đều nỗ lực tìm cách đối thoại với các tôn giáo khác không tiền kiến hoặc có ước muốn tranh biện.

96- Nhưng sự khác biệt nền tảng giữa hai hướng nhìn nầy nằm ở lập trường của mỗi bên trước vấn đề thần học về chân lý, và đồng thời trước đức tin Kitô giáo. Giáo huấn Hội Thánh về thần học các tôn giáo lập luận dựa vào trung tâm điểm của chân lý nơi đức tin kitô giáo. Một mặt nó lưu ý đến giáo huấn của Phaolô về sự hiểu biết tự nhiên về Thượng đế, và mặt khác nó cũng diễn tả sự tin tưởng vào hành động phổ quát của Chúa Thánh Thần. Giáo huấn Hội Thánh nhận thấy hai đường hướng đó đã ăn sâu vào truyền thống thần học. Nó trân trọng Chân-Thiện-Mỹ của các tôn giáo từ nền tảng chân lý sâu xa nhất nơi đức tin riêng của mình, nhưng không chung chung cho rằng lập trường về chân lý của các tôn giáo khác có cùng hiệu lực vững chắc của đức tin. Vì làm như thế có thể dẫn đến một thái độ dững dưng, nghĩa là không nghiêm túc trước lập trường về Chân lý, lập trường của mình cũng như lập trường của kẻ khác.

97- Thần học các tôn giáo mà chúng ta tìm thấy trong các tài liệu chính thức lập luận dựa trên trung tâm điểm của đức tin. Còn đối với phương thức tiến hành các thần học đa nguyên, mặc dù có những ý kiến khác biệt nhau và những thay đổi thường xuyên diễn ra trong các thần học ấy, có thể nói được là tất cả đều có một chiến lược "đại kết" về đối thoại, nghĩa là lưu tâm đến một sự hiệp nhất cần phải được tân tạo trong tương quan với các tôn giáo khác. Nhưng sự hiệp nhất ấy chỉ có thể xây dựng được khi loại bỏ đi một số khía cạnh của chính lập trường của mình. Người ta muốn đạt đến sự hiệp nhất bằng cách loại bỏ giá trị nơi những điểm khác biệt được xem như là một sự đe dọa; ít ra chúng chỉ được coi như những điểm cá biệt hoặc những quan điểm hạn chế liên quan đến một nền văn hóa đặc loại, cần phải loại bỏ đi.

98- Sự thay đổi trong nhận thức đức tin riêng của mình nơi thần học đa nguyên tôn giáo có nhiều khía cạnh. Chúng ta hãy ghi lại những khía cạnh quan trọng nhất:

 a) Về phương diện lịch sử, người ta đề nghị một sơ đồ với ba giai đoạn. Sơ đồ nầy dẫn đến tình trạng đa nguyên như một điểm chung kết: chủ trương độc chuyên, chủ trương bao gồm, chủ trương đa nguyên. Chủ trương nầy tiền kiến một cách sai lầm rằng chỉ có lập trường đa nguyên mới thật sự lưu ý đến các tôn giáo khác mình, nên sẽ đem lại hòa bình tôn giáo.

 b) Về phương diện tri thức luận, người ta giới hạn khả năng diễn tả chân lý của các xác quyết thần học (các xác quyết thần học này chỉ được quan niệm như là những phương thức diễn tả đặc loại tùy thuộc vào một nền văn hóa thôi), hoặc còn đi đến việc hủy bỏ luôn khả năng diễn đạt chân lý của các xác quyết thần học (các xác quyết thần học chỉ được xem như những xác quyết có tính cách thần thoại mà thôi).

 c) Về phương diện thần học, người ta cố tìm một cương lĩnh để tạo sự hiệp nhất; vì muốn có được sự nhìn nhận vị thế ngang nhau giữa các tôn giáo, nên phải dùng phương pháp phân-cục và giản lược (đi từ lập trường lấy Giáo hội làm tâm điểm đến lập trường lấy Đức Kitô làm tâm điểm, rồi từ lập trường sau nầy đến lập trường lấy Thượng đế làm tâm điểm, đồng thời người ta còn đề nghị một ý niệm siêu định về Thiên Chúa), cũng như phải biến đổi và cắt giảm các nội dung đặc loại của đức tin, đặc biệt trong Kitô học.

99- Vào một thời đi mà ý tưởng đa nguyên về thị trường rất thịnh hành, thần học đó được tiếp nhận dễ dàng; nhưng thái độ đó quên đặt mình vào tư thế của người đang đối thoại. Với quan điểm nầy, khi đối thoại có thể xảy ra ba trường hợp:

 a) Người đối thoại buộc phải nhìn nhận luận đề về "vị thế ngang nhau" trong nhiều hoàn cảnh khác nhau của lịch sử.

 b) Người ấy phải chấp nhận luận cứ giới hạn hay từ bỏ khả năng chân lý của tất cả những xác quyết thần học nơi chính tôn giáo mình;

c- Hoặc người ấy cần thay đổi phương pháp thần học riêng của mình và nội dung của các xác quyết riêng của đức tin, đến mức các xác quyết ấy không còn có giá trị nào nữa trong tương quan đối với các chuẩn tắc của tôn giáo riêng của mình. Như thế là cuộc đối thoại tôn giáo kỳ cùng đành chấm dứt. Thật thế, không còn gì nữa ngoài việc nhận ra rằng đa nguyên ấy là mơ hồ. Do đó, thần học đa nguyên, như một chiến lược để đối thoại giữa các tôn giáo, không những chẳng tự biện minh được trước chủ trương chân lý của chính tôn giáo riêng của mình, mà đồng thời lại làm tan biến luôn chủ trương chân lý của phía kia.

100- Đối diện với việc đơn giản hóa lịch sử, lập trường tri thức luận hoặc thần học của tương quan giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác trong thần học đa nguyên, cần khởi sự từ cái nhìn dị biệt về các tôn giáo của Tuyên ngôn "Nostra Aetate" của Công đồng Vaticanô II. Trong bản tuyên ngôn nầy, các tôn giáo trên thế giới được diễn tả như có một nền tảng chung là nỗ lực để "bằng nhiều phương thức khác nhau đi sâu vào nổi khắc khoải của tâm hồn con người và đề nghị những con đường, nghĩa là những giáo lý, những luật sống và những lễ nghi thần thánh" (NA 2), nhưng không xóa đi những dị biệt cũng rất nền tảng: những hình thức khác nhau của Phật giáo chỉ cho con người những con đường để từ đó nhận ra được ý nghĩa của chân tánh khi ý thức được sự vô thường tận căn của thế giới bất-tất; trong nguồn phong phú của các thần thoại Ấn Độ giáo, trong những yêu sách khổ hạnh và những chiêm niệm sâu xa của tôn giáo nầy, việc tìm kiếm đầy tin tưởng một chốn trú ẩn nơi Thiên Chúa. Với Hồi giáo, Giáo hội có nhiều điểm chung, vì Hội Thánh nhận ra rằng các tín đồ tôn giáo nầy "thờ phượng Thiên Chúa Độc nhất (...) Đấng tạo dựng nên trời đất" (NA 3). Chúng ta nhận ra rõ ràng những gì phân cách chúng ta, nhưng đồng thời cũng không thể xem nhẹ những yếu tố chung trong lịch sử và trong giáo lý. Kitô giáo liên hệ với Do Thái giáo vì cùng một nguồn gốc và một gia sản phong phú chung. Lịch sử của giao ước với Israel, việc tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất mạc khải trong lịch sử ấy, hy vọng vào Thiên Chúa đang đến và Nước Ngài sẽ đến, là những nội dung chung của người Do Thái và Kitô hữu (xem NA 4). Một nền thần học Kitô giáo về các tôn giáo phải có khả năng trình bày một cách thần học các yếu tố chung và những dị biệt giữa đức tin cá biệt của mình và các niềm tin của các nhóm tôn giáo khác nhau. Công đồng nhận định nhiệm vụ khó khăn nầy của mình: Một mặt, Công đồng chiêm ngắm sự hiệp nhất của nhân loại, đặt trên nền tảng của một nguồn gốc chung (NA 1). Với lý do nầy, dựa trên thần học của công cuộc tạo dựng: "Giáo hội Công giáo không vất bỏ bất cứ cái gì là thật và thánh thiện trong các tôn giáo" (NA 2). Nhưng mặt khác, Giáo hội nhấn mạnh đến sự cần thiết về việc loan truyền chân lý, đó chính là Đức Kitô: "Hội Thánh loan truyền, và quyết tâm loan truyền không ngừng Đức Kitô là đường, sự thật và sự sống (Gioan 14, 16), trong Ngài mọi người sẽ tìm được sự sung mãn của sự sống tôn giáo và trong Ngài Thiên Chúa đã tự giải hòa lại với mọi sự" [Phần chú thích: xem 2 Co 5, 18-19] (Tlđd).

101- Tất cả mọi cuộc đối thoại chỉ thực hiện được trong nỗ lực tìm chân lý của những người tham dự. Nhưng đối thoại giữa các tôn giáo còn có đặc tính là cấu trúc sâu xa của văn hóa gốc của mỗi người lại được sử dụng để tìm hiểu lập trường về chân lý của một nền văn hóa khác mình. Hẳn nhiên công cuộc đối thoại đó đòi hỏi nhiều cố gắng, và cần thiết phải có một sự bén nhạy đặc biệt về nền văn hóa khác. Suốt trong các thập niên vừa qua, người ta đã đặc biệt khai triển tính nhạy bén về bối cảnh văn hóa, từ phía các tôn giáo khác nhau cũng như Kitô giáo và các nền thần học. Ở đây chỉ cần nhắc lại "những nền thần học theo bối cảnh", và ý nghĩa ngày càng gia tăng của chủ đề hội nhập văn hóa trong giáo huấn của Giáo hội và trong thần học. Ủy ban Thần học Quốc tế đã lên tiếng về các chủ đề nầy [2] , cho nên ở đây chỉ cần đưa ra hai chỉ dẫn:

1- Một nền thần học của các tôn giáo khác nhau, đặt trên quan điểm riêng của chính mình về chân lý, là căn bản cho tất cả mọi đối thoại tôn giáo nghiêm túc và là tiền đề cần thiết để hiểu tình trạng cá biệt của các lập trường và các phương tiện diễn tả có tính cách văn hóa của chúng.

2- Những bối cảnh văn chương hoặc xã hội văn hóa v.v... là những phương tiện quan trọng; nếu ta chỉ sử dụng chúng mà thôi để hiểu các bản văn và các hoàn cảnh, thì chúng có thể cống hiến một bình diện khả dĩ của chân lý, nhưng chúng không bao giờ được đồng hóa với chính chân lý. Vì thế, ta cần định vị ý nghĩa và những giới hạn của bối cảnh văn hóa. Đối thoại liên tôn thảo luận những "sự trùng hợp và đồng qui" với các tôn giáo khác, với tất cả sự thận trọng và tương kính. Đối với việc thảo luận các "mối dị biệt", cần lưu ý rằng việc nghiên cứu nầy không phải để vô hiệu hóa các điểm trùng hợp và những yếu tố đồng qui; ngoài ra đối thoại về sự khác biệt ấy còn phải khởi xuất từ giáo lý riêng của mỗi người và nền đạo đức liên hệ; nói cách khác, phương thức đối thoại không thể vô hiệu hóa nội dung của đức tin riêng của mỗi người và nền đạo đức gắn liền với đức tin đó.

102- Mối liên hệ hỗ tương của các nền văn hóa trong thế giới hiện nay nhân tăng việc giải thích và phổ biến liên tục các nền văn hóa đó bằng các phương tiện truyền thông; sự kiện nầy làm cho vấn đề chân lý của các tôn giáo trở thành trung tâm điểm của tâm thức con người ngày nay. Những suy tư ở đây chú ý đến một số tiền đề của hoàn cảnh nầy, nhưng không tranh cãi về các nội dung của các tôn giáo khác nhau. Việc thảo luận sâu xa hơn nên được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau, nghĩa là trong những trung tâm nghiên cứu có được một sự tiếp xúc văn hóa trực tiếp với các tôn giáo. Đối diện với tình trạng thay đổi tâm thức của con người ngày nay và với hoàn cảnh của những người có lòng tin, hẳn nhiên việc tranh luận về quan điểm chân lý của các tôn giáo không thể là một khía cạnh bên lề hoặc chỉ là một phần nhỏ của thần học. Việc đáp ứng một cách cung kính với ước vọng nầy phải đóng một vai trò trung tâm trong việc làm hằng ngày của thần học, và phải đưa vào chương trình chính thức của bộ môn nầy. Song song với nỗ lực đó, ngày nay Kitô hữu phải tôn trọng sự khác biệt của các tôn giáo, tập thực hiện một hình thức hiệp thông có nền tảng là tình yêu Thiên Chúa đối với con người và trong sự kính trọng tự do của con người. Sự kính trọng khi đối diện với "tính khác biệt" của các tôn giáo khác đi liền với điều kiện hiện hữu của quan điểm chân lý nơi mỗi người.

103- Cũng như tình yêu, việc tôn trọng - quí mến chân lý của kẻ khác, từ trong cơ cấu của nó, luôn dựa trên sự thẩm định chính mình. Nền tảng của mọi công việc truyền thông, cũng như trong công cuộc đối thoại tôn giáo, là sự nhìn nhận yêu sách của chân lý. Nhưng đức tin Kitô giáo có cơ cấu riêng của mình về chân lý: các tôn giáo nói « đến » Đấng Thánh, « đến » Thiên Chúa, « về » Ngài, « thay cho » Ngài hoặc « nhân danh » Ngài. Chỉ trong Kitô giáo mới thấy chính Thiên Chúa nói với con người bằng Lời Ngài. Chỉ có cách nói nầy mới có thể giúp con người đạt đến chân tính của mình cũng như hiệp thông được với Thiên Chúa và với tất cả những người khác. Thiên Chúa Ba ngôi là trung tâm của đức tin nầy. Chỉ có đức tin Kitô giáo linh hoạt từ nơi Thiên Chúa đơn nhất và Ba ngôi. Và chính từ chiều sâu văn hóa nầy mà việc nhìn nhận phẩm giá con người trong xã hội đa biệt đã nảy sinh, tạo nên một nét riêng của thời đại mới.

104- Lập trường đa nguyên gán cho sự trung gian cứu độ duy nhất nơi Đức Kitô là một chủ trương trịch thượng; do đó nó đòi hỏi phải thay thế quan điểm thần học lấy Đức Kitô làm trung tâm bằng quan điểm lấy Thiên Chúa là trung tâm; lập trường đa nguyên cho rằng quan điểm lấy Đức Kitô làm trung tâm là nguyên nhân của cung cách trịch thượng, còn quan điểm sau được đánh giá là dễ chấp nhận hơn. Đối diện với lập trường nầy, ta phải xác quyết rằng chân lý đức tin không phải là việc chúng ta có thể tùy tiện. Đối với một chiến lược đối thoại đòi hỏi phải có một sự cắt giảm tín lý Kitô học để loại trừ nơi Kitô giáo chủ trương trịch thượng, theo ý chúng tôi tốt hơn chúng ta nên đào sâu đức tin trong khuôn khổ Kitô học để có một phương thức truyền bá Tin Mừng ăn khớp với nội dung đức tin của mình. Mọi hình thức rao giảng Phúc âm không tương ứng với sứ điệp, cuộc sống, sự chết và sự sống lại của Đức Giêsu Kitô, đều làm sai lạc sứ điệp nầy, và kỳ cùng là xuyên tạc chính Đức Giêsu Kitô. Chân lý như là chân lý luôn luôn "có tính cách tối thượng"; nhưng chân lý của Đức Giêsu Kitô, một cách hết sức rõ rệt nơi yêu sách của chính chân lý nầy, là luôn luôn phục vụ con người; đó là chân lý của Đấng hiến mạng sống mình cho con người để dẫn đưa con người đi vào trong tình yêu Thiên Chúa một cách vĩnh viễn. Mọi phương pháp rao truyền có chủ tâm cố tìm cách áp buộc người nghe, hoặc ảnh hưởng họ bằng những phương thế của một loại lý luận có tính cách phương tiện hoặc chiến lược, đều đi ngược lại với Đức Kitô - là Lời và Tin Mừng của Chúa Cha - và đi ngược lại với phẩm giá con người mà chính Ngài tuyên dương.

 

III.4- Đối thoại liên tôn và mầu nhiệm cứu độ

105- Từ sau Công đồng Vaticanô II, Giáo hội Công giáo đã quyết tâm dấn thân cho công cuộc đối thoại liên tôn [3] và chính vì công cuộc đối thoại ấy mà tài liệu nầy đã được khai triển, dù đối thoại không phải là một đề tài căn bản của bản văn. Thực trạng của vấn đề Kitô giáo và sự liên hệ của nó với các tôn giáo khác, các tiền đề thần học và những hệ luận rút ra từ đấy, tất cả đều có liên quan đến giá trị cứu độ các tôn giáo và Mạc khải Thiên Chúa. Những suy tư nầy nhằm soi sáng cho Kitô hữu trong các cuộc đối thoại với những tín đồ các tôn giáo khác.

106- Các công cuộc đối thoại hoặc là một sự kiện thuộc những người chuyên môn, hoặc xảy ra trong đời hằng ngày qua những lời nói hay các cách cư xử, thì không những chúng có quan hệ với những con người đối thoại, mà trước hết chúng cũng còn quan hệ với Thiên Chúa mà con người tuyên xưng. Cuộc đối thoại liên tôn như thế gồm ba tác nhân. Vì thế, ở đây Kitô hữu phải lưu ý đến hai câu hỏi nền tảng mà ý nghĩa cuộc đối thoại lệ thuộc vào: Ý nghĩa về Thiên Chúa và ý nghĩa về con người.

 

A- Ý nghĩa về Thiên Chúa

107- Trong cuộc đối thoại liên tôn, mỗi bên thật sự phát biểu theo một nghĩa nào đó về Thiên Chúa và ngầm đặt câu hỏi cho người đối diện: Thiên Chúa của ông bà như thế nào? Kitô hữu không thể lắng nghe và hiểu người ấy mà không tự đặt cho chính mình câu hỏi nầy. Thật ra, thần học Kitô giáo còn vượt lên một lối nói nào bất kỳ về Thiên Chúa: Chúng ta cố gắng nói về Thiên Chúa bằng chính ngôn ngữ con người như Lời Thiên Chúa nhập thể đã dạy cho biết (xem Gioan 1, 18; 17, 3). Do đó có một vài điểm cần thiết phải cân nhắc trong cuộc đối thoại:

108- a) Nếu nói đến thần thánh như là giá trị siêu việt và tuyệt đối, thì đây có phải là một Thực tại không ngôi vị hay đây là một Hữu thể ngôi vị?

  b) Tính siêu việt của Thượng đế có phải là được hiểu như một huyền thoại ngoài thời gian hay là Đấng siêu việt đó tương hợp với hành động của mình trong lịch sử liên quan đến con người?

  c) Thiên Chúa được hiểu biết chỉ bằng lý trí, hoặc Ngài cũng được biết bằng đức tin bởi vì Thiên Chúa tự mạc khải cho con người?

  d) Bởi vì "tôn giáo" là một lối tương giao nào đó giữa Thiên Chúa và con người. Tôn giáo đó diễn tả một Thiên Chúa "theo hình ảnh con người", hay còn hàm ngụ rằng "con người là hình ảnh của Thiên Chúa" ?

  e) Nếu người ta chấp nhận rằng Thiên Chúa là Duy nhất, như yêu sách của lý trí, thì tuyên xưng Ngài là "Một" có nghĩa như thế nào? Một Thiên Chúa không ngôi vị có thể được lý trí chấp nhận, nhưng theo sự tự mạc khải của Ngài trong Đức Kitô thì mầu nhiệm Thiên Chúa Duy Nhất đó có thể được đức tin đón nhận như Một Thiên Chúa Ba ngôi đồng bản tính và không thể phân chia. Sự phân định đó hết sức quan trọng vì những hệ quả phát xuất từ nội dung nầy, ảnh hưởng đến nhân loại học và xã hội học gắn liền với mỗi tôn giáo.

  f) Các tôn giáo nhìn nhận nơi thần thánh những thuộc tính thiết yếu, như toàn năng, toàn trí, thiện hảo, công bình. Nhưng, để hiểu được sự nhất quán của giáo lý nơi mỗi tôn giáo, và để hiểu thấu những ý nghĩa còn hồ đồ nơi một từ ngữ bên ngoài xem ra giống nhau, cần thiết phải nắm được trụ chính mà các danh xưng thần thánh nầy dựa vào. Một sự phân định như thế liên quan đặc biệt đến ngôn ngữ Thánh kinh mà trụ chính là Giao ước giữa Thiên Chúa và con người, giao ước được hoàn thành trong Đức Kitô.

  g) Một sự phân định khác cũng xem là cần thiết liên quan đến ngữ vựng có tính cách đặc loại thần học, một khi ngữ vựng nầy lệ thuộc vào nền văn hóa của mỗi bên đối thoại và của nền triết lý bên trong của nó. Nên ta phải lưu ý đến nét đặc loại văn hóa của đôi bên, ngay cả khi cả đôi bên đều thuộc về cùng một nền văn hóa nguyên thủy.

  h) Thế giới ngày nay dường như quan tâm nhiều đến nhân quyền, ít nhất về mặt lý thuyết. Một vài chủ trương bảo căn, ngay cả nơi Kitô hữu, lấy những đặc quyền của Thiên Chúa để đối kháng với các quyền con người. Nhưng trong cuộc đối kháng đó, người ta nói đến Thiên Chúa nào đây, và kỳ cùng, là nói đến con người nào đây?

 

B- Ý nghĩa con người

109- Một nền nhân loại học tiềm tàng cũng đã được đưa vào trong công cuộc đối thoại liên tôn, sự kiện đó dựa trên hai lý do. Thực vậy, một mặt đối thoại đặt con người vào cuộc truyền thông trao đổi, mà mỗi bên là chủ thể của lời nói và cách xử trí của mình. Mặt khác, khi các tín đồ các tôn giáo khác nhau đối thoại, thì có một biến cố xảy ra sâu kín hơn cả sự truyền thông bằng lời nói: đó là sự gặp gỡ giữa những con người, mà mỗi người lần bước về mang theo gánh nặng của thân phận con người mình.

110- Trong cuộc đối thoại liên tôn, đôi bên có chung một quan niệm về nhân vị con người hay không? Câu hỏi đặt ra không phải lý thuyết, nhưng nó chất vấn tâm hồn mỗi người đang đối thoại. Người Kitô hữu đối thoại hẳn biết rằng con người là "hình ảnh của Thiên Chúa", nên tự tâm hồn vang dội lời mời gọi liên lĩ của Thiên Chúa, con người đó thiết yếu là tương quan và có thể mở ra với "ai khác". Nhưng tất cả các thành phần đối thoại có ý thức về mầu nhiệm con người và mầu nhiệm Thiên Chúa "Đấng Tối cao" [4] hay không? Như thế Kitô hữu bấy giờ quay lại tự chất vấn chính mình: Khi mình đối thoại, khởi từ đâu để nói? Từ mặt tiền sân khấu của vị thế xã hội và tôn giáo của chính mình? Từ trên cao của "Siêu ngã" của mình hoặc của hình ảnh lý tưởng nơi mình? Vì phải làm chứng cho Chúa và Đấng Cứu độ của mình, thì thử hỏi Chúa đó đang cư ngụ ở "căn nhà nào" trong tâm hồn mình? Trong đối thoại liên tôn, gồm có mối tương quan giữa con người với nhau và mối tương quan của mỗi người với Thượng đế Hằng Sống và Chân Thật.

111- Vì thế, cầu nguyện trong đối thoại liên tôn có tầm quan trọng đặc biệt. "Con người tìm kiếm Thiên Chúa (...). Tất cả các tôn giáo chứng thực về nổi thao thức tìm kiếm nầy" [5] . Cầu nguyện là tương quan sinh động và thành khẩn của con người với Thiên Chúa. Đó đúng là hành vi đo đức tôn giáo được thể hiện trong tất cả các tôn giáo. Kitô hữu biết rằng "Thiên Chúa không ngừng kêu gọi mỗi người tìm đến gặp gỡ Ngài một cách nhiệm mầu trong lời cầu nguyện" [6] . Nếu người ta không thể biết đến Thiên Chúa một khi Ngài không tự động mạc khải Ngài, thì cầu nguyện luôn vẫn là cần thiết vì cầu nguyện đưa con người đến một tâm thức sẵn sàng để đón nhận ơn Mạc khải. Cho nên, trong nỗ lực chung tìm kiếm chân lý như là lý do thúc đẩy đối thoại liên tôn, "có một cọng lực nào đó giữa cầu nguyện và đối thoại (...). Cầu nguyện là điều kiện của đối thoại và trở thành hoa trái của đối thoại nầy" [7] . Một khi Kitô hữu tiến hành đối thoại với một tâm thức của kẻ cầu nguyện, thì họ nương theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong tâm hồn của những người đang đối thoại. Bấy giờ đối thoại tiến xa hơn tình trạng một cuộc trao đổi: đây là một cuộc gặp gỡ.

112- Sâu xa hơn nữa, ở mức độ "không nói thành lời" đối thoại liên tôn đúng là một cuộc gặp gỡ giữa những con người đã được dựng nên "theo hình ảnh của Thiên Chúa"; nhưng trong con người đó, "hình ảnh" nầy có phần mờ tối đi do tội lỗi và sự chết. Nói cách khác, Kitô hữu hay không phải là Kitô hữu, thì mọi người đều mong chờ được cứu độ. Vì thế, mỗi tôn giáo được nhận ra như một con đường tìm kiếm sự cứu độ và đề nghị những con đường để đạt đến mục tiêu nầy. Cuộc gặp gỡ trong thân phận chung của con người đặt các người đối thoại đôi bên trên một bình diện bình đẳng, bình đẳng hơn cả mong ước được biểu lộ trong những lời nói về tôn giáo của họ. Lời nói vốn là một phản ảnh của cuộc sống và đã được gạn lọc qua tâm thức tôn giáo. Trái lại, những vấn đề triển nở nhân cách con người, kinh nghiệm về cộng đồng xã hội đàn ông và đàn bà, gia đình, giáo dục v.v...và tất cả những câu hỏi xoay quanh công việc làm ăn sinh sống, những sự kiện đó không phải là những đề tài làm lạc hướng công cuộc đối thoại tôn giáo, nhưng tạo nên môi trường thuận lợi cho đối thoại nầy. Bấy giờ, người ta nhận ra rằng trong cuộc gặp gỡ nầy, nơi ở của Thiên Chúa đó là con người.

113- Thế nhưng, câu tra vấn trường kỳ bám riết toàn bộ cuộc sống con người là vấn đề về sự chết. Khổ đau, tội lỗi, thất bại, chán chường, tình trạng bất khả tương giao, các mối tranh chấp, những bất công..., ở bất cứ đâu, và vào bất cứ lúc nào, sự chết lại vẫn xuất hiện như một mạng lưới bí hiểm của thân phận con người. Hẵn nhiên, con người bất lực trong việc khử trừ sự chết, nên làm đủ mọi cách để đừng nghĩ đến nữa. Nhưng chính trong sự chết, lời kêu gọi của Đấng "Hằng sống" vang dội lên một cách mãnh liệt nhất: nó là dấu hiệu trường tồn của biệt tính nơi Thiên Chúa, vì chỉ có Đấng từ hư không gọi con người đến sự hiện hữu mới có thể ban sự sống cho những kẻ chết. Không ai có thể thấy Thiên Chúa mà không qua sự chết, nơi chốn gai góc nóng bỏng đó Siêu Việt đến với hố thẳm của thân phận con người.

Câu hỏi trọng đại duy nhất - bởi vì có tính cách hiện sinh và không tránh né được và không có nó thì những giáo thuyết tôn giáo cũng chỉ là "mánh lới nhằm tránh né vấn đề" - câu hỏi đó là: Đấng Hằng Sống có trách nhiệm hay không về cái chết con người? Những lối giải thích lý thuyết không thiếu, nhưng không thể trấn an nỗi những uẩn khúc tồn tại: làm sao Thiên Chúa có thể mãi ẩn dấu và thinh lặng trước kẻ vô tội đang bị tổn thương và người công chính đang bị áp bức? Đó là tiếng kêu của Gióp và của toàn nhân loại. Câu trả lời thật gai góc khôn tả: trên Thập giá, Ngôi Lời bị treo lên; thinh lặng Ngài níu vào Chúa Cha, trả lại hơi thở của Ngài cho Cha. Đấy lại là nơi gặp gỡ của mọi con người: con người ở trong cái chết của Ngài và Thiên Chúa đến gặp con người nơi đó. Chỉ có Thiên Chúa Tình yêu là Đấng chiến thắng sự chết và chính do đức tin vào Ngài mà con người được giải thoát khỏi tình trạng nô lệ của sự chết. Bụi cây rực lửa của Thánh giá nay lại là nơi ẩn kín của sự gặp gỡ. Nơi đó Kitô hữu "Chiêm ngắm Đấng đã bị đâm thủng xuyên ngực" (Gioan 19, 37; Za 12,10). Chứng tá của kinh nghiệm mới nơi Kitô hữu sẽ là chứng tá về Đức Kitô được sống lại, chiến thắng cái chết bằng sự chết. Bấy giờ đối thoại liên tôn mặc lấy ý nghĩa trong sự thực hiện Chương trình cứu độ: nó còn tác động hơn cả việc lặp lại sứ điệp của các tiên tri và sứ mạng của vị Tiền Hô, nó dựa trên biến cố của ơn cứu độ đã được Đức Kitô hoàn thành và hướng về sự Xuất hiện lần thứ hai của Chúa. Trong Giáo hội đối thoại liên tôn ở vào vị thế hướng về thời hoàn mãn.



[1]  Đối thoại và Rao truyền, 29: "Chính trong việc thực thi một cách thành khẩn những gì là tốt nơi các truyền thống tôn giáo của họ và trong việc tuân giữ những chỉ dạy của lương tâm, mà các tín đồ các tôn giáo khác đáp trả một cách tích cực lời kêu gọi của Thiên Chúa và nhận được sự cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô, mặc dù họ chưa nhận biết Ngài và tuyên xưng Ngài là Đấng cứu độ cho họ".

[2] Các chủ đề chọn lọc v ề giáo hội học (1984) đặc biệt chương 4; xem Ủy ban quốc tế về thần học , Bản văn và tài liệu 1969-1985, Paris,Ed. du Cerf, 1988, tr 336 tt ; và đặc biệt Fides et inculturatio (1988); La Documentation catholique, số 86 (1989) tr.281-289.

[3] Trong các tài liệu của Đức Gioan Phaolô II, xem RM 55-77; TMA 52-52; cũng xem tài liệu của Hội đồng Giáo hoàng về đối thoại liên tôn và Thánh Bộ Truyên bá Phúc âm cho các dân tộc "Đối thoại và Rao truyền" đã được trích nhiều lần.

[4] Grêgôriô thành Naziance - Hymnes sách I, phần I, 29 (PG 37, 507)

[5] Giáo lý của Giáo hội Công giáo, 2566.

[6] Tlđd 2567.

[7] Đức Gioan Phaolô II, Ut unum sint. 33.



Xem Bài đã đăng

Tác giả: Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
   dunglac@gmail.com