Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Long Thao
Bài Viết Của
Nguyễn Long Thao
Tìm Thấy Thi Hài Thánh Phaolô
Đặc ngữ Công Giáo (14) : Angiô–Apostolicô - Áo An Ba - Áo Cap pa - Áo Su Tan.
Đặc Ngữ Công Giáo (11): Biển Đức, Cát Minh, Đa Minh, La San, M.E.P, Ngôi Lời, Xi Tô. v. v..
Đặc Ngữ Công Giáo (10): Nhà Khảo – Nhà Phòng – Nhà Quê – Nhà Thánh - Nhà Trạm
Đặc Ngữ Công Giáo: Nhà Chung – Nhà Đòn - Nhà Đức Chúa Trời – Nhà Gạo.
Đặc Ngữ Công Giáo: Linh Tông và các tục lệ gia đình linh tông.
Đặc ngữ Công Giáo: Giáo Dân – Lương Dân - Dửu Dân
Đặc ngữ Công Giáo Việt Nam : Mạc Khải hay Mặc Khải?
Đặc Ngữ Công Giáo Việt Nam: Tên Thánh
Thấy người mà nghĩ đến ta: Tổng Thống nước cộng sản Cuba tham dự thánh lễ phong chân phước.
Đặc Ngữ Công Giáo: Tìm hiểu các đặc ngữ của dòng Mến Thánh Giá xưa: Bà Mụ, Câu Rút, Cu Rút, Chị Ả, Dòng.
Đặc ngữ Công Giáo Việt Nam : Tìm hiểu các danh xưng Kirixitô - Kitô - Gia Tô - Cơ Đốc.
Góp phần giải thích từ Sinh Thì trong kinh sách Công Giáo.
Ngạc nhiên: 64% người vào Internet tại Hoa Kỳ để tìm hiểu tôn giáo, tâm linh
Văn hóa và đức tin: Một thần học gia từng bị lên án nay được phong chân phước
Mạng lưới toàn cầu tập trung các nguồn tài liệu Công Giáo
ĐGH Biển Đức dành cho truyền hình Đức cuộc phỏng vấn rất dài
ĐẶC NGỮ CÔNG GIÁO: GIÁO DÂN – LƯƠNG DÂN - DỬU DÂN

 

Giáo Dân/ Nghĩa Dân/ Đức Dân: Từ Hán Việt. Giáo : tôn giáo. Dân : người dân. Theo nguyên nghiã, Giáo Dân được hiểu là người có tôn giáo hoặc là người của một tôn giáo. Theo nghĩa thông thường, Giáo Dân là người dân theo đạo Thiên Chúa, không phải là giáo sĩ hay tu sĩ.  Khi chưa có từ giáo dân, để chỉ người Công Giáo, các nhà truyền giáo ban đầu đã dùng từ Kẻ Có Đạo, Bổn Đạo và sau này có thêm từ Giáo Dân, Tín Hữu, Kitô Hữu. Các sử gia triều Nguyễn dùng nhiều từ khác nhau để chỉ người Công Giáo. Sách Đại Nam Thực Lục ghi các tên như sau: Người Theo Đạo Gia Tô, Dân Đạo, Con Chiên Theo Đạo, Tả Đạo và năm 1861 Vua Tự Đức còn gọi người Công Giáo là Dửu Dân.

 

Khi vua Tự Đức thôi cấm đạo, viên Khâm Sứ Pháp ở Huế  xin vua Tự Đức ra chiếu chỉ không cho dân chúng  gọi người Công Giáo là Tà Đạo, Tả Đạo hay Dửu Dân, mà xin cho dùng từ Nghĩa Dân hay Đức Dân. Năm 1874 Vua Tự Đức ra chiếu chỉ  cho gọi người Công Giáo là Giáo Dân. Sách Đại Nam Thực Lục ghi chiếu chỉ như sau:

 

Chuẩn cho dân đi đạo đổi gọi là giáo dân, dân đi lương gọi là bình dân. Từ trước đến nay dân theo đạo, hoặc gọi là dữu dân, hoặc gọi là tả đạo. Gần đây cứ lời Khâm Sứ đóng ở Kinh nói rằng: lương, đạo đều gọi, chưa khỏi sỉ nhục giáo ấy. Đã chuẩn cho quan ớ nha Thương bạc đem nghĩa 2 chữ ấy trả lời nói: Lương là an thường thủ phận, không làm gian ác; Đạo là khuyên người làm lành, không làm bất chính. Hai chữ đối nhau, văn nghĩa giống nhau, lại tốt xấu gì? Đạo gọi là đạo mà lương không gọi là lương thì gọi là gì. Rồi sứ đã biết chữ lương không để bỏ được, lại yêu cầu phàm những người theo giáo ấy gọi là nghĩa dân, đức dân, quan ở nha Thương bạc cho là sứ ấy đã nói nhiều như thế xin gọi là giáo dân. Vua y cho, nhân chuẩn cho dân lương cũng đổi là bình dân ( Đại Nam Thực Lục, Tập Tám, NXB Giáo Dục, 2006, tr. 75).

 

Từ Giáo Dân mới được chính thức dùng sau năm 1874. Trước đó nữa, Từ Điển của Đức Cha Taberd in năm 1838 chưa có từ Giáo Dân. Đến cuối thế kỷ thứ 19 một từ điển của người Công Giáo: Từ Điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của in năm 1895-1896 định nghĩa  Giáo Dân là người có đạo Thiên Chúa, tiếng xưng hô của nhà nước Annam mới cải, trước gọi là dân Tả Đạo. 

 

Giáo Dân tuy có nghĩa là người dân có tông giáo, có đạo, nhưng khởi nguyên  từ Giáo Dân để chỉ  người theo đạo Công giáo. Sau này khi các chi nhánh Kitô Giáo như Tin Lành du nhập Việt Nam, thì các tín hữu Tin Lành cũng được gọi là Giáo Dân và  khi Đạo Hòa Hảo, Đạo Cao Đài xuất hiện vào tiến bán thế kỷ 20, người ta cũng gọi các người theo đạo này là Giáo Dân Cao Đài, Giáo Dân Hòa Hảo. Người Trung Quốc gọi chung những người theo Kitô Giáo là   督徒: Cơ Đốc Đồ (jidùtú). Với riêng người Công Giáo, từ Giáo Dân được hiểu là những người không có chức thánh và không ở trong bậc tu trì.

 

 

Lương Dân/ Bình Dân : Hán Việt. Người Công Giáo hay gọi những người không phải Kitô Giáo là Lương Dân. Danh từ này không phải là tiếng do người Công Giáo Việt Nam tự đặt mà do vua quan triều Nguyễn quy định để phân biệt giữa người Công Giáo và người không Công Giáo. Thời cấm đạo, vua quan chia dân chúng thành hai thành phần. Một bên là thành phần đa số gồm những người theo Đạo Khổng, Đạo Phật, Đạo Lão hay những người theo tín ngưỡng thờ cúng ông bà. Những người này được vua quan nhà Nguyễn gọi là Lương Dân 良民. Lương Dân theo nghĩa Hán Việt là người dân tốt. Bên kia là thành phần thiểu số gồm những người Công Giáo được gọi là Dửu Dân hay Tả Đạo. Do nguyên nhân này mà ngôn ngữ Việt Nam có cụm từ Bên Lương, Bên Đạo. Khi vua Tự Đức tha cấm đạo, qua đề nghị của viên Khâm Sứ Pháp tại Huế, vua Tự Đức chấp thuận không cho gọi người Công Giáo là Tả Đạo hay Dửu Dân nữa mà cho phép gọi là Giáo Dân. Đồng thời đối với Lương Dân, vua cho đổi là Bình Dân (xem dẫn chứng tài liệu lịch sử trong mục từ Giáo Dân ở trên)

 

Dửu Dân: Hán Việt. Từ ngữ vua Tự Đức đặt để gọi người Công Giáo Việt Nam trong thời kỳ cấm đạo. Dửu trong tiếng Hán Việt có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất  cỏ vực trong ruộng lúa. Nghĩa thứ hai là điều gian ác. Dửu Dân 莠民 là người làm điều ác, người có hại như cỏ vực cần phải nhổ  bỏ đi. Các nhà nho, nhất là nhóm Văn Thân dùng từ này gọi người Công Giáo để biện minh cho các hành động  tàn ác của họ nhằm tiêu diệt người Công Giáo. Ngược lại, với những người dân không phải là Công Giáo, triều đình Huế gọi họ là Lương Dân 良民 tức là những người dân tốt lành. (xem dẫn chứng tài liệu lịch sử trong mục từ Giáo Dân ở trên). Ngày nay người ta không còn thấy các sách vở dùng từ Dửu Dân nữa.

 

 

Tác giả: Nguyễn Long Thao
   dunglac@gmail.com