Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Vinh
Bài Viết Của
Trần Vinh
Nghi thức tế lễ : túc yết và đoàn cả (bài 9)
Việc cúng tế trong các dịp lễ tại Lăng Ông Bà Chiều
Linh Mục An-tôn Trần Văn Kiệm: nhà văn hóa, bạn vong niên của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm
Viết i hay y: Chia Sẻ Với Lm. Nguyễn Ngọc Huỳnh
Bản Nhạc Cổ Điển
Nhân Đọc Bài Mục Vụ Văn Hóa Tại Giáo Xứ Việt Nam ở Paris:
Tương Quan Giữa Tin Mừng Chúa Kitô và Những Giá Trị Tín Ngưỡng, Tôn Giáo, Phong Tục Tập Quán Cố Hữu của Người Việt Nam
Tục lệ xin xâm, xin keo tại Lăng Ông Bà Chiểu. (bài 7)
Nghệ Thuật Trang Trí tại Lăng Ông Bà Chiểu.(bài 5)
Việc thờ cúng ngày thường tại Lăng Ông Bà Chiểu (bài 6)
Iran điểm nóng mới trên thế giới
Tín ngưỡng thờ cúng các Danh Nhân và Anh Hùng Dân Tộc của người Việt Nam.
Vinh danh Phụ Nữ Việt Nam.
TƯƠNG QUAN GIỮA TIN MỪNG CHÚA KITÔ VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO, PHONG TỤC TẬP QUÁN CỐ HỮU CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

(QUAN NIỆM CỦA HỘI ÐỒNG GIÁM MUC VIỆT NAM)
 Năm hết Tết đến, các cộng đồng Công Giáo Việt Nam hải ngoại khắp nơi đang nhộn nhịp chuẩn bị Tết cổ truyền với nhiều sinh hoạt đạo đức, truyền thống, vui tươi đầy ý nghĩa. Để góp thêm ý cho mùa Xuân, chúng tôi xin trình bầy hầu quí vị đồng hương, đồng đạo một số nét rất đáng chú ý trong quan niệm của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về tương quan giữa Tin Mừng Chúa Kitô và những giá trị tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán của người Việt Nam ta. Đồng thời cũng nhân mùa Xuân, mùa cầu xin ơn thái hòa đất trời, chúng tôi xin giới thiệu vài nghi lễ thường được cử hành vào mùa Xuân, phổ biến trong dân gian, nhưng lại rất xa lạ đối với đa số các tín hữu chúng ta.

QUAN ĐIỂM CỦA HỘI ÐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Tin Mừng Chúa Kitô đã được rao truyền sang Á châu thuộc vùng ảnh hưởng văn hóa Ấn - Hoa rộng mênh mông đã từ lâu lắm, nhưng rõ ràng số người tin theo cho tới nay có thể nói là rất ít. Riêng tại Việt Nam ta, hạt giống Tin Mừng cũng đã gieo ở đây 4 thế kỉ trước. Kết quả tương đối khả quan hơn so với tại các nước Á châu khác, ngoại trừ Phi Luật Tân, song cũng chỉ đạt khoảng 10% dân số tin theo Chúa.

Trong 4 thế kỉ qua, nếu người Công Giáo Việt Nam đã tích cực đóng góp được nhiều thành quả tốt đẹp cho quê hương đất nước, thì lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng có những trang đẫm máu và nước mắt. Cho tới nay, Cộng Sản Việt Nam và những kẻ thù nghịch vẫn đang tiếp tục lên án Giáo Hội Công Giáo Việt Nam với nhiều thứ tội (1).

Đã có một số tác giả đi tìm nguyên do những khó khăn gặp phải trong việc loan báo Tin Mừng tại Á châu và Việt Nam, nhưng đặc biệt hơn cả là tiếng nói chính thức của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam mới đây trước Thượng Hội Đồng Giám Mục Á châu, tổ chức tại Vatican, từ ngày 19 tháng 4 tới ngày 14 tháng 5 năm 1998. Trong Hội nghị, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã chỉ rõ cho Thượng Hội Đồng thấy (2):

-Tại Á châu: "Lục địa Á châu không phải là một vùng đất hoang mà chúng ta có thể gieo trồng bất cứ giống gì. Trái lại, đây là vùng đất của những tôn giáo và của những nền văn hóa lâu đời hơn nhiều so với Âu châu. Ở đây vốn đã sẵn có một vũ trụ quan, một nhân sinh quan, và một quan niệm tôn giáo rất phong phú và còn khá vững chắc. Tại đây phần lớn người ta không phải là không biết đến Thiên Chúa, trái lại họ cũng đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Người một cách nào đó, và gọi Người bằng những tên gọi khác nhau, như là Trời, là Thiên, là Brahman v.v...." (HĐGMVN. Bản Trả Lời Các Câu Hỏi. Định Hướng số 16, trang 85).

- Tại Việt Nam: "Hạt giống Tin Mừng đến Việt Nam từ 4 thế kỉ. Nhưng trước đó cả ngàn năm, trên vùng đất này đã có 3 tôn giáo lớn là Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo và một loại tín ngưỡng dân gian ăn sâu vào tâm hồn người Việt Nam. Phong tục tập quán, văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam đã được nhào luyện bởi tất cả những mầm sống cũng như giới hạn các tín ngưỡng đó. Vì vậy khi Tin Mừng Đức Kitô được loan báo cho người Việt Nam không khỏi xẩy ra va chạm -có khi đến mâu thuẫn- giữa cái cổ truyền với cái mới lạ, giữa cái được gọi là "quốc hồn quốc túy" với cái bị xem là ngoại lai. Đối với người Kitô giáo, cái mới đã làm đảo lộn nền luân lí và đời sống tâm linh của cá nhân cũng như cơ cấu và lề thói của xã hội, gây nhiều khó khăn cho việc chung sống với đa số đồng bào của mình..."(HĐGMVN. Bản Trả Lời Các Câu Hỏi. Định Hướng số 16, trang 81).

- Sau khi nhận định, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đệ đạt: "Hội Thánh ngày nay phải chấp nhận một sự đa dạng về Thần học. Nếu có lối suy tư diễn tả Thần học của Tây phương thì cũng cần có lối suy tư diễn tả của người châu Á, và điều này không ai làm thay cho người châu Á được. Đã đến thời mà người châu Á không còn bằng lòng sao chép, diễn dịch các tư tưởng Thần học phương Tây. Đức Giêsu là người châu Á, nhưng tư tưởng của Người đã phải đi vòng qua châu Âu rồi mới trở về châu Á. Bây giờ đã đến lúc tư tưởng của Người có thể đến thẳng với các dân tộc Á châu... Do đó chúng tôi nghĩ nên có một nền Kitô học châu Á và một nền Thần học châu Á mang một sắc thái nhân bản và hiện sinh hơn. Cùng với một nền Kitô học và Thần học như vậy, cũng cần phải xây dựng một Hội Thánh như một gia đình con cái Thiên Chúa, hơn là phẩm trật với những cơ chế và luật pháp kiện toàn. Một Hội Thánh như một cộng đồng gia đình sẽ dễ hội nhập vào trong xã hội Á châu."(HĐGMVN. Bản Trả Lời Các Câu Hỏi. Định Hướng số 16, trang 86, 87).

Về việc thực hành sứ mệnh rao truyền Tin Mừng cho đồng bào mình, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đề ra một cung cách riêng biệt cho mình, đó là: "Các tín hữu Công giáo sẽ đến với anh em đồng bào của mình không phải như những kẻ xa lạ...","không tìm cách thuyết phục, tuyên truyền, càng không phải là chinh phục kéo cho được đông người vào đạo nhưng trái lại là đi đến với mọi người (Matt.28:19), làm người với mọi người (Gal.1:14) như là nhân chứng của Chúa Kitô, hiện thân tình yêu của Cha trên trời" (HĐGMVN. Bản Trả Lời Các Câu Hỏi.Định Hướng số 16, trang 87,89).

Thú thật, sau khi đọc được quan điểm của Hội Đồng Giám Mục trình bầy trên đây, chúng tôi hết sức vui mừng phấn khởi và muốn bầy tỏ lòng biết ơn đối các vị chủ chăn ở quê nhà. Bởi vì hôm nay, trước Giáo Hội hoàn vũ, các Ngài đã nói lên thay cho toàn thể Giáo Hội Á châu nói chung và cho Giáo Hội Việt Nam nói riêng, bao tâm sự ấp ủ từ lâu mà đó đây chỉ dám nói tới vừa không đầy đủ vừa không có uy tín. Có thể nói, tiếng nói lần này của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là hết sức "can đảm vì nói rõ cho mọi người biết văn hóa truyền thống Tây phương không phải là con đường duy nhất hướng về Chân lí và không thể tự đồng hóa với Kitô giáo...can đảm vì mở ra với chiều sâu Kitô giáo để đón nhận những giá trị cao đẹp của các tôn giáo bạn, các truyền thống tích cực của dân tộc mình" (Định Hướng số 16, trang 80).

Quan điểm của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trên đây đã là cảm hứng cho chúng tôi giới thiệu với quý vị đồng hương, đồng đạo vài nghi lễ cổ truyền rất phổ biến trong dân gian, thường được cử hành vào mùa Xuân: Lễ Kì Yên và lễ Xây Chầu, Đại Bội.

Trong mục Sưu Khảo ngày 31 tháng Giêng năm 2003, chúng tôi đã trình bày “Quan niệm của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam về tương quan giữa tin mừng chúa Kitô và những gía trị tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục Việt Nam. Ðể tiếp tục cho loạt bài này, hôm nay, khởi đi từ quan điểm của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị đồng hương, đồng đạo ý nghĩa vài nghi lễ cổ truyền rất phổ biến trong dân gian, thường được cử hành vào mùa Xuân: Ðó là Lễ Kì Yên và lễ Xây Chầu và ngày mai,loạt bài sẽ được tiếp tục với đề tài: Lễ Đại Bội.

LỄ KÌ YÊN

Lễ Kì Yên là lễ dân làng cầu an vào mùa Xuân. Đối tượng cầu xin ở đây là chính vị Thần Thành Hoàng (có sắc phong của nhà vua) được thờ tại Đình làng. Đây là tín ngưỡng thờ Thần cố hữu của người Việt Nam.

Dân ta đa số sống ở thôn quê, quanh năm lam lũ vất vả kiếm miếng cơm manh áo, song dù thế nào, mỗi năm cũng phải "vào đám" một đôi lần. Dân làng thường "vào đám" nhằm ngày sinh hoặc ngày giỗ của vị Thần Thành Hoàng và đặc biệt là vào 2 kì lễ lớn Xuân Kì và Thu Báo.

Lễ Kì Yên có tính cách tập thể của cộng đồng dân xã nên được tổ chức rất long trọng với cờ xí, phẩm phục và nhạc lễ. Phẩm vật chính là bò (trâu), dê, heo (vật tam sinh); có nơi kiêng sát sinh, chỉ dùng bánh trái làm lễ vật mà thôi.

Nghi lễ gồm có 2 diên tế : Túc yết và Đoàn cả. Túc: đêm; yết: ra mắt. Túc yết là lễ các hương chức làm lễ ra mắt Thần, thường tổ chức đêm hôm trước ngày lễ chính. Đoàn: đám đông, dân làng; cả: lớn. Đoàn cả là diên tế chính, dành cho toàn thể dân làng. Mỗi diên tế được cử hành do Ban Tế lễ, Ban Chấp sự, các lễ sanh, Ban cổ nhạc, các đào thài và lính hầu.

Thường thì một diên tế kéo dài khoảng 2 giờ, với 12 nghi thức sau đây:

1. Kiểm soát lễ vật.
2. Khởi lệnh cổ (trống nhỏ dùng để ra lệnh), khởi minh chinh (chiêng), khởi cổ (trống lớn) và tác nhạc (Ban cổ nhạc dạo đầu).
3. Tuần dâng hương.
4. Tuần rượu thứ nhất.
5. Ðọc văn tế (Nội dung bài văn tế gồm có báo cáo việc làng nước, xin Thần cứu khổ, cứu nguy và ban ơn giáng phúc cho dân làng).
6. Tuần rượu thứ hai.
7. Tuần rượu thứ ba.
8. Hiến quả phẩm.
9. Hiến bỉnh (bánh), nếu lễ vật là vật tam sanh thì dâng vào lúc này.
10. Tuần trà.
11. Ẩm phước và thụ tộ (Thần ban cho vị chánh tế và các vị bồi tế hưởng chút rượu và lễ vật đã dâng cúng).
12. Lễ hoá văn tế (đốt tờ văn tế).

Tế Túc Yết và tế Đoàn Cả tại các Đình làng và các đền thờ Thần là nghi thức chính thức của Việt Nam mà triều đình đã dùng mỗi khi nhà vua tế Đàn Nam Giao ngày trước.

Ở đây chính ra chúng tôi phải mô tả tỉ mỉ những nghi lễ quan trọng và đặc sắc này, nhưng nếu làm thế, bài sẽ dài thêm vài chục trang. Chúng tôi sẽ dành lại cho một bài chuyên biệt khác. Tuy vậy, dù trên đây mới chỉ liệt kê vài nét sơ lược, chưa mô tả chi tiết các nghi thức, song chúng tôi trộm nghĩ cũng đủ giúp cho quý vị có thêm chút khái niệm về cách cầu xin ơn bình an trong dịp đầu năm của phần đông người Việt Nam ta trước đây (3).

HÁT CHẦU VÀ XÂY CHẦU

Tiếp theo lễ Kì Yên là lễ Xây Chầu và Lễ Đại Bội. Hai lễ này bao giờ cũng cử hành trước khi Hát Chầu. Tại Miền Nam trước đây, nếu có khả năng tài chánh, sau lễ Kì Yên, làng thường tổ chức Hát Chầu. Hát Chầu còn gọi là Hát Cúng, chính là Hát Bội. Hát Bội là bộ môn sân khấu cổ truyền phổ biến ở Miền Trung và Miền Nam trước đây; Miền Bắc thì có Hát Chầu Văn.

Hát Chầu nhằm 3 mục đích:

1. Mục đích giải trí: Ngày trước, dân thôn quê ít có dịp được thưởng thức nghệ thuật sân khấu, vì thế mỗi năm một đôi lần được coi Hát Bội tại Đình, Miếu trong làng là dịp vui hiếm có, nên đã thu hút được dân làng đủ mọi lứa tuổi. Nhờ thế, quang cảnh ngày đại lễ đầu Xuân được thêm long trọng, vui tươi.

2. Mục đích giáo huấn: Các tuồng tích thường là những câu truyện xưa, trong đó xuất hiện đủ mọi hạng người, với muôn vàn sự việc tốt xấu, song bao giờ cũng có hậu, nghĩa là cái Thiện sẽ thắng cái Ác (văn dĩ tải đạo). Từ đó mà ta học làm lành lánh dữ.

3. Mục đích thờ cúng: Dân làng quan niệm các vị Thần cũng có quan cảm như người trần. Các Ngài sẽ rất hài lòng và sẵn sàng gia ơn giáng phước, nếu được dâng cúng một bài ca, một điệu múa hoặc một chầu hát cúng. Đó là mục đích chính của tục Hát Chầu.

Ở đây chúng tôi không nhằm nói về Hát Chầu, mà chỉ muốn giới thiệu lễ Xây Chầu và Đại Bội, nói đúng hơn là chỉ nhằm tìm hiểu lòng tín mộ của người Việt thể hiện qua hai nghi lễ này.

LỄ XÂY CHẦU

Lễ Xây Chầu còn gọi là lễ Khai Tràng. Mục đích là dùng bùa, chú, ấn quyết và cậy nhờ Thái Thượng Lão Quân để trấn áp ma quỷ và cầu xin cho quốc thái dân an, dân làng được may lành và thịnh vượng. Đây là tín ngưỡng thuộc Lão giáo đã được bình dân hóa, rất phổ biến trong dân gian. Bởi vì Lão giáo chính thống với thuyết vô vi là một hệ thống tư tưởng trừu tượng và cao siêu đã từng được bách gia chư tử noi theo, ở nước ta chỉ một thành phần ưu tú nào đó mới có thể lãnh hội được mà thôi.

Có 3 loại Xây Chầu: Xây Chầu Văn là lối được dùng nhiều hơn cả vì nó đơn giản, ít cần hiểu biết về bùa, chú. Xây Chầu Võ là khó hơn cả, ít nơi dám cử hành, vì người cử hành phải giỏi bùa, chú, ấn quyết. Và thứ ba là Xây Chầu bán Văn bán Võ là loại chúng tôi sẽ giới thiệu sau đây. Loại này vừa phải hô hoán to lên mạnh mẽ, oai nghi các câu Thần chú (Võ), vừa có thể chỉ tâm niệm các câu nói đó mà không cần phát âm ra ngoài (Văn).

Nghi thức cử hành lễ Xây Chầu rất có ý nghĩa, rất "cướp tinh thần", và không quá dài, đáng cho các vị đồng đạo tìm hiểu. Do đó xin ghi lại để cống hiến quý vị.

1. Sửa soạn hành lễ: Chấp sự viên cùng các trò lễ tới trước bàn thờ để dâng hương, rượu, trà và thỉnh roi chầu, rồi tiến lên sân khấu. Tại đây, chấp sự viên quay mặt về phía bàn thờ Thần, xá 3 lần. Xoay mặt lại phía đặt trống chầu, ngó thẳng hướng đại lợi gọi là định vị (4). Khi lễ sanh xướng "Phế cân", chấp sự viên giở khăn đỏ đang phủ mặt trống ra, lau mặt trống, rồi xếp khăn lại, cuốn vào giữa roi chầu. Tiếp theo là phần đánh trống. Đây là phần quan trọng được chia ra 2 giai đoạn: Đệ nhất cấp là đánh ở bìa trống, đệ nhị cấp là đánh ở giữa mặt trống.

2. Đệ Nhất Cấp: Chấp sự viên cầm roi chầu ở tay mặt, tay trái bắt ấn quyết (5) và nắm lấy cổ tay áo bên mặt, rồi lần lượt tiến hành như sau:

- Niệm Chú thầm trong miệng (6) "Nam mô Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như luật định".
- Dùng roi chầu vẽ lá Bùa Tứ Tung Ngũ Hoành (7) vào khoảng phía trên của mặt trống để trấn áp ma quỷ.
- Dưới lá Bùa Tứ Tung Ngũ Hoành, dùng roi chầu viết chữ 'Thạnh".
- Lùi lại ba bước, dùng roi chầu vẽ hai chữ trên sàn "Sát Quỷ".
- Bước tới một bước, đạp lên hai chữ "Sát Quỷ" vừa mới viết (8) và bắt đầu đánh trống (kích cổ).
-Nhất kích cổ: Xướng lớn "Hà An Xã Tắc" (đất nước bình yên), rồi nhịp 3 tiếng nhè nhẹ trên mặt trống.
-Nhị kích cổ: Xướng lớn "Thôn Trung Khương Thới" (làng xóm an khang), rồi nhịp 3 tiếng nhè nhẹ trên phía trái của mặt trống.
-Tam kích cổ: Xướng lớn "Lê Thứ Thái Bình" (dân chúng hưởng thái bình), rồi nhịp 3 tiếng nhè nhẹ trên phía phải của mặt trống.

3. Đệ Nhị Cấp: Chấp sự viên đánh nhẹ vào giữa Thái Cực Đồ (9) vẽ ở trung tâm mặt trống 3 hồi, gọi là "Khi Thái Cực". Rồi:

- Nhất điểm cổ: dằn roi chầu 3 tiếng, rồi xướng lớn "Trừ Càn Khảm" (nghĩa là khỏi bị bại hư).
- Nhị điểm cổ: dằn roi chầu nhẹ 3 tiếng, rồi xướng lớn "Lập Trung Cấn Chấn" (nghĩa là cô lập khóc lóc, chết chóc và ma qu›).
- Tam điểm cổ: dằn roi chầu nhẹ 3 tiếng, rồi xướng lớn "Tốn Li Khôn Đoài" (ý là xin cho báu lộc, phúc đức).

Sau đó, chấp sự viên đánh mạnh lên mặt trống 3 hồi, từ phải (tức cửa "sanh" của buồng hát) sang trái (tức cửa "Tử" của buồng hát, vừa đánh vừa đếm sao cho đủ 3 hồi như sau:

- Nhất hồi: 20 tiếng lớn (gọi là chùy thúc), sau đó dằn 2 tiếng nhẹ và xướng lớn "Trừ hung thần ác sát".
- Nhị hồi: 40 tiếng, sau đó dằn 2 tiếng nhẹ, đồng thời nhấc chân ra khỏi 2 chữ 'Sát Quỷ"(vì bây giờ đã trừ khử được ma quỷ rồi, không sợ chúng ám hại nữa), bước tới 2 bước, trở về chỗ cũ (gọi là hoàn y trung lập).
- Tam hồi: 60 tiếng lớn, sau đó dằn 2 tiếng nhẹ và xướng lớn "Thôn Trung Bá Tánh Nam Nữ Đồng Thọ Phước".

Sau hết, chấp sự viên đánh 3 hồi 9 tiếng, rồi nhìn lên chánh điện như ra hiệu cho nhạc sanh trổi điệu "Tiếp Giá" để thỉnh Thần ngự đến xem hát cúng. Đoạn, đánh thêm 3 hồi, ra lệnh cho ban nhạc khởi tấu khúc "Khai Tràng". Dứt nhạc "Khai Tràng", chấp sự viên cầm roi chầu, giả bộ như cầm gươm, phóng vào mặt bợm (tức là mặt con "Kì Lân Xuất Thế" gắn trên 2 cửa "Sanh" (xuất) và cửa "Tử" (nhập), mục đích trừ khử ma quỷ.

Nếu quý vị đồng đạo đọc kĩ diễn tiến buổi lễ trên đây, chắc hẳn sẽ đồng ý với chúng tôi về tính cách trang nghiêm, gây nhiều ấn tượng và sẽ khám phá ra những ý nghĩa rất đáng học hỏi.
LỄ ĐẠI BỘI

A. Ý Nghĩa: Lễ Đại Bội bao giờ cũng cử hành liền sau lễ Xây Chầu, vì thế thường gọi là lễ Xây Chầu Đại Bội. Trong nghi lễ này, chủ yếu là cử hành ý nghĩa phát sinh vũ trụ theo Dịch lí (xin xem chú thích 9). Thái cực (Nhất nguyên động, Đạo)là nguồn gốc của vũ trụ. Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm Dương). Lưỡng nghi sinh sinh Tứ tượng. Tứ tượng sinh Bát quái...Thêm vào đó là Tam tài và Ngũ hành là những yếu tố quan trọng thuộc vũ trụ quan. Kinh Lễ cũng nói: "Người là cái đức của Trời Đất, sự giao hợp của Âm Dương, sự hội tụ của thần linh, là cái khí tinh túy của ngũ hành(kim mộc thủy hỏa thổ). Nhờ có tinh thần linh diệu và khí chất tinh túy, con người linh hơn vạn vật, có địa vị tôn qúy trong vũ trụ, được sánh ngang với Trời Đất trong ba ngôi tam tài Thiên-Địa-Nhân".

Như thế cử hành lễ Đại bội theo quan niệm phát sinh vũ trụ là một chủ ý thâm sâu cầu mong cho được "An Đạo Trời, Vuông Đạo Đất, Sáng Đạo Người" (Tam tài: Thiên, Địa, Nhân). Trời Đất mà giao hòa, con người mà an Đạo thì người người hưởng thái bình, vạn vật được phồn thịnh.

B. Nghi thức cử hành: Lễ Đại Bội có 6 nghi thức chính và một nghi thức phụ. Tất cả như là các vũ điệu nghệ thuật, do các diễn viên Ban Hát chầu thủ diễn(10).

1.Lễ Khai Thiên Tịch Địa: Thủ vai Thái Cực là một diễn viên, gọi là ông Bàn Cổ, hóa trang mặt rằn, râu đen, áo ngạch dơi, cầm bó nhang ra múa (không hát), gọi là điểm hương chiều gió bốn phương trời.

2.Lễ Xang Nhật Nguyệt: Một diễn viên nam tượng trưng cho Dương, mặt đỏ, áo long bào, quần giáp, đi hia, cầm cái đĩa tròn bọc vải đỏ. Đó là mặt trời: Nhật. Một diễn viên nữ tượng trưng cho Âm, mặt trắng, áo hài, cài trâm, bí tất trắng, tay cầm cái đĩa bọc vải trắng. Đó là mặt trăng: Nguyệt. Diễn viên nam ra trước, múa một lát. Diễn viên nữ ra sau, cùng múa, nhìn mặt nhau, cho mặt trời chạm vào mặt trăng (vì thế còn gọi là lễ xang mặt). Múa 3 lần

3.Lễ Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân (còn gọi Tam Đa: Đa Phúc, Đa Lộc, Đa Thọ; Tam Tinh: 3 ngôi sao Phúc, Lộc Thọ). Một diễn viên tượng trưng Phúc là ông gìa mặt trắng, râu 5 chòm màu đen, áo viên bào, mũ đằng cân, xiêm trường, quần giáp, đi hài, một tay bồng hài nhi, một tay cầm quạt ra vẻ phong cách thần tiên. Một diễn viên tượng trưng cho Lộc là ông gìa mặt trắng, râu 5 chòm màu đen, áo dao bào, mũ bình thiên, xiêm trường, quần giáp, đi hia, một tay cầm bình hoa, một tay cầm quạt.Một diễn viên tượng trưng cho Thọ là ông gìa da đồi mồi, mày bạc, râu 5 chòm màu trắng, đầu bịt khăn đỏ, áo tiên tay rộng, quần đỏ, một tay cầm quạt, một tay cầm gậy có bầu rượu. Ba ông ra một lượt, sắp hàng ngang, không múa, chỉ xướng, nói lối và hát khách những bài chúc tụng Phúc, Lộc, Thọ.

4.Lễ Tứ Thiên Vương: là lễ tượng trưng cho Tứ Tượng (Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm, Thiếu Dương). Diễn viên là 4 ông vua, trang phục giống nhau, mặt trắng, mũ kim khôi, mình đai giáp, thắt lưng đỏ, đi hia, lưng dắt 4 cây cờ lệnh. Tứ Thiên Vương lần lượt ra múa, rồi chụm lại, mặt quay ra 4 phương trời, dâng cho dân chúng 4 câu liễn viết: Thọ Tỷ Nam Sơn. Thánh Thọ Vô Cương. Quốc Thái Dân An. Phúc Như Đông Hải.
5.Lễ Đứng Cái: Là lễ tượng trưng cho Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Diễn viên gồm 1 nam và 4 nữ. Diễn viên nam phải đứng tuổi, gọi là cái đứng ở giữa. Bốn nữ là con, đứng 4 bên. Vì có cái có con nên gọi là lễ Đứng Cái. Bốn con là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa (còn gọi Tứ Thời, Tứ Hữu. Bốn con ra trước, sắp hàng ngang và thài (hát) những điệu chúc tụng. Sau đó Cái (Thổ) mới xuất hiện, mặt trắng, áo cẩm bào, mão Cửu Long, tay cầm quạt, lậy Thần 3 lậy rồi hát những bài chúc tụng thánh chúa, chúc phúc lộc cho bá tánh. Cái và các con thay phiên chúc tụng. Khi lễ xong, con bái Thần vào trước, Cái bái Thần vào sau.

6.Lễ Bát Tiên Hiến Thọ: Là lễ tượng trưng cho Bát Quái. Diễn viên là 8 vị tiên. Ðó là các ông:

- Hán Chung Ly: Mặt đỏ, râu 5 chòm màu đen, mũ Xuân Thu, áo tiên rộng, lưng thắt, xiêm trường, quần giáp, đi hia, tay cầm quạt.
- Trương Qủa Lão: Mặt trắng, mày rậm và bạc, râu cũng bạc, mũ bình thiên, áo dao bào, xiêm trường, quần giáp, đi hia, tay cầm quạt.
- Hàn Tương Tử: Mặt trắng, môi đỏ, đầu bịt khăn ngang mỏ rìu, áo tiên chít, xiêm trường, quần giáp, đi giầy, tay cầm quạt.
-Tào Quốc Cựu: Mặt trắng, mày bạc, râu 5 chòm cũng bạc, mão phương phát, áo dao bào, xiêm trường, quần giáp, đi hia, tay cầm quạt.
-Lam Thái Hòa: Mặt trắng, môi đỏ, đầu thắt đúm, buộc giải ngũ sắc, áo tiên chít, xiêm trường, quần giáp, đi hia, tay cầm quạt.
-Lí Thiết Quài: Mặt đen, mày trắng, râu quắn đen,, đầu bịt khăn ngang mỏ rìu, áo đen, xắn một tay áo, xiêm trường, quần giáp, chân không. Một tay chống gậy, một tay cầm quạt.
-Hà Tiên Cô: Mặt thoa phấn, mũ thắt phượng, áo cung trang điểm xiêm hồng, bít tất trắng, tay cầm quạt.
-Lã Đồng Tân: Mặt thoa phấn hồng, râu 3 chòm đen, mũ đằng cân, áo viên bào, xiêm trường, quần giáp, đi hia, tay cầm quạt.

Bát Tiên thường cầm trên tay cam, táo, một khúc cây để tượng trưng cho những vị thuốc trường sinh là bàn đào, hỏa táo, quế chi và nhân sâm. Bát Tiên xuất hiện cùng lúc, xếp hàng ngang. Mỗi vị xướng một câu nói về đặc tính xuất xứ của mình, rồi cùng nói lối và hát khách những bài chúc thọ bằng văn Hán Việt, chỉ nhhững người có Nho học mới hiểu nổi. Hát xong, Bát Tiên dâng phẩm vật cho dân làng. Một vị đại diện tiếp nhận phẩm vật và đặt trên bàn thờ, rồi thưởng tiền cho các diễn viên.

7. Lễ Gia Quan Tấn Tước: Đây là lễ phụ, không thuộc vào Lễ Đại Bội. Mục đích chính của lễ này là cầu chúc cho dân làng được phát lên về đường công danh, hoạn lộ. Một diễn viên thủ vai, gọi là linh quan, vì tin ông nói lời linh nghiệm. Linh quan mặc áo cẩm bào, đeo mặt nạ, tay cầm quạt, múa những điệu bộ khôi hài. Sau đó viết câu: Gia Quan Tấn Tước và dâng cho dân làng. Vị đại diện tiếp nhận và đặt trên bàn thờ.

KẾT LUẬN

Xuân mới. Đất trời đổi mới. Người người đổi mới, vui tươi hơn, tốt đẹp hơn. Với điều kiện Đông phải lụi tàn, những gì tiêu cực cần phải biến đổi.

Để có được mùa Xuân mới, Giáo hội hoàn vũ đã xét mình và lên tiếng hối lỗi về Thánh Chiến, về các toà án dị giáo, về vụ Gallilê, làm lành với các anh em Tin Lành, Chính Thống, Do Thái, và mới đây đã xin lỗi nước Trung Hoa vì trong lịch sử truyền giáo đã có lúc không tôn trọng đủ những giá trị tín ngưỡng, phong tục tập quán của dân tộc vĩ đại này.

Để có được mùa Xuân mới, Giáo hội Công giáo Nhật bản đã xin lỗi vì đã sai lầm thoả hiệp với chính sách Đại Đông Á, đi xâm lăng các nước Á Đông do Nhật Bản phát động hồi trước 1945 (Đại chiến thứ hai).

Và hôm nay, để có được mùa Xuân mới, Giáo hội Công giáo Việt Nam, đứng đầu là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, trước Thượng Hội Đồng Giám Mục Á châu, cũng đã lên tiếng phản tỉnh Thần học: nêu lên những vấn đề Kitô học, Giáo hội học và vấn đề rao giảng Tin Mừng trong bối cảnh văn hoá đặc biệt phong phú và thâm sâu ở châu Á và vấn đề hội nhập văn hoá.

Ý thức mỗi tín hữu là một ngành thuộc cây nho Giáo hội, chúng ta hãy lắng nghe các vị chủ chăn nhắn nhủ:"...không chỉ khép kín trong đời sống thuần tôn giáo, nghĩa là trong việc cử hành bí tích hay phụng vụ, mà còn dấn thân trực tiếp vào việc cải thiện đời sống..." (HĐGMVN. Bản Trả Lời Các Câu Hỏi. Định Hướng số 16, trang 90).

Riêng phần trình bầy vài nghi lễ mùa Xuân cổ truyền của chúng tôi trên đây là do sự gợi ý nhân được đọc các bài tham luận và các ý kiến trong Bản Trả Lời Các Câu Hỏi của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam khi tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục Á châu 1998, đặc biệt là lời phát biểu của Hồng y giáo chủ Phạm Đình Tụng:" Chúng con, những Giám mục Việt Nam, xác tín rằng không thể tiên thiên coi thường những tín ngưỡng ấy như là mê tín dị đoan. Đối với những kẻ thực hành những tín ngưỡng ấy, đó là một con đường cụ thể và hằng ngày cho phép họ gần gũi với Mầu Nhiệm Ông Trời trong mức độ nào đó. Mầu nhiệm này bao trùm và thấm nhập mọi sự..." (Định Hướng số 16, trang 91).

Nếu đọc qua một vài nghi lễ cầu an mùa Xuân cổ truyền trên đây, chúng tôi tin chắc qúy vị đồng đạo sẽ đồng ý với lời phát biểu của Ðức Hồng y giáo chủ.

Giáo hội Việt Nam đã phản tỉnh. Mỗi tín hữu Việt Nam cũng phản tỉnh, xét lại mình, học tập và thay đổi quan niệm sống Tin Mừng giữa lòng dân tộc. Đó là con đường mới, tốt nhất, đúng nhất, để có thể cùng với các thành phần dân tộc khác góp sức xây dựng một mùa Xuân đích thực cho quê hương Việt Nam mến yêu.


CHÚ THÍCH:

1. Nhân đây cũng xin nhắc lại tất cả 53 sắc chỉ cấm đạo từ các chúa Trịnh, chúa Nguyễn cho đến vua Tự Đức, chỉ luôn nại lí do tôn giáo, phong tục, chứ không hề nêu lề do chính trị. Chẳng hạn như: "ngày đêm dụ dỗ kẻ ngu dại, thảy đều mê đắm" (Việt Sử Cương Mục, Hiến Tôn năm Cảnh Hưng thứ 16 (1754), "đầy rẫy những thói tục ghê gớm, ở truồng nghe giảng, ở chung hỗn tạp" (Đại Việt Sử Ký, Huyền Tôn, năm Cảnh Hưng thứ 1, (1663), "chưa kể những chuyện móc mắt người chết, quyến rũ đàn bà", "mê hoặc dân ngu và làm hư hỏng phong tục" (chiếu chỉ Minh Mạng ngày 12/2/1825. (Xin xem Nguyễn Văn Chức. Việt Nam Chính Sử. Tiền Phong,trang 181. Tác giả đã dẫn lời của Gs. Nguyễn Ngọc Lan trả lời Nguyễn Khắc Viện trong bài "Nói Truyện Tử Đạo Với Ông Nguyễn Khắc Viện"...

2. Tài liệu về Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trước Thượng Hội Đồng Giám Mục Á châu rất phong phú. Ở đây chúng tôi chỉ trích dẫn những đoạn có liên quan trực tiếp tới bài viết. Và vì đây là vấn đề hết sức hệ trọng và tế nhị, theo kinh nghiệm thì rất dễ bị "dị ứng", cho nên chúng tôi tự chế không thêm thắt những ý kiến cá nhân.

3. Trước năm 1975, chúng tôi đã có nhiều dịp tham dự các diên tế long trọng và vẫn thầm ao ước có một vị giáo sư Thần học nào đó (môn Phụng vụ) đưa các sinh viên của ông tới tham dự một diên tế tại một ngôi Đình hay một đền thờ Thần, ít là một lần, thì chắc hẳn sẽ giúp cho các vị ấy thêm sự hiểu biết, thêm cảm xúc, rất ích lợi cho việc đối chiếu nghi lễ phụng vụ và cho nỗ lực muốn đem Tin Mừng vào lòng dân tộc bằng phương cách của dân tộc. Theo thiển ý, các diên tế rất trang nghiêm, uy nghi và gây nhiều cảm xúc tốt đẹp.

4.Hướng đại lợi là hướng tốt nhất trong năm. Để tìm hướng đại lợi, người ta căn cứ vào hình Bát Quái Sơn Hương thường vẽ trong lịch Tầu hay lịch Tam Tông Miếu.

5. Ấn quyết: Dùng ngón tay cái bấm vào một trong 12 cung, mang tên thập nhị chi, trên đầu và trên các ngón tay. Như thế gọi là bắt ấn quyết. Làm thế người ta tin có thể trấn áp được ma quy, không cho chúng xâm nhập vào thân mình.

6. Chú: Là những câu tụng niệm, mục đích xin các Đấng thiêng liêng trừ ếm tà ma (Thần chú).

7. Bùa Tứ Tung Ngũ Hoành: Bùa là những hình vẽ đặc biệt dùng để chống lại tà ma, nhờ sự can thiệp của Thái Thượng Lão Quân. Bùa Tứ Tung Ngũ Hoành là bùa vẽ 4 vạch dọc nằm trên 5 vạch ngang. 4 vạch: Mỗi vạch ngăn cấm một loại quy ma. 5 vạch ngang: Tượng trưng Thiên, Địa, Nhân, Sông, Biển.

8. Từ khi đạp lên 2 chữ "SÁT QuỶ", chấp sự viên không được nhấc chân ra vì đây là một loại bùa trấn ếm ma qu›, nếu nhấc chân ra, người ta tin là sẽ bị ma qu› nhập vào và làm hại.

9. Thái Cực Đồ: Là hình biểu diễn lí thuyết phát sinh vũ trụ vạn vật:
Nếu dùng những đường thẳng vẽ ra những hình chữ nhật nằm chồng lên nhau thì trên cùng là Thái cực (Đạo, Nhất nguyên động). Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm, Dương: Nhị nguyên). Âm - Dương là cặp phạm trù căn bản, có thể áp dụng vào mọi sự, mọi vật trên vũ trụ này. Nhờ Âm, Dương giao hòa mà tạo sinh vạn vật. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng. Tứ tượng sinh Bát quái, v.v., cứ thế mà chẻ ra các hào các quẻ, lập thành một tiến trình sinh hóa vô tận.
Nếu Thái cực biểu diễn là một hình tròn thì hình tròn ấy tuyệt hảo, không bao giờ có trên thực tế mà chỉ có trong óc tưởng tượng của nhà toán học. Hình tròn ấy chính là Tuyệt Đối, là Tối Cao, là Chung Nhất bao gồm tất cả, mệnh danh là Đạo. Nhất Âm nhất Dương chi vị Đạo. Âm Dương là hai yếu tố tương khắc nhưng không bao giờ tiêu diệt nhau, trái lại chúng liên hệ bù trừ cho nhau. Khi Âm thịnh thì Dương suy, khi Dương thịnh thì Âm suy. Dương mà tới cực đại thì phản hồi dần dần về Âm. Âm mà tới cực đại thì phản hồi dần dần về Dương. Chính ở chỗ cực Âm đã nằm sẵn một nhân chủng Dương và chính nơi cực Dương cũng có một nhân chủng Âm mai phục. Âm Dương cứ thế mà xoay vần, biến hóa vô cùng theo đường vòng ảo diệu, nhưng không bao giờ vượt ra khỏi vòng tròn Đạo được. Sự cùng tắc biến, vật cực tắc phản. Hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai!

Với Thái cực đồ thuyết, người Á Đông chúng ta tin tưởng rằng muôn người, muôn vật, muôn sự bắt nguồn từ Đạo và sẽ trở về với Đạo. Cho nên mặc dù thế nào, ai cũng cầu mong sao được "an Đạo Trời, vuông Đạo Đất, sáng Đạo Người" (Tam tài: Thiên, Địa, Nhân). Trời đất mà giao hòa, con người mà an Đạo thì người người hưởng thái bình, vạn vật được phồn thịnh. Đó chính là ý nghĩa cốt tủy của lễ Kì Yên (cầu an), lễ Xây chầu Đại bội, là tín ngưỡng phổ biến của người Việt Nam trước đây.

Chính Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng đã hiểu Đạo với ý nghĩa hết sức đặc biệt: " Cách nhận thức về Thiên Chúa, quan niệm về thực tại tối hậu nơi người Á châu không giống với Tây phương. Có hai đặc điểm chính của triết học và tôn giáo Á châu, đó là trước hết, người ta có một cái nhìn tổng hợp, hài hòa về mọi thực tại, kể cả thực tại tối hậu, mà người ta gọi là Trời, Thiên, Đại Ngã, Brahman hay Đạo...Đây là một cái nhìn hài hòa, kết hợp Âm Dương, nội -ngoại, siêu việt - nội tại..." (Định Hướng số 16, trang 86).

Riêng người tín hữu chúng ta, có cảm thấy mối tương đồng nào không, giữa Đạo trong câu nói của người Á Đông: "Triêu văn Đạo tịch tà khả hĩ" (sáng mà nghe Đạo thì chiều có thể chết được rồi) và Chúa trong câu nói của một nhà tư tưởng phương Tây: "Linh hồn con bồn chồn khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa" (Thánh Augustinô)?

10. Nguyễn Long Thao. Nghiên Cứu Một Ngôi Đình Làng Miền Nam: Phú Nhuận Đình. Đại học Văn Khoa Sài Gòn, 1973.(Xin cảm ơn tác giả đã gửi cho chúng tôi tài liệu Lễ Đại Bội trích trong tác phẩm nêu trên).

Tác giả: Trần Vinh
   dunglac@gmail.com