Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Vinh
Bài Viết Của
Trần Vinh
Nghi thức tế lễ : túc yết và đoàn cả (bài 9)
Việc cúng tế trong các dịp lễ tại Lăng Ông Bà Chiều
Linh Mục An-tôn Trần Văn Kiệm: nhà văn hóa, bạn vong niên của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm
Viết i hay y: Chia Sẻ Với Lm. Nguyễn Ngọc Huỳnh
Bản Nhạc Cổ Điển
Nhân Đọc Bài Mục Vụ Văn Hóa Tại Giáo Xứ Việt Nam ở Paris:
Tương Quan Giữa Tin Mừng Chúa Kitô và Những Giá Trị Tín Ngưỡng, Tôn Giáo, Phong Tục Tập Quán Cố Hữu của Người Việt Nam
Tục lệ xin xâm, xin keo tại Lăng Ông Bà Chiểu. (bài 7)
Nghệ Thuật Trang Trí tại Lăng Ông Bà Chiểu.(bài 5)
Việc thờ cúng ngày thường tại Lăng Ông Bà Chiểu (bài 6)
Iran điểm nóng mới trên thế giới
Tín ngưỡng thờ cúng các Danh Nhân và Anh Hùng Dân Tộc của người Việt Nam.
Vinh danh Phụ Nữ Việt Nam.
VIỆC CÚNG TẾ TRONG CÁC DỊP LỄ TẠI LĂNG ÔNG BÀ CHIỀU

Bài 8

 Trong bài 6, chúng tôi đã trình bầy đề tài Việc Thờ Cúng Ngày Thường Tại Lăng Ông Bà Chiểu. Việc thờ cúng ngày thường chủ yếu là việc của bá tánh, không phải là việc của Hội Thượng Công Qúy Tế. Trong những ngày thường, Hội lo việc quản trị và trông coi giữ gìn trật tự để cho việc thờ cúng của khách thập phương được diễn ra trang nghiêm, tốt đẹp. Hội chỉ đứng ra tổ chức tế lễ long trọng vào kì lễ giỗ Đức Thượng Công và cử hành lễ cúng vào các dịp lễ tiết trong năm mà thôi.

Theo Bản Nội Quy hiện hành, Chương IV, Điều thứ 4 quy định như sau: ‘Lễ giỗ Đức Thượng Công là lễ chánh thức và quan trọng hơn hết của Hội Thượng Công Qúy Tế, cử hành mỗi năm vào ngày 30 tháng 7 Âm lịch và những ngày kế tiếp. Thời hạn cử hành lễ giỗ, nghi thức, cỗ bàn tế lễ và chầu hát bội do các tiểu ban của lễ giỗ đảm nhiệm.

Ngoài ra, hàng năm Hội Thượng Công Qúy Tế còn có những lễ cúng sau đây:

1/ Lễ cúng Thanh Minh cử hành trong dịp Thanh Minh.

2/ Lễ giỗ Đức Kinh Lược Phan Thanh Giản ngày 05 tháng 7 Âm lịch mỗi năm.

3/ Lễ giỗ Đức Thiếu Phó Lê Chất ngày 10 tháng 7 Âm lịch mỗi năm. Ba lễ cúng này được tổ chức theo lối cúng giỗ tổ tiên của Việt Nam, nhưng lễ Thanh Minh còn có phần cúng thêm ngoài mộ Đức Thượng Công và luôn cả hai mộ của hai cô hầu hai bên (một bên tả cách đường Lê Văn Duyệt và một bên hữu, cách đường Trịnh Hoài Đức).

4/ Lễ cúng rằm: Thượng, Trung và Hạ nguyên cử hành vào giờ Ngọ (12 giờ) ngày rằm tháng Giêng, tháng Bảy và tháng Mười Âm lịch, cỗ bàn chay và hoa quả.

5/ Lễ Tết Nguyên Đán cử hành vào chiều và tối hay khuya 30 tháng Chạp và liên tiếp mỗi buổi sáng và trưa, từ ngày Mồng Một Tết tới ngày Mồng Ba, cúng mứt, bánh, hoa quả và trà rượu.

6/ Các lễ qúy tế (4 mùa đều có cúng tế). Gồm có Lễ Trùng Ngũ (05 tháng 5 Âm lịch), cúng bánh, hoa quả và trà rượu. Lễ Trung Thu (rằm tháng Tám Âm lịch), cúng bánh Trung Thu, hoa quả và trà rượu.’

Mặc dù Nội Quy quy định giờ cúng lễ, nhưng trên thực tế, vì tình hình an ninh, Hội thường cử hành các lễ cúng kể trên vào lúc 11 giờ sáng, ngoại trừ ngày Trung Thu sẽ tổ chức lễ cúng hồi 20 giờ tối, còn gọi là cúng trăng tròn.

Tóm lại, theo Bản Nội Quy, mỗi năm Hội Thượng Công Qúy Tế đứng ra cử hành 6 dịp lễ cúng và một kỳ lễ tế long trọng nhằm vào dịp lễ giỗ Đức Thượng Công.

Nghi thức cử hành lễ cúng tại đây không khác gì lễ cúng giỗ tổ tiên mà hầu như mọi người Việt Nam đều đã thực hành hoặc đã từng tham dự. Vì thế, trong bài này, chúng tôi sẽ không đề cập về lễ cúng thêm nữa mà chỉ cố gắng trình bầy đầy đủ về việc tổ chức và cử hành lễ tế nhân dịp một kì lễ giỗ Đức Thượng Công tại Lăng Ông Bà Chiểu mà thôi. Đó là dịp lễ giỗ Đức Thượng Công năm 1973.

 

 LỄ GIỖ ĐỨC THƯỢNG CÔNG NĂM QÚY SỬU 1973

 

Từ năm Giáp Dần 1914, tức là năm thành lập Hội Thượng Công Qúy Tế, tới năm Tân Mùi 1931, Hội Thượng Công Qúy Tế tổ chức tế lễ và hát cúng Đức Thượng Công vào dịp Tết Thanh Minh, chứ không tổ chức vào kì lễ giỗ Ngài như hiện nay.

Từ năm Nhâm Thân 1932 tới năm Bính Tí 1936, mỗi năm Hội tổ chức 2 kì lễ tế long trọng vào mùa Xuân, tức Xuân Kì và vào mùa Thu, tức Thu Báo (1); đang khi đó Hội vẫn tổ chức hát cúng vào dịp Tết Thanh Minh như trước.

Đặc biệt từ năm Đinh Sửu 1937, là năm có lễ khánh thành Lăng Miếu vừa mới trùng tu xong, Hội tổ chức tế lễ và hát cúng tới 2 kì mỗi năm.

Kể từ năm Tân Tị 1941, để giảm bớt tổn phí và để làm nổi bật húy nhật của Đức Thượng Công, Hội đã bãi bỏ lệ hát cúng và tế lễ vào ngày Tết Thanh Minh và quyết định coi ngày lễ giỗ Đức Thượng Công là ngày đại lễ chính thức và quan trọng nhất trong lịch lễ hàng năm, bắt đầu từ ngày cuối cùng của tháng 7 Âm lịch, kéo dài hết 3 ngày kế tiếp.

Sau đây là những gì chúng tôi ghi nhận được trong trong 2 kì lễ giỗ Đức Thượng Công tại Lăng Ông Bà Chiểu vào các năm Nhâm Tí 1972 và đặc biệt là năm Qúy Sửu 1973.

 

A.CHƯƠNG TRÌNH LỄ GIỖ ĐỨC THƯƠNG CÔNG: Tế lễ và hát cúng từ ngày 27.8.1973 tới 31.8.1973.

*  Ngày thứ hai 29.7 năm Qúy Sửu (27.8.1973):

7g - 19g30 : Bá tánh chiêm bái Đức Thượng Công và xin xâm tại Tây Điện.

9g30  : Đại lễ tế Đức Thượng Công: Diên Túc Yết. Nhac lễ cổ truyền.

18g   : 1/ Lễ xây chầu (Đại bội)

 2/ Hát Sơ Cổ, Tuồng: Trương Phi Thủ Cổ Thành (khởi sự từ Tào

 Tháo dâng cẩm bào).

*  Ngày thứ ba mồng 01 tháng 8 năm Qúy Sửu (28.8.1973):

7g - 19g : Bá tánh chiêm bái Đức Thượng Công và xin xâm tại Tây Điện.

9g    : Đại lễ tế Đức Thượng Công: Diên Tế Đoàn Cả. Nhạc lễ cổ truyền.

15g : Hát tuồng:

- Mộc Quế Anh Dưng Cây (lớp nhập viên môn xin tội).

- Huê Dung Đạo.

*  Ngày thứ tư mồng 2 tháng 8 năm Qúy Sửu (29.8.73):

 7g – 19g : Bá tánh chiêm bái Đức Thượng Công và xin xâm tại Tây Điện.

 11g : Lễ cúng các chiến sĩ (tại Sân Thiên Tỉnh).

 15g : Hát tuồng:

 - Tống Tửu Đơn Hùng Tín

- Lưu Kim Đính Giải Giá Thọ Châu (từ lớp biệt lão).

*  Ngày thứ năm mồng 3 tháng 8 năm Qúy Sửu (30.8.1973):

 7g – 19g : Bá tánh chiêm bái Đức Thượng Công và xin xâm tại Tây Điện.

 10g : Lễ cúng Tiền Hiền và hội viên quá vãng tại Phòng Khánh Tiết.

 15g : Hát tuồng:

  - Ngọc Huỳnh Lân Phó Hội

 - San Hậu (Tôn Vương)

 - Hồi chầu

* Ngày thứ sáu mồng 4 tháng 8 năm Qúy Sửu (31.8.1973):

 15g : Hát cúng thêm Cánh Tay Vương Tá (2).

 

Đặc biệt, nhân dịp lễ giỗ Đức Thưọng Công năm nay (Qúy Sửu, 1973), Hội Thượng Công Qúy Tế còn cử hành rất long trọng Lễ Lạc Thành (lễ khánh thành) phần Chánh Điện Nới Rộng vừa xây dựng xong. Đây là Lễ Lạc Thành lần thứ ba kể từ ngày lập Hội. Lễ Lạc Thành năm nay diễn ra ngày Chủ nhật 26.8.1973 ( tức ngày 28 tháng Bảy Qúy Sửu) và được đặt dưới sự chủ tọa của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa Trần Thiện Khiêm. Vì Lễ Lạc Thành là lễ xẩy ra bất thường, rất lâu mới có một lần cho nên chúng tôi không đề cập tới trong bài này.

 

B.  PHÂN CÔNG TỔNG QUÁT: Các công tác trong kĩ lễ giỗ Đức Thượng Công đều do các Tiểu Ban đảm nhiệm. Theo Điều V Nội Quy của Hội Thượng Công Qúy Tế, các Tiểu Ban gồm có:

- Ban Tổ Chức và Trật Tự

- Ban Tế Lễ

- Ban Hát Bội

- Ban Tiếp Tân

- Ban Phụ Nữ

Nội Quy của Hội quy định như thế, nhưng ghi nhận thực tế việc phân công của Hội Thượng Công Qúy Tế trong kì lễ giỗ năm 1973 có tăng cường thêm nhiếu Tiếu Ban khác nữa:

- Ban Tổ Chức

- Ban Nội Vụ

- Ban Tiếp Liệu

- Ban Tài Chánh

- Ban Hát Cổ

- Ban Tế Lễ

- Ban Tiếp Tân

- Ban Trật Tự

- Ban Trang Hoàng

- Ban Tiếp Lễ

- Ban Chưng Chế

Theo bảng phân công này, có 2 điểm cần ghi nhận: Một là, thay vì có 5 Tiểu Ban như Nội Quy quy định, Hội đã đặt thêm tới 6 Tiểu Ban (Ban Nội Vụ, Ban Tiếp Liệu, Ban Tài Chánh, Ban Trang Hoàng, Ban Tiếp Lễ và Ban Chưng Chế). Hai là, rõ ràng Nội Quy điều V quy định có Tiểu Ban Phụ Nữ, nhưng trong bảng phân công lễ giỗ năm nay (1973), không thấy Tiểu Ban Phụ Nữ. Thế nhưng khi tìm hiểu trên thực tế vẫn có Ban Phụ Nữ, mặc dù không ghi trên giấy. Ban Phụ Nữ còn gọi là Ban Trù Phòng là ban lo việc dọn cỗ bàn, bếp nước. Tiểu Ban này do 5 bà phụ trách. Các bà không phải là hội viên Hội Thượng Công Qúy Tế. Họ chỉ tình nguyện làm công quả. Giúp việc các bà còn có những phụ nữ là con em của các hội viên, cũng tình nguyện giúp đỡ.

 

C. PHÂN CÔNG BAN TẾ LỄ: Chủ đích bài này muốn tìm hiểu về lễ hội, đặt trọng tâm về tín ngưỡng, cho nên chúng tôi xin trình bầy chi tiết hơn về việc phân công của Ban Tế Lễ.

Ban Tế Lễ cần những người có thành thạo nghi lễ và cả những đức tính riêng nữa mới có thể đảm trách việc tế tự chu đáo, nghiêm cẩn, tốt đẹp được. Vì thế Ông Trưởng Ban (Bùi Hữu Hạnh) mới đưa ra một bảng phân công tỉ mỉ cho Tiểu Ban Tế Lễ như sau:

1. Ban Tế Lễ:

- Niệm hương và khai tràng : Ông Huỳnh Công Thạnh

- Trưởng Ban Tế Lễ : Ông Bùi Hữu Hạnh

- Chánh tế : Ông Nguyễn Văn Ngay

- Bồi tế : Ông Huỳnh Công Danh

- Đông hiến : Ông Nguyễn Văn Nam

- Tây hiến : Ông Nguyễn Ảnh A

2. Ban Chấp Sự:

 - Cổ lịnh  : Ông Đỗ Văn Rỡ

 - Minh chinh : Ông Trương Phú Qúy

 - Đại cổ : Trần Văn Đắc

3. Thị Lập Chánh Điện: 4 vị đứng hầu trên Chánh Điện: Trần Văn Triệu,

 Nguyễn Văn Hải, Trần Văn Kim, Trương Văn Mực.

4. Thị Lập Tả Ban: 1 vị đứng hầu bên Tả Ban: Lê Văn Tùng.

5. Thị lập Hữu Ban: 1 vị đứng hầu bên Hữu Ban: Lê Văn Đạt.

6. Thị Lập Tây Điện: 4 vị đứng hầu tại Tây Điện: Hồ Ngọc Thố, Lương

 Văn Huê, Hồ Văn Tồn, Tôn Thất Hân.

7. Ban Tế Lễ Tiền Hiền: 1 niệm hương,: Ông Nguyễn Kim Kỳ; 1 chánh tế: Ông

 Lê Văn Mi; 1 bồi tế: Ông Nguyễn Văn Nam và 2 thị lập: Lê Văn Đạt, Nguyễn

 Tấn Bửu.

8. Hầu bàn trong lúc xây chầu: các vị trong Ban Tế Lễ hiện diện

9. Rước phẩm vật của Tam Hiền dâng cúng Đức Thượng Công: 2 vị

10. Rước hiến thọ của Bát Tiên dâng cúng Lệnh Ngài: 4 vị

11. Rước Liễn Gia Quan Tấn Tước: 4 vị

12. Rước ấn kiếm dâng lên Đức Thượng Công sau Lễ Hồi Chầu: 2 vị: Huỳnh

 Công Thạnh, Nguyễn Văn Ngay.

13. Phụ tá Ban Tế Lễ: 4 vị: Trần Văn Lương, Nguyễn Trung Thu, Nguyễn Văn

 Nam, Lê Văn Đạt.

Ngoài các vị phụ trách chính thức trên đây, Hội Thượng Công Qúy Tế còn thuê một số người phụ trách phần chuyên môn và đóng các vai phụ sau đây:

1.Thầy lễ: Là người trông coi tổng quát về lễ nhạc và đọc văn tế.

2.Lễ sanh: Còn gọi là trò lễ, là những giữ vai phụ thuộc trong các diên tế. Tại  

 Lăng Ông, diên tế Túc Yết có tới 8 lễ sanh (3), giữ các nhiệm vụ như sau:

- Một cặp xướng:  1 Đông xướng và một Tây xướng

- Một cặp đi đăng:  Tức là 2 lễ sanh cầm đèn cầy (nến loại lớn cắm trên  

 trụ cao).

- Một cặp đi đài: Tức là 2 lễ sanh bưng khay rượu và các li rượu.

- Một cặp xướng phụ: Một tại Hữu Ban và một tại Tả Ban.

 

3. Ban cổ nhạc: Gồm các nhạc công xử dụng cnhạc khí cổ truyền. Tại Lăng Ông, trong mấy năm qua, Ban cổ nhạc của Ông Hai ‘tò le’ ở Gò Vấp được mời tới phụ trách phần nhạc lễ. Ban nhạc này gồm 6 nhạc công, thay phiên nhau chơi 10 nhạc khí khác nhau, như: kèn thao, đàn gáo, đàn cò, trống cơm, bạc, đẩu, tum, đàn sến, trống, đồng lố.

4. Đào thài: Là các cô đào trong Ban Hát Bội được thuê riêng để hát theo các điệu chúc trong các diên tế (4).

5. Lính hầu: Là những cậu bé hóa trang thành lính hầu hai bên bàn thờ Đức Thượng Công tại Chánh Điện trong mỗi diên tế. Trong kì lễ giỗ năm Qúy Sửu, Ban Tế Lễ đã xử dụng 4 lính hầu tại Chánh Điện. Các cậu khoảng 15 tuổi, bận y phục lính thú xưa: áo nẹp, nón dấu, đầu chít khăn đỏ, mặt tô son phấn.

 

D. LỄ PHỤC VÀ PHÙ HIỆU:

1. Các hội viên: Các hội viên tham dự lễ phải đeo phù hiệu của Hội Thượng Công Qúy Tế. Mỗi vị thuộc Tiểu Ban nào còn đính vào áo một miếng vải màu sắc khác nhau để dễ nhận ra: Ban Tổ Chức và Trật Tự: màu đỏ; Ban Tiếp Tân: màu vàng; Ban Tiếp Lễ và Hát Cổ: màu xanh dương; Ban Phụ Nữ: màu hường.

Ngoài ra, các hội viên còn được yêu cầu mặc quốc phục hoặc Âu phục chỉnh tề trong suốt kì lễ giỗ Đức Thượng Công.

2. Ban Tế Lễ:

- Ban Tế Lễ: mặc áo thụng, khăn xếp, vớ trắng.

- Các vị thị lập: mặc quốc phục, khăn xếp.

- Các chấp sự viên: quốc phục, khăn xếp.

- Lễ sanh: Lễ phục của các lễ sanh nổi bật nhất: áo rộng, dài, màu xanh dương. Cổ và tay áo đánh đai màu vàng, rộng khoảng 2 phân có thêu hoa lá bằng chỉ xanh lá cây. Tay áo nối dài ra bằng vải đỏ khoảng 2 tấc che kín bàn tay. Lễ sanh đội mũ tú tài màu đen, được trang trí những nút cúc bạc và các đường vòng tròn màu vàng, trắng và xanh lá mạ. Phía sau mũ có 2 cái giải nửa đỏ nửa đen và được trang trí mĩ thuật, dài 0m50. Ở đuôi giải bịt chì để giải mũ luôn thẳng đứng. Quần của lễ sanh màu trắng cà phê sữa, bên ngoài cuốn thêm một cái củng màu vàng già có sọc đen to khoảng 1 phân. Trên sọc có thêu những cành hoa đỏ, lá xanh. Lễ sanh mang hia màu đen, mũi nhọn, mỏng và cong lên. Ống hia trên mắt cá chân, có những đường chỉ trắng. Đế giầy cũng màu trắng.

 

C. QUANG CẢNH NGÀY ĐẠI LỄ:

 

Lễ giỗ Đức Thượng Công năm nào cũng được tổ chức rất linh đình, đặc biệt kì lễ giỗ năm nay, Qúy Sửu 1973, Hội Thượng Công Qúy Tế còn mở thêm Lễ Lạc Thành để khánh thành Chánh Điện Nới Rộng vừa xây cất xong, khiến cho kì đại lễ càng thêm long trọng.

Tuy công tác xây cất Chánh Điện Nới Rộng còn bề bộn cho tới phút chót để kịp Lễ Lạc Thành ngày 28 tháng 7 Qúy Sửu (26.8.1973), nhưng nhờ sự tổ chức phân công chu đáo, Ban Quản Trị vẫn tiến hành chương trình đại lễ một cách hết sức tốt đẹp.

Từ một tuần lễ trước, khung cảnh Lăng Miếu đã nhộn nhịp khác thường: hàng chục gia nhân Lăng Miếu bắt đầu dựng các cột cắm cờ quốc gia dọc hai bên lối đi chính từ Cửa Tam Quan dẫn vào Miếu thờ. Khắp khuôn viên treo hàng trăm bóng đèn đủ màu sắc làm cho Lăng Miếu về đêm nổi bật lên rực rỡ, lôi cuốn sự chú ý của dân chúng có dịp đi ngang qua. Trên cột cờ trước phần mộ Đức Thượng Công và Phu nhân Ngài treo cờ hiệu của Lăng Miếu. Cờ hiệu hình vuông, khổ 2m x 2m. Hai bên có 2 giải dài chấm đất. Chung quanh lá cờ: ngoài cùng là đường viền màu xanh dương hình răng cưa, kế là đường viền màu vàng. Phần nền ở giữa màu đỏ, thêu 4 đại tự Lê Công Miếu Kì (chữ Nho).

Để đáp ứng nhu cầu mùa đại lễ, Hội đã có sẵn 2 mẫu nhà tiền chế, cột và vách đều bằng gỗ sơn son thiếp vàng cho tương xứng với ngôi cổ miếu. Một căn dựng tại Sân Nhang Đèn, nối liền với Nhà Hương, có thể coi như Võ Ca tại các đình làng. Căn nhà này chia làm hai phần: nửa ngoài biến chế thành buồng cho ‘Ban Hát ở sắm sửa mà ra tuồng’ (5); nửa trong dính liền với Nhà Hương, dùng làm sân khấu hát bội. Căn nhà tiền chế thứ hai dựng sát vào Tây Lang 1 và nối liền với Tây Điện. Căn này không có tường vách, ở trong kê nhiều bàn dùng làm chỗ cho bá tánh đặt lễ vật cúng kiếng. Lúc này, Nhà Hương, Tây Lang 1 và Đông Lang 1 đều đã biến thành một ‘nhà hát’ khá rộng lớn cho hàng trăm quan khách ngồi coi hát cúng. Sân khấu hát cúng được trang hoàng các màn trướng màu sắc rực rỡ và thêu thùa công phu, mĩ thuật. Khắp nơi trong miếu thờ đều đã chưng dọn ngăn nắp sạch sẽ. Trên các bàn thờ, khói hương nghi ngút không lúc nào ngớt.

Thứ hai, ngày 29 tháng 7 Qúy Sửu (27.8.1973) là ngày đầu tiên trong kì lễ giỗ Đức Thượng Công. Ngay từ 7 giờ sáng, khách thập phương, trong y phục chỉnh tề, đang lũ lượt tiến qua Cửa Tam Quan và các cửa phụ để vào chiêm bái Đức Thượng Công. Trong khuôn viên, có một số cảnh sát viên làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự và trên thềm Phòng Khánh Tiết, một số hội viên đứng chờ để đón tiếp quan khách. Khác với ngày thường, hôm nay, trong khuôn viên Lăng Miếu không có bóng dáng các người hành khất, các thợ chụp hình và các thầy bói số. Tất cả những người tới đây hôm nay đều là khách thiện tín đi trẩy lễ, đa số là phụ nữ, một nửa là người Việt gốc Hoa. Hết thảy đều giữ thái độ trang nghiêm, thành tín. Song từ nhiều năm nay, cứ tới giờ tế lễ và hát cúng, bá tánh thập phương không được phép tự do vào bên trong miếu, chỉ có các quan khách được Hội gửi giấy mời chính thức mới được tham dự, bá tánh thập phương phải chen nhau vào lễ bái tại Tây Điện hoặc phải đứng bên ngoài, hướng vào miếu thờ mà vái lậy, hoặc là nối tiếp nhau ra khấn vái tại ngôi mộ ‘song hồn’ và cung kính thắp nhang đèn, đốt giấy tiền vàng mã tại Sân Nhang Đèn.

Tới 8 giờ sáng, quan khách và các hội viên Hội Thuợng Công Qúy Tế đã tề tựu đông đủ, lễ tế Túc Yết bắt đầu cử hành.

 


 

* Trần Vinh

 

 

 

CHÚ THÍCH:

 

(1) Theo cụ Huỳnh Công Thạnh, đương nhiệm Hội trưởng Hội Thượng Công Qúy Tế, thì mỗi năm có 2 kì lễ tế lớn: Xuân Kì và Thu Báo. Vào mùa Xuân, dân làng thường làm lễ Kì Yên, mục đích để cầu an, gọi là Xuân Kì. Mùa Thu là mùa gặt hái, dân làng làm lễ tạ ơn, gọi là Thu Báo. (Huỳnh Công Thạnh. Quan Hôn Tang Tế. Bản in ronéo do Hội Thượng Công Qúy Tế ấn hành, 1972. Trang 36).

 

(2) Hát cúng thêm là một biệt lệ, không phải năm nào cũng có. Theo thông lệ, chương trình hát cúng tới Hồi Chầu là hết, nhưng nếu có ai khấn nguyện với Đức Thượng Công điều gì thì xin phép Ban Quản Trị và bỏ tiền ra thuê gánh hát diễn thêm một thứ hát nữa. Do đó gọi thứ hát thêm là ‘hoàn nguyện’. Nghĩa là trả ơn lời nguyện. Năm nay, ông Trần Văn Kiện, Kiểm soát viên trong Ban Quản Trị 1973 – 1975 đã bỏ ra 50 ngàn đồng để thuê hát ‘hoàn nguyện’.

 

(3) Diên tế Đoàn Cả long trọng hơn, có tới 12 lễ sanh, tức là thêm vào một cặp đi đăng và một cặp đi đài.

 

(4) ‘Thài’ là ‘ca theo điệu chúc’ (Huỳnh Tịnh Của. Đại Nam Quốc Âm Tự Vị. Quyển I I. Sài Gòn, 1896. Trang 358.

 

(5) Trương Vĩnh Ký. Théatres, Comédies, Chants Chansons Annamites Hát, Lý, Hò Annam, Cours aux élèves annamites. Sàigòn, 1886, p.9.

Tác giả: Trần Vinh
   dunglac@gmail.com