Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Vinh
Bài Viết Của
Trần Vinh
Nghi thức tế lễ : túc yết và đoàn cả (bài 9)
Việc cúng tế trong các dịp lễ tại Lăng Ông Bà Chiều
Linh Mục An-tôn Trần Văn Kiệm: nhà văn hóa, bạn vong niên của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm
Viết i hay y: Chia Sẻ Với Lm. Nguyễn Ngọc Huỳnh
Bản Nhạc Cổ Điển
Nhân Đọc Bài Mục Vụ Văn Hóa Tại Giáo Xứ Việt Nam ở Paris:
Tương Quan Giữa Tin Mừng Chúa Kitô và Những Giá Trị Tín Ngưỡng, Tôn Giáo, Phong Tục Tập Quán Cố Hữu của Người Việt Nam
Tục lệ xin xâm, xin keo tại Lăng Ông Bà Chiểu. (bài 7)
Nghệ Thuật Trang Trí tại Lăng Ông Bà Chiểu.(bài 5)
Việc thờ cúng ngày thường tại Lăng Ông Bà Chiểu (bài 6)
Iran điểm nóng mới trên thế giới
Tín ngưỡng thờ cúng các Danh Nhân và Anh Hùng Dân Tộc của người Việt Nam.
Vinh danh Phụ Nữ Việt Nam.
NGHI THỨC TẾ LỄ : TÚC YẾT VÀ ĐOÀN CẢ (BÀI 9)

 
 
 
 

 
Tế lễ là cuộc dâng lễ vật một cách long trọng lên những vị Thần lớn như: Trời, Đất, Mùa Màng, Đức Khổng Phu Tử, Đức Thánh Trần, các vị Thần Thành Hoàng của làng xã…

 

Tế lễ có 2 điểm khác với khấn và cúng. Tế lễ có tính cách tập thể. Tập thể ở đây có thể là quốc gia, có thể là một cộng đồng dân xã hay một đoàn hội. Tế lễ còn được tổ chức một cách trọng thể với cờ xí, nhạc lễ và phẩm phục. Phẩm vật tế lễ là vật tam sinh: bò, dê, heo.

 

Mỗi buổi tế gọi là một diên tế. Thông thường có 2 diên tế: Túc Yết và Đoàn Cả (có khi đọc trại đi là Đàn Cả).

 

Túc: Đêm (trực túc: gác đêm); yết: ra mắt. Túc Yết là ‘Lễ hương chức làng dâng lễ ra mắt các vị Thần trong lúc Kỳ Yên’ (1). Như thế, chính ra diên tế Túc Yết phải cử hành về đêm hay ít ra là vào buổi chiều (2). Hiện nay, tại Lăng Ông Bà Chiểu, diên tế Túc Yết được cử hành vào buổi sáng, có lẽ là vì lí do an ninh cũng như để quan khách từ xa có thể tới tham dự được.

 

Đoàn: một đám người đông đảo. Cả: lớn, đông. Đoàn Cả là sự tề tựu đông đủ dân làng và khách thiện tín để tế lễ Thần. Đoàn Cả là diên tế chính trong dịp lễ Kì Yên tại các đình làng cũng như trong lễ giỗ của các miếu thờ Thần. Học giả Huỳnh Tịnh Của viết: ‘chính lễ tế thần, nhằm ngày thứ hai. Phép Kỳ Yên rồi qua ngày sau thì Đoàn Cả’ (3).

 

Mỗi diên tế Túc Yết hay Đoàn Cả gồm có các nghi thức tuần tự như sau:

 

- Kiểm soát lễ vật

 

- Khởi cổ lệnh, khởi minh chinh, khởi cổ và tác nhạc

 

- Tuần dâng hương

 

- Tuần rượu thứ nhất

 

- Đọc văn tế

 

- Tuần rượu thứ hai

 

- Tuần rượu thứ ba

 

- Hiến quả phẩm

 

- Hiến bỉnh

 

- Tuần trà

 

- Ẩm phước (diên Túc Yết không có phần này)

 

- Lễ hoá văn tế

 

Chúng tôi đã được đọc 6 tài liệu viết về lễ tế cỗ truyền gồm có 3 tài liệu tế lễ theo tục lệ miền Bắc của các vị Toan Ánh (4), Nguyễn Đăng Thục (5) và Chu Thiên (6); 2 tài liệu tế lễ theo tục lệ Miền Nam của các vị Huỳnh Công Thạnh (7) và Nguyễn Long Thao (8); 1 tài liệu về lễ tế Đàn Nam Giao của L. Cadière (9). Tất cả các tài liệu trên đây giống nhau ở các phần chính, chỉ khác nhau ở những chi tiết nhỏ. Và tất cả, dù có tham dự nghi lễ hay không, nhưng dường như đều dùng cách viết tham khảo tài liệu nhiều hơn cách viết ghi nhận do tham dự trực tiếp. Ngoại trừ công trình của L. Cadière viết rất chi tiết và sống động, giúp cho được dễ dàng hơn nếu muốn học hỏi về nghi thức tế lễ. Theo gương L.Cadière, chúng tôi đã tham dự nghi thức tế lễ cử hành tại Lăng Ông Bà Chiểu từ ngày 29 tháng 7 (27.8.1973) tới ngày mồng 04 tháng 8 Qúy Sửu (31.8.1973) và cố gắng ghi lại thật chi tiết và linh động như có thể.

 

 

 

I. NGHI THỨC TẾ TÚC YẾT

 

 

 

Đúng 9g30 sáng ngày 29 tháng 7 Qúy Sửu (27.8.1973), Ông Hội trưởng Huỳnh Công Thạnh đích thân nổi 3 hồi trống và bồi thêm 3 tiếng nữa, có chiêng phụ họa, báo giờ hành lễ đã điểm. Tiếp theo, Ông Chánh niệm hương (cũng chính là Ông Hội trưởng), cùng các ông Trưởng Ban Tế Lễ, Chánh Tế, Bồi Tế, Đông Hiến, Tây Hiến, các ông trong Ban Chấp Sự, các lễ sanh (trò lễ) và các nhạc công khăn áo chỉnh tề, từ phía Tây Lang tiến lên Chánh Điện theo lối phía Đông. Tại Chánh Điện, các vị lần lượt vào giữa lễ 3 lễ. Khi xuống, đoàn hành lễ đi theo lối phía Tây.

 

Các hội viên khác đứng nghiêm trang theo hàng từ Chánh Điện ra tới Bàn Nghi phía Sân Thiên Tỉnh 1. Hội viên bận quốc phục đứng bên hữu, hội viên bận Âu phục đứng bên tả. Để cho diên tế được thêm phần long trọng, các vị này phải đứng hầu đàn như thế trọn buổi lễ.

 

 

 

A. KIỂM SOÁT LỄ VẬT

 

Khởi đầu, viên Tây xướng khum hai tay, đưa lên ngang trán và xướng lớn tiếng:

 

- Tịnh túc thị lập (xin giữ yên lặng). Tất cả yên lặng như tờ. Tiếp theo là viên Đông xướng:

 

- Bài ban ban tề (ai ở vị trí nấy)

 

Đông xướng:

 

- Chánh Tế tựu vị: Chánh Tế bước ra đứng ở cuối chiếu trước Bàn Hội Đồng.

 

Tây xướng:

 

- Bồi Tế tựu vị: Bồi Tế bước ra đứng ngay bên tay mặt của Chánh Tế.

 

Tây xướng:

 

- Củ sát tế phẩm (kiểm soát lễ vật): Mỗi bên có một lễ sanh (trò lễ) đi đăng, cầm cây  

 

nến lớn bằng cườm tay cắm trên trụ nến bằng đồng, đi lên gần sát hai viên Đông và  Tây xướng, ngó nghiêng về phía hai viên Chánh Tế và Bồi Tế mà cúi chào. 2 vị cũng cúi đầu đáp lễ. 2 lễ sanh trao cho Chánh Tế và Bồi Tế mỗi vị một cây nến nhỏ màu đỏ vừa mồi lửa, rồi 2 vị đi theo hai lễ sanh tiến lên Chánh Điện. Tại Chánh Điện, mỗi vị đi với một lễ sanh để kiểm soát các lễ vật xem có đầy đủ và tinh khiết không. Xong thủ tục. Tất cả đi trở xuống trước Bàn Hội Đồng. 2 lễ sanh cúi chào nhẹ nhàng và trở về Bàn Nghi phía sau nữa.

 

Tây xướng:

 

- Chánh Tế, Bồi Tế lễ nhượng: 2 vị cung tay xá rồi lui ra.

 

 

 

B. KHỞI CỔ LỆNH, KHỞI MINH CHINH, KHỞI CỔ VÀ TÁC NHẠC

 

Mục đích là để thỉnh mời chư vị Thần ngự về chứng lễ. Trước khi hành sự, các viên chấp sự phải ‘quán tẩy và chỉnh y quan’ để được trong sạch tề chỉnh, xứng đáng cử hành nghi lễ.

 

Tây xướng:

 

- Chấp sự viên tựu vị: 3 vị Chấp sự viên khoan thai bước vào chiếu, đứng hàng dọc trước Bàn Hội Đồng (10).

 

Đông xướng:

 

-Nghệ quán tẩy sở: Sau khi xướng, viên Đông xướng đi ngược kim đồng hồ, vòng theo mép chiếu để dẫn các vị Chấp sự ra phía Đông, chỗ để thau nước, vừa đi vừa khúm núm, hai tay đan nhau. Tay áo có 2 miếng vải đỏ thả dài xuống che hết cả bàn tay. Thau nước để trên giá, kèm theo cái khăn lau tay màu đỏ. Tới nơi, viên Đông xướng cung tay xướng lớn:

 

- Quán tẩy: Lần lượt mỗi vị Chấp sự thò tay vào thau nước rồi đưa lên mặt như để lau rửa.

 

- Thuế cân: Lấy khăn đỏ trên giá mà lau mặt.

 

- Chỉnh y quan: Sửa lại khăn áo cho tề chỉnh.

 

- Phục vị: Xướng xong, viên Đông xướng dẫn các Chấp sự viên trở lại chỗ cũ, đi theo đường vòng ngược kim đồng hồ.

 

Đông xướng:

 

- Chấp sự viên chấp tiên cổ: Các Chấp sự viên đứng trước Bàn Hội Đồng và được lễ sanh trao cho mỗi vị một cái dùi chiêng, trống.

 

Đông xướng:

 

- Chấp sự viên giả các tư kì sự: Các viên Chấp sự trở về vị trí của mình và chuẩn bị khởi chiêng trống.

 

Tây xướng:

 

- Khởi cổ lịnh: Viên Chấp sự thứ nhất (Ông Đốc phủ Đỗ Văn Rỡ), đang đứng bên tả Bàn Hội Đồng, dở tấm vài đỏ che mặt trống lệnh (lịnh cổ, tức trống nhỏ, còn gọi trống khẩu), lau sơ qua mặt trống rồi khởi sự đánh 3 hồi thật chậm. Sau đó hô to: ‘Troàn (truyền) áp hầu’; có tiếng ‘dạ’. Từ dưới có 2 thiếu niên mặc đồ lính thú, nón dấu, cầm gươm tiến lên đứng hai bên bàn thờ, day mặt xuống phía dưới. Cuối cùng, Chấp sự viên bồi thêm 9 tiếng trống, chia làm 3, mỗi lần đánh 3 tiếng.

 

Đông xướng:

 

- Khởi minh chinh: Viên Chấp sự đứng bên phía Tả Ban dở tấm khăn đỏ phủ chiêng ra, lau qua vài lần, rồi khởi sự đánh 3 hồi chiêng dài. Trên gía chiêng thắp sáng một đèn cầy nhỏ màu đỏ.

 

Tây xướng:

 

- Khởi cổ: Viên Chấp sự bên phía Hữu Ban, dở tấm vải đỏ che đại cổ (trống lớn) ra, lau qua vài lần, rồi khởi sự đánh 3 hồi dài. Trên giá trống cũng thắp sáng một cây đèn cầy nhỏ màu đỏ.

 

Tây xướng:

 

- Cổ lịnh, minh chinh tề thinh: Cổ lệnh đánh 3 tiếng; tiếp theo chiêng đánh 3 tiếng.

 

Đông xướng:

 

- Nhạc sanh tựu vị: 2 nhạc sanh kê hai cái trống để trên giá 3 chân ra gần Bàn Hội Đồng. cạnh mỗi trống thắp sáng một cây đèn cầy nhỏ màu đỏ. 2 nhạc sanh dở tấm vải phủ trống, lau qua vài lần. Khi nghe Tây xướng :

 

- Nhạc tác nhạc: 2 nhạc sanh khởi sự dạm nhẹ mặt trống rồi đổ dồn thành hồi. Tiếp theo cả ban nhạc hòa tấu 3 hồi 9 chập (tam liên cửu chuyển) để nghênh đón Thần. Sau khi tấu nhạc dài khoảng 5 phút thì Tây xướng:

 

- Nhạc sanh hườn cố vị: 2 nhạc sanh thủ trống tắt đèn cầy và đưa trống trở lại vị trí của ban nhạc.

 

Trong khi lễ nghi đang diễn ra trang nghiêm trong Miếu thờ, các quan khách ngồi phía dưới theo dõi còn các hội viên phải đứng; ngoài sân, bá tánh tiếp tục lũ lượt chen nhau lễ bái. Nhiều khách thiện tín theo dõi các nghi thức từ khe các cửa song sắt. Có người chắp tay hướng vào Chánh Điện mà xá nhiều lần.

 

 

 

 

 

C. TUẦN HƯƠNG

 

Trước khi hành lễ, các vị trong Ban Tế Lễ cũng phải ‘quán tẩy và chỉnh y quan’ để được trong sạch và tề chỉnh.

 

Tây xướng:

 

- Chánh niệm hương tựu vị: Chánh niệm hương (lần này là ông Hội trưởng Huỳnh Công Thạnh) mặc áo thụng cổ truyền màu xanh dương, tay áo rộng, vớ trắng, trang nghiêm bước vào trước Bàn Hội Đồng.

 

Đông xướng:

 

- Nghệ quán tẩy sở: Viên Đông xướng cúi đầu xá nhẹ để ra hiệu mời, rồi đi ngược kim đồng hồ dẫn đường đưa ông Ông Chánh niệm hương ra phía hữu, nơi để thau nước.

 

Đông xướng:

 

- Quán tẩy: Chánh niệm hương làm đông tác rửa mặt.

 

- Thuế cân: Chánh niệm hương lau mặt.

 

- Chỉnh y quan: Chánh niệm hương sửa lại khăn áo.

 

- Phục vị: Viên Đông xướng xá nhẹ ra hiệu, rồi vum tay phía trước, đi khúm núm để dẫn đường đưa Ông Chánh niệm hương về chỗ cũ.

 

Tây xướng:

 

- Qụy: Chánh niệm hương qùy xuống.

 

- Phần hương: Viên Đông xướng trao cho Ông Chánh niệm hương 3 que hương lớn đã đốt sẵn.

 

- Niệm hương: Chánh niệm hương lâm râm khấn nguyện.

 

- Thượng hương: Chánh niệm hương xá nhẹ rồi trao 3 que hương cho lễ sanh đem lên cắm ở bàn thờ Chánh Điện.

 

Đông xướng:

 

- Phủ phục hưng bình thân: Chánh niệm hương đứng dậy.

 

- Nghinh Thượng Công cúc cung bái: Chánh niệm hương phục lậy một lậy. - Hưng: Đứng dậy.

 

- Bái: Phục lậy.

 

- Hưng: Đứng dậy.

 

- Bái : Phục lậy.

 

- Hưng: Đứng dậy.

 

- Bái: Phục lậy.

 

Đang khi đó Ban cổ nhạc tấu dồn hồi, mau và mạnh.

 

- Hưng bình thân: Chánh niệm hương đứng dậy.

 

- Tiểu thối: Chánh niệm hương lui ra, đứng phía hữu.

 

Tây xướng:

 

- Chánh tế tựu vị: Chánh tế (Ông Nguyễn Văn Ngay) bước vào đứng trước Bàn Hội Đồng.

 

- Bồi tế tưụ vị: Bồi tế (Ông Huỳnh Công Danh) bước vào đứng trước Bàn Hội Đồng.

 

- Đông hiến, Tây hiến đồng tưụ vị: Hai vị Đông hiến và Tây hiến (Ông Nguyễn Văn Nam và Nguyễn Ảnh A) cùng bước vào đứng trước Bàn Hội Đồng. Tất cả 4 vị đứng nghiêm trang theo hàng ngang.

 

Đông xướng:

 

- Nghệ quán tẩy sở: Viên Đông xướng đi ngược kim đồng hồ để dẫn 4 vị ra phía thau nước bên hữu.

 

Đông xướng:

 

- Quán tẩy: 4 vị lần lượt làm động tác rửa mặt.

 

- Thuế cân: Lau mặt.

 

- Chỉnh y quan: Sửa lại khăn áo.

 

- Phục vị: Viên Đông xướng hướng dẫn 4 vị đi theo hàng một để trở về vị trí cũ. Về tới nơi, viên Đông xướng xá nhẹ và 4 vị xá trả lễ.

 

Tây xướng:

 

- Đông, Tây các tư kì phận: Hai viên Đông và Tây hiến bước sang hai bên Hữu Ban và Tả Ban (hai vị Chánh Tế và Bồi Tế vẫn đứng tại vị trí cũ). Tới nơi, hai viên Đông và Tây hiến xá nhẹ rồi đứng nghiêm trang tại chỗ.

 

- Nghệ hương án tiền: Mỗi bên Bàn Hội Đồng có 2 lễ sanh tiến lên: trước là lễ sanh đi đăng, theo sau là lễ sanh đi đài. Đồng thời, tại Tả Ban và Hữu Ban cũng có mỗi bên một lễ sanh đi đăng và một lễ sanh đi đài tiến lên.

 

- Giai qụy: Tất cả đều qùy xuống, trừ ra các lễ sanh đi đăng vẫn đứng. Trước khi qùy, các lễ sanh đi đài ‘đá’ một chân lên cao trước khi qùy xuống.

 

- Phấn hương: Các ông Chánh Tế, Bồi Tế, Đông Hiến, Tây Hiến, mỗi vị cầm một thỏi hương đã đốt, đưa lên ngang trán.

 

- Niệm hương: Các vị lâm râm khấn nguyện.

 

- Thượng hương: Các vị xá nhẹ rồi bỏ thỏi hương vào đài hương do các lễ sanh đi đài cầm. Sau đó, các lễ sanh đi đài tự đứng lên và tất cả các lễ sanh đi giật lùi lại phía sau.

 

Lúc này 10 cô đào thài đã đứng thành 4 hàng dưới Sân Thiên Tỉnh, mặt tô son trét phấn rất đậm, đầu đội ‘bộ đồ đầu’, mặc ‘y’, vận ‘củng’ bên ngoài quần, chân đi hài. Tất cả đều được thêu thùa và dát đầy lân tinh óng ánh.

 

Tất cả đã chuẩn bị sẵn sang, thi Ban Cổ Nhạc trổi Bài Hạ giọng lễ nhịp nhàng, đoàn lễ sanh và đào thài bắt đầu rước lễ vật lên phía Chánh Điện. Lễ sanh đi đăng và lễ sanh đi đài dùng cả hai tay nâng gía đèn cầy và đài hương lên cao ngang trán. Đi đầu là lễ sanh đi đăng, sau là lễ sanh đi đài rồi tới đào thài. Các lễ sanh đi theo nhịp điệu của nhạc và nhún nhẩy nhịp nhàng theo chữ Tâm hết sức đẹp mắt. Bắt đầu là bước ‘kí để: chân trái đưa về phía sau nhún xuống, rồi đưa về phía trước ‘kí đá’ một cái, kéo chân về, co ngang đầu gối bên phải, rồi bỏ xuống đứng theo hình chữ Đinh viết ngược. Bước thứ hai bắt đầu bằng chân phải và cũng gồm có hai bước ‘kí để’ và ‘kí đá’. Cứ như thế mãi.

 

Đang khi Ban Cổ Nhạc chơi bài Nam Đảo hay Đảo Ngũ Cung (11) thì 10 cô đào thài đi sau cùng, tay trái mỗi cô cầm một cái đèn, tay phải cầm một cái quạt phe phẩy nhẹ nhàng từ trái sang phải (12) và cất cao giọng hát nhiều lần theo điệu Nam Xuân Dựng (trong Hát bội gọi là điệu Nghi Xuân Cấn Đảo) những lời như sau:

 

Hiến từng hương là hiến từng hương

 

Trầm đàng khói kết năm mây

 

Mùi hương thạnh nực bay bay chín trời.

 

Suốt trong thời gian rước hương lên Chánh Điện, các vị Chánh Tế, Bồi Tế và hai vị Đông Hiến, Tây Hiến qùy phục tại chỗ, hai tay chống xuống chiếu.

 

Khi lên tới Chánh Điện. lễ sanh đi đăng đứng sang một bên; lễ sanh đi đài tiến thẳng vào giữa bàn thờ, qùy xuống. Các viên thị lập cầm lấy bát hương đặt lên bàn thờ. Lễ sanh đi đài xá nhẹ một cái rồi tất cả theo thứ tự cũ mà đi xuống một cách tự nhiên.

 

Tây xướng:

 

- Phủ phục hưng bình thân: Chánh Tế , Bồi Tế đứng dậy.

 

- Tế Đức Thượng Công Cúc Cung Bái: Phục lậy một lậy.

 

- Hưng: Đứng dậy.

 

- Bái: Phục lậy.

 

- Hưng: Đứng dậy.

 

- Bái: Phục lậy.

 

- Hưng : Đứng dậy.

 

- Bái: Phục lậy.

 

Nhạc trổi dồn dập.

 

Tây xướng:

 

- Hưng bình thân: Tất cả đứng dậy.

 

Khi Chánh Tế, Bồi Tế bái lậy ngoài Bàn Hội Đồng thì các lễ sanh hai bên bàn Tả Ban, Hữu Ban lặp lại lời xướng và các vị Đông Hiến, Tây Hiến cũng đồng thời phủ phục hưng bình thân như các vị Chánh Tế, Bồi Tế.

 

 

 

D. LỄ DÂNG TUẦN RƯỢU THỨ NHẤT

 

Tây xướng:

 

- Hành sơ hiến lễ: Tức là lễ dâng tuần rượu đầu. Nghe xướng, 4 lễ sanh đi lên cách tự nhiên, đứng bên Bàn Hội Đồng: mỗi bên 2 lễ sanh, một đi đăng và một đi đài. Đồng thời 2 lễ sanh, một đi đăng và một đi đài tiến lên Hữu Ban và 2 lễ sanh khác tiến lên Tả Ban.

 

Đông xướng:

 

- Nghệ tửu tôn sở: Chánh Tế, Bồi Tế, Đông Hiến, Tây Hiến vẫn đứng tại chỗ. Các lễ sanh hơi khum lưng xuống, mỗi người bưng đài trên để cái li. Chánh Tế, Bồi Tế, Đông Hiến và Tây Hiến rót rượu vào li do các viên Đông xướng và Tây xướng trao cho. Rượu đựng trong các nhạo rượu (bình rượu) để sẵn trên Bàn Hội Đồng, bàn bên Hữu Ban và bàn bên Tả Ban.

 

- Chước tửu: Chánh Tế, Bồi Tế, Đông Hiến, Tây Hiến cầm lấy nhạo rượu, đưa lên cao, xá một cái rồi rót rượu vào khoảng nửa li. Đang khi đó, các viên chấp sự đánh chiêng, trống, cứ 3 tiếng một, hòa cùng Ban Cổ Nhạc.

 

Rót rượu xong, các lễ sanh đi giật lùi về phía sau và đứng nghiêm trang, tay nâng giá nến và đài rượu cao ngang trán.

 

- Nghệ Thượng Công vị tiền: Đông xướng và Tây xướng xá nhẹ làm hiệu mời Chánh Tế và Bồi Tế, rồi đi tự nhiên dẫn 2 vị lên chiếu trước bàn thờ Chánh Điện. Tới nơi, xá nhẹ Chánh Tế và Bồi Tế. Hai vị cũng xá để đáp lễ.

 

Khi nghe nhạc trổi lên thì 4 lễ sanh bắt đầu đi lên (chưa có đào thài), động tác cũng nhún nhảy theo chữ Tâm, nhưng đi mau hơn.

 

Đông xướng:

 

- Qụy: Chánh Tế và Bồi Tế qùy xuống. Tại Tả Ban và Hữu Ban, các vị Đông Hiến và Tây Hiến cũng qùy.

 

- Tấn tước: Chánh Tế , Bồi Tế bưng hai li rượu đưa lên ngang trán khấn nguyện, xá nhẹ một cái rồi bỏ vào đài rượu do 2 lễ sanh đi đài bưng.

 

- Châm tửu: Viên Đông xướng trao cho Chánh Tế nhạo rượu để rót thêm vào li cho đầy. Viên Tây xướng trao nhạo rượu cho Bồi Tế để rót đầy vào li.. Ở dưới Tà Ban và Hữu Ban, 2 vị Tây Hiến và Đông Hiến cũng ‘tấn tước’ và ‘châm tửu’.

 

- Hiến tước: Các lễ sanh bưng đài rượu đứng dậy, rồi theo thứ tự cũ, đi giật lùi về mãi sau. Các đào thài nhập vào hai hàng mỗi bên. Khi nghe nhạc trổi, cả 4 hàng tiến bước lên Chánh Điện. Động tác các lễ sanh nhún nhẩy theo chữ Tâm, còn đào thài phe phẩy chiếc quạt và ca nhiều lần bài sau đây:

 

Tấn tước lễ - lễ dâng sơ hiến

 

Hiến từng sơ là hiến từng sơ.

 

Tới nơi, các lễ sanh đi đăng đứng sang bên, nhường lối cho các lễ sanh đi đài tiến vào bàn thờ. Các lễ sanh đì đài qùy xuống để cho các viên thị lập bưng lấy các li rượu đặt lên bàn thờ. Sau đó, các lễ sanh đi đài xá nhẹ và lui về chỗ theo thứ tự cũ, rồi lần lượt các lễ sanh đi đăng, các lễ sanh đi đài và các đào thài trở về phía dưới. Cách đi thong thả tự nhiên.

 

- Phân hiến: Nghe xướng, các lễ sanh trở lên Chánh Điện, bưng các nhạo rượu đi khắp các bàn để rót thêm rượu vào li. Tới mỗi bàn, trước khi rót rượu, lễ sanh xá một cái; rót xong, lại xá rồi mới đi.

 

Trong suốt thời gian vừa qua, tại Chánh Điện, Chánh Tế, Bồi Tế qùy phục, hai tay chống xuống chiếu. Viên Đông Hiến tại Hữu Ban và viên Tây Hiến tại Tả Ban cũng qùy phục như thế.

 

- Phủ phục hưng bình thân: Chánh Tế, Bồi Tế, Đông Hiến, Tây Hiến đều đứng dây.

 

- Bái: Phục lậy.

 

- Hưng: Đứng dậy.

 

- Bái: Phục lậy.

 

Nhac đổ dồn, nhanh và mạnh.

 

- Hưng bình thân: Các vị đứng dậy.

 

- Phục vị: Đông xướng và Tây xướng Xá nhẹ để báo cho Chánh Tế và Bồi Tế; 2 vị xá đáp lễ, rồi Đông và Tây xướng đi trước dẫn đưa Chánh Tế và Bồi Tế về trước Bàn Hội Đồng, đi một cách tư nhiên. Về tới nơi, hai viên Đông xướng và Tây xướng lại xá chào và được dáp lễ.

 

Tây xướng:

 

- Chánh Tế, Bồi Tế lễ nhượng: Mỗi vị xá một xá rôi lui ra phía mép chiếu.

 

Bên bàn thờ Hữu Ban và Tả Ban cũng xướng: Đông Hiến, Tây Hiến lễ nhượng và cá vị đều lui ra đứng ở mép chiếu.

 

 Tới đây, từng đợt bốn hôi viên và quan khách được mời vào lậy mỗi người 4 lậy. Sau cùng là qúy bà làm công quả (13).

 

 

 

E. ĐỌC VĂN TẾ

 

Sau khi quan khách, Hội viên, qúy bà công quả và gia nhân bái lậy xong, nghi lễ tiếp  tục tới phần đọc văn tế.

 

Đông xướng:

 

- Chánh Tế, Bồi Tế, Đông Hiến, Tây Hiến phục vị: Chánh Tế và Bồi Tế trở lại trước Bàn Nghi còn Đông Hiến và Tây Hiến trở ra Hữu Ban và Tả Ban, .

 

- Nghệ độc chúc sở: Hai lễ sanh đi đăng cầm đèn cầy tiến lên Bàn Nghi. Thầy lễ (tức là thầy đọc văn tế Ngô Văn Chanh, 80 tuổi) mặc quốc phục, quần cháo lòng, đội khăn xếp bước vào đứng ở giữa.

 

Tây xướng:

 

- Giai qụy: Chánh Tế, Bồi Tế, Đông Hiến, Tây Hiến, Thầy lễ và các lễ sanh đi đăng đều qùy xuống. Chiêng trống, nhạc cũng ngừng để Thần Linh có thể nghe đọc văn tế.

 

- Độc chúc: Thầy lễ độc chúc bưng giá có đặt sẵn bài văn tế, trên phủ tấm vải đỏ, đem ra phía Đông Bàn Nghi (14), rồi từ từ mở tấm vải đỏ và bắt đầu đọc văn tế giọng ê a (15).

 

 

 

NGUYÊN VĂN BÀI VĂN TẾ

 

 

 

Duy

 

Tuế thứ Qúy Sửu niên, Bát nguyệt, sơ nhất nhật kiến kì Dậu, sóc Bính Thân,

 

Việt Nam Cộng Hòa, Gia Định tỉnh, Gò Vấp quận, Bình Hoà xã, Thượng Công Miếu, Thượng Công Qúy Tế hội,

 

Chánh niệm hương: Huỳnh Công Thạnh; Chánh tế: Nguyễn Văn Ngay; Bồi tế: Huỳnh Công Danh; Đông hiến: Nguyễn Văn Nam; Tây hiến: Nguyễn Ảnh A

 

Ban chấp sự: Khởi cổ lịnh: Đỗ Văn Rỡ; Khởi minh chinh: Trương Phú Qúy; Khởi đại cổ: Trần Văn Đắc; Thị lập tả dinh: Lê Văn Tùng; Thị lập hữu dinh: Lê Văn Đạt;

 

Thị lập Tây điện: Hồ Ngọc Thố, Lương Văn Huê, Hồ Văn Tồn, Tôn Thất Hân.

 

Ban Trị Sự: Hội trưởng: Huỳnh Công Thạnh; Phó Hội trưởng: Nguyễn Kim Kỳ; Phó Hội trưởng: Lê Văn Phò; Tổng Thư kí: Nguyễn Trung Thu; Phó Thư kí: Trương Phú Qúy; Thủ qũy: Huỳnh Văn Diệp; Phó Thủ qũy: Trần Văn Lưu; Kiểm soát viên: Trần Văn Xương, Nguyễn Văn Ngay, Lê Văn Mi.

 

Cố vấn: Đỗ Văn Rỡ, Bùi Hữu Hạnh, Nguyễn Văn Diệu, Bùi Văn Phước (16).

 

 

 

Lòng văn: (17)

 

Việt Nam Khai Quốc Công Thần, Khâm Sai Đại Thần, Quản Bình Tây Đại Tướng Quân, Chánh Tổng Trấn Lê Quận Công chi Thần vị;

 

Bình Tây Thượng Công Đỗ Thị phu nhân chi vị;

 

Cung thỉnh:

 

Cao, tằng, tổ, khảo, nội, ngoại , từ đường liệt vị tiên linh chi vị;

 

Tả Dinh Đô Thống Chế lãnh Bắc Thành Phó Tổng Trấn tánh Lê chi Thần vị;

 

Tiền Hiệp Biện Đại Học Sĩ lãnh Lễ bộ Thượng thư Phan Công Lương Khê chi Thần vị;

 

Kị:

 

Tả, hữu đài quan văn, võ bộ hạ liệt vị chư Thần;

 

Cung vọng:

 

Chư Thần Thượng Đẳng Công Thần, đồng triều Tôn Thần;

 

Hiệp:

 

Hiền nhân chí sĩ, dõng tướng anh hùng, liệt nữ vị quốc vong gia chi Thần;

 

Bổn xứ Thành Hoàng Tôn Thần;

 

Dương cảnh thổ địa, phước đức chánh Thần;

 

Bạch Mã thái giám chi Thần;

 

Lang Lại Đại tướng quân chi vị;

 

Môn đương, hộ đối, Tỉnh táo chi Thần;

 

Mộc trụ Thần quang chi Thần;

 

Tiền hiền khai khẩn chi vị;

 

Hậu hiền khai cơ chi vị;

 

Tiền vãng chi vị;

 

Phổ cập:

 

Hội viên, viên quan quá vãng, phàm hữu công đức giả đồng lai phối hưởng.

 

Lòng linh viết:

 

Cung duy Thượng Công

 

Sơn xuyên dục tú

 

Hà hải chung linh

 

Chức chưởng tam quân, phạt Bắc, chinh Đông

 

Khai quốc chi công bất thiểu

 

Quyền dương vạn lí, Đông bình, Tây tịnh

 

An bang chi lực nan danh

 

Sanh vi tướng, tử vi thần, hạo hạo

 

Quang thanh nhi hích trạc

 

Nguy giả phò, nhược giả trợ

 

Hi hi sinh sát nhi tranh vinh

 

Phù vi nhi hiển

 

Tối tú nhi linh

 

Tư nhơn, thu thiên tiết giới

 

Túc yết cung hành

 

Minh triêu chánh tế

 

Cảm cáo Thần Minh

 

Nguyện kì cách tư độ tư

 

Dương dương tại thượng, ngưỡng vọng giáng tường giáng phước

 

Trạc trạc khuyết linh, toàn bằng Thần lực vô xú vô thinh

 

Ngưỡng lậy Thượng Công chi gia huệ giả

 

Phục duy cẩn cáo

 

 

 

Lược dịch phần Lòng linh:

 

Thưa rằng:

 

Kính cẩn thưa Đức Thượng Công, là sao sáng của song núi, do khí linh thiêng của song biển đúc thành. Chức giữ ba quân, đánh Bắc, dẹp Đông. Công mở nước thật không phải nhỏ. Quyền hạn đảm đương muôn dặm, miền Đông yên, vùng Tây lặng. Sức giữ yên đất nước, khó có ai tiến tăm bằng. Lúc sống thì làm tướng, khi chết trở nên Thần sáng rực rỡ vang lừng mà tiếng hiển hách chói lọi cao. Lúc vua nguy khốn thì phò, khi nướv yếu thì trợ. Hiếm có thay lúc Ngài sống đã tranh đấu cho sự vinh dự. Giúp đỡ dân mà hiển hách. Rất đẹp mà linh thiêng.

 

Thưa rằng, nhân lúc trời mùa Thu, cử hành lễ Túc Yết cung kính. Làm lễ vào buổi sáng sớm. Xin cáo với bậc Thần minh cảm nhận cho. Khấn nguyện bằng lễ này mong Ngài độ trì phù hộ. Vòi vọi ở trên đó, ngửa trông ban điềm lành, ban phước. Cao cả nơi linh thiêng, tất cả bằng Thần lực, không có điều xấu, không có thanh âm. Cúi lậy Đức Thượng Công ban cho thêm ân huệ.

 

Nay cúi lậy kính cẩn mà thưa vậy.

 

 

 

Thầy lễ đọc xong bài văn tế, nhạc trổi lên một khúc ngắn. Thầy lễ lấy tấm vải đỏ phủ lên giá văn tế và bưng đặt ở phía trước Bàn Nghi như trước, rồi lui ra. Hai lễ sanh đi đăng cũng tự động bưng nến trở về chỗ cũ.

 

Tây xướng:

 

- Phủ phục hưng bình thân: Chánh tế, Bồi tế, Đông hiến và Tây hiến còn đang qùy mọp, khi nghe xướng, đếu đứng dậy.

 

Chiêng trống tiếp tục đánh từng 3 tiếng và nhạc lại trổi lên.

 

- Hưng bái: Các vị trong Ban Tế lễ lậy 2 lậy theo tiếng xướng ‘bái’, ‘hưng’

 

- Hưng bình thân: tất cả đều đứng lên tự nhiên, hai tay vum lại và buông thong xuống ở đàng trước.

 

 

 

F. LỄ DÂNG TUẦN RƯỢU THỨ NHÌ

 

Lễ dâng tuần rượu thứ nhì giống hệt lễ dâng tuần rượu thứ nhất, chỉ khác ở câu xướng đầu tiên,thay vì xướng: ‘Hành sơ hiến lễ thì xướng ‘Hành á hiến lễ’ và bài thài của các cô đào thài sẽ là: ‘Á hiến lễ, lễ dâng á hiến. Hiến á từng là hiến á từng’.

 

 

 

G. LỄ DÂNG TUẦN RƯỢU THỨ BA

 

Lễ dâng tuần rượu thứ ba cũng giống lễ dâng hai tuần rượu trước và cũng chỉ khác ở câu xướng đầu tiên: ‘Hành chung hiến lễ’; câu thài cũng đổi ra là: ‘Chung hiến lễ, lễ dâng chung hiến. Hiến từng chung là hiến từng chung’.

 

 

 

H. LỄ DÂNG QUẢ PHẨM

 

Tây xướng:

 

- Hiến quả phẩm: Tức là lễ dâng trái cây. Chánh tế, Bồi tế vẫn ở thế đứng. 4 lễ sanh, gồm 2 đi đăng cầm trụ nến và 2 đi đài bưng đài trên có sẵn 2 đĩa trái cây từ dưới đi lên Chánh Điện theo nhịp của Ban cổ nhạc. Lễ nghi thật đơn giản. Sau khi đặt 2 đĩa trái cây lên bàn thờ tại Chánh Điện, 4 lễ sanh đi xuống một cách tự nhiên: lễ sanh đi đăng ở phía Đông tì giá đèn ngang hông bên trái; lễ sanh đi đăng phía Tây tì giá đèn ngang hông bên phải. 2 lễ sanh đi đài thõng tay mãi xuống bụng mà bưng đài (18).

 

 

 

I. LỄ HIẾN BỈNH

 

Đông xướng:

 

- Hiến bỉnh: Tức là lễ dâng bánh. Lễ này cử hành tương tự lễ dâng trái cây (19).

 

 

 

J. TUẦN DÂNG TRÀ

 

Tây xướng:

 

- Điểm trà: Tức là dâng trà. Lễ dâng trà mang ý nghĩa mời Thần dùng nước tráng miệng sau khi đã dâng cho Ngài một bữa tiệc. Lúc này, Chánh tế, Bồi tế vẫn còn đứng trước Bàn Hội Đồng, Ban cổ nhạc vẫn tác nhạc, chiêng trống vẫn đánh ba tiếng một.

 

Đông xướng:

 

- Giai qụy: Chánh tế, Bồi tế qùy xuống. 4 lễ sanh tiến lên, mỗi bên một đi đăng và một đi đài. Lễ sanh đi đài đi phía Đông cầm bình trà; lễ sanh đi đài đi phía Tây cầm cái khay, trên có 3 cái tách uống trà.

 

Tây xướng:

 

- Châm trà: Chánh tế và Bồi tế cùng phụ nhau rót đầy nước trà vào 3 cái tách rồi các lễ sanh tự động đứng lên đi lui lại phía sau.

 

Đông xướng:

 

- Hiến trà: Nghe theo điệu nhạc, các lễ sanh và đào thài tiến bước lên Chánh Điện, tương tự như khi cử hành các tuần rượu.

 

Đang khi rước trà lên Chánh Điện, các đào thài lặp lại nhiều lần bái thài sau đây:

 

Điểm trà thô là điểm trà thô,

 

Vơi vơi chén ngọc, ve vàng,

 

Ô long phất nhiễu, phụng loan giao đầu.

 

Khi tới Chánh Điện, lễ sanh đặt các tách trà lên bàn thờ; sau đó, các lễ sanh tự động đi xuống để chuẩn bị cho nghi thức hóa văn tế. Riêng các đào thài thì xếp hàng ngang trước bàn thờ mà qùy lậy rồi cũng đi xuống một cách tự nhiên.

 

 

 

L. LỄ HÓA VĂN TẾ

 

Tây xướng:

 

- Nghệ Thần chúc sở: Nghe xướng, 2 lễ sanh đi dăng và một lễ sanh đi tay không tiến lên trước Bàn Hội Đồng. Lễ sanh đi tay không tháo lấy bài văn tế và cuốn lại.

 

- Phần chúc: Nghe xướng, viên lễ sanh đứng giữa hai tay nâng cao tờ văn tế đã cuộn lại, 2 lễ sanh đi đăng nghiêng đèn cầy đang cầm để châm lửa vào hai đầu cuộn giấy và cả ba lễ sanh đi sang hoả lò đặt bên cạnh, bỏ vào cho cháy hết. Sau đó, cả ba trở về vị trí cũ.

 

 

 

M. LỄ TẤT

 

Ngay lúc đó viên chấp cổ lệnh hô to: Troàn (truyền) bãi hầu: Các lính hầu dạ lớn và rời Chánh Điện trở về phía dưới.

 

Đông xướng:

 

- Lễ thành: Tất cả các vị trong Ban Tế lễ xếp hàng hai vào lậy mỗi vị 4 lậy rồi đi ra. Sau đó cá lễ sanh vào lậy, cũng từng hai người. Mỗi khi lậy xong, hai người quay mặt vào nhau xá nhẹ rồi mới bước sang bên.

 

Nhạc trổi lên dồn dập và dứt hẳn.

 

Cuối cùng các vị trong Ban Tế lễ, các lễ sanh xếp hàng một, theo lối đi phía Đông, tiến lên Chánh Điện, vào trước bàn thờ, mỗi người vái 3 vái rối trở xuống theo lối phía Tây như lúc khởi đầu buổi lễ.

 

Lễ tế Túc Yết kéo dài từ 9 giờ 30 tới 11 giờ 30.

 

Sau lễ, Ban Tiếp tân và Ban Trật tự hướng dẫn quan khách ra về.

 

 

 

II. NGHI THỨC TẾ ĐOÀN CẢ

 

Diên tế Đoàn Cả là diên tế chính, vì thế long trọng hơn diên tế Túc Yết, số lễ sanh và số đào thài tăng thêm. Lễ vật trong diên tế Túc Yết là cỗ mặn còn lễ vật trong diên tế Đoàn Cả là cỗ chay vì bao giờ diên tế Đoàn Cả cũng cử hành nhằm ngày mồng Một tháng Tám Âm lịch (ngày Sóc). Diên tế Đoàn Cả còn có thêm phần Ẩm Phước cử hành sau Tuần Trà, trước lễ Hoá văn tế.

 

Dù cử hành hành long trọng hơn, song các nghi thức chính yếu trong diên tế Đoàn Cả giống hệt trong diên tế Túc Yết, vì thế chúng tôi sẽ không lặp lại những nghi thức đã trình bầy, chỉ xin nêu lên phần khác biệt trong bài văn tế và thêm vào phần nghi thức Ẩm Phước mà thôi.

 

 

 

A. BÀI VĂN TẾ ĐOÀN CẢ

 

Phần Mở Đầu và phần Lòng Văn của bài văn tế Đoàn Cả giống như trong bài văn tế Túc Yết, chỉ khác nhau ở phần Lòng Linh như sau:

 

Lòng Linh viết:

 

Cung duy Thượng Công

 

Khai quốc ngươn huân

 

Hi triều cự tí

 

Long hưng, dực tá, tảo trừ ác đảng tăng cừ

 

Hổ tướng quyền đương tước bình Lạp Xiêm gian nhũng

 

Tướng tài quả nhị, lược thao trợ thuận công đa

 

Quốc sĩ vô song, trí dõng kham xung hùng vĩ

 

Thập dư tài, tập an cường khấu, thanh danh tối trứ quận triều

 

Kỉ kinh niên, phổ chấn hùng phiên, uy dõng tòng kinh viễn nhĩ

 

Lưu ý dưỡng dân ái sĩ, nhân phong trường sở nhơn tư

 

Gia tâm tế thế an bang, chánh tích vĩnh thùy sử kí

 

Trắc nhi đàn nhi bái vọng, nghiễm nhiên lẫm lẫm hùng oai

 

Chiêm miếu vũ, nhi hưng tư, trạc chỉ dương dương chánh khí.

 

Tư phù:

 

Thể trị truân chuyên chi hội, nghi vãn cửu khoán chỉnh tu

 

Thời phùng phán oán chi thu, lẽ số tằng kinh phí trí

 

Phủ kiêm truy tích, mộ hoài chi niệm nan thôn

 

Xúc mục thương tâm, cảm ngưỡng chi tình hạt dĩ.

 

Tư giả:

 

Tiết giới thu thiên

 

Ca diên lệ chí

 

Cẩn dĩ trai bàn lễ thiết, cảm chiêu tự sự chi nghi

 

Tải dụng hương đăng mặc ngụ đơn thầm chi lễ

 

Ngưỡng kì lai cách, hộ hương thôn dự tráng phong hanh

 

Hưởng vu khắc thành, tì bổn Hội hàm mong tế mĩ

 

Ngưỡng vọng Thượng Công chi gia huệ giã

 

Phục duy thượng hưởng.

 

 

 

Lược dịch :

 

Thưa rằng:

 

Kính cẩn thưa Đức Thượng Công,

 

là bậc mở nước có công đầu,

 

ít có ai trong triều đình lại giúp vua lớn như thế.

 

Làm hưng thịnh lên, phụ tá rực rỡ, quét sạch bọn tàn bạo,

 

Làm bậc hổ tướng với quyền tước đương thời, dẹp yên bọn Chân Lạp, Xiêm La gian tham.

 

Tướng tài ít có hai, tài thao lược giúp được nhiều công lắm.

 

Quốc sĩ vô song, trí dũng đáng tôn xưng là lớn cả.

 

Trải hơn 10 năm, dẹp yên quân cường khấu, tiếng thơm lừng lẫy chốn quân triều.

 

Mấy chục năm trời, đứng đầu nơi phiên trấn, oai dũng vang xa đều biết tới.

 

Hết lòng nuôi dân, mến kẻ sĩ, phong cách bậc nhân được nhớ lâu bền ở lòng người.

 

Để ý giúp đời trị nước, thành tích chánh đáng mãi còn trong sử chép.

 

Kính trọng lập đàn mà bái vọng, nghiễm nhiên lẫm liệt oai hùng,

 

Tôn sùng miếu vũ mà nhớ công cao cả dương dương chính khí.

 

Trộm nghĩ rằng:

 

Hội đã trải qua nhiều nỗi gian khổ mà giữ sự thờ cúng bằng cách chỉnh tu Lăng Miếu cho lâu dài,

 

Gặp nhau mà bàn tán thu góp tiền bạc tu bổ hầu trang trải các kinh phí xây cất.

 

Hết lòng truy tìm vết tích cũ để hoài niệm và tưởng nhớ khôn nguôi đến Đức Thượng Công.

 

Lòng xúc cảm mà ngưỡng mộ không dứt.

 

Nghĩ rằng:

 

Nhân lúc tiết trời mùa Thu, nhớ lệ cũ mà ca diễn, kính cẩn làm lễ dâng cỗ bàn thanh khiết, mong chứng giám cho sự thờ kính này.

 

Kính dùng nhang đèn, mong Ngài hiểu cho lễ đơn giản yên lặng,

 

Ngửa trông Ngài ban đến mọi nhà trong thôn làng đều được phong hanh.

 

Nhận hưởng ở lòng thành, lũ bản Hội những mong ơn tốt đẹp.

 

Nay kính cẩn mà thưa vậy.

 

 

 

B. ẨM PHƯỚC: Tức là phần người dâng cúng được hưởng lại chút rượu đã dâng cho Thần.

 

Đông xướng:

 

- Ẩm phước tưụ vị: Đông hiến, Tây hiến tiến vào chiếu trải trước Bàn Hội Đồng để đứng chung với Chánh tế và Bồi tế.

 

Tây xướng:

 

- Tứ phước thọ: Các lễ sanh bưng đài lên Chánh Điện theo hai lối tả hữu để tiếp lấy 4 li rượu đem trở xuống.

 

Đông xướng:

 

- Nghệ ẩm phước: Các lễ sanh đặt 4 li rượu lên Bàn Hội Đồng.

 

Tây xướng:

 

- Giai qụy: Tấ cả đều qùy xuống.

 

Đông xướng:

 

- Ẩm phước: Bốn vị tiếp lấy 4 li rượu, xá nhẹ rồi dùng tay phải nâng li và uống hết li rượu; khi uống, khéo léo đưa tay áo thụng bên trái lên mà che miệng tỏ ý cung kính không dám để cho Thần trông thấy miệng (20).

 

Đang khi đó, các đào thài tay cầm quạt tiến lên đứng sau các vị, vừa phe phẩy quạt vừa ca bài thài như sau:

 

Ẩm phước, thọ ân dư Thần thánh

 

Ẩm phước rày khỏe mạnh dưới trên

 

Rày đà chung cuộc tế diên

 

Kính dâng bốn chữ miêng miêng thọ tràng.

 

Tây xướng:

 

- Phủ phục hưng bình thân: Tất cả đứng dậy.

 

Đông xướng:

 

- Tạ Thượng Công cúc cung bái: Mỗi vị lậy một lậy.

 

Hưng: đứng lên

 

Bái: Lậy

 

Hưng: Đứng lên

 

Bái: Lậy

 

Hưng: Đứng lên

 

Bái: Lậy

 

Hưng bình thân: Tất cả bốn vị đứng dậy và chờ tại chỗ.

 

Sau đó là nghi thức Hóa văn tế (đốt văn tế) giống như trong diên tế Túc Yết.

 

Sau hết là ‘Lễ Thành”.

 

 

 

 

 

CHÚ THÍCH:

 

1. Huỳnh Tịnh Của. Đại Nam Quốc Âm Tự Vị. Quyển I. Sài Gòn, 1895. Trang 464.

 

2. Trịnh Hoài Đức. Gia Định Thông Chí. Bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo. Tập Hạ. Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hoá. Sài Gòn, 1972. Trang 10.

 

3. Huỳnh Tịnh Của. Đại Nam Quốc Âm Tự Vị. Sđd. Trang 88.

 

4. Toan Ánh. Tín Ngưỡng Việt Nam. Tập Thượng. Nam Chi Tùng Thư. Sài Gòn, 1967-1968. Trang 159-166.

 

5. Nguyễn Đăng Thục. Văn Hóa Đình Làng. Nguyệt San Tư Tưởng số 07. Viện Đại Học Van Hạnh, tháng 9,10/1973. Trang 17-56.

 

6. Chu Thiên. Nhà Nho. Đồ Chiểu, Sài Gòn. Trang 21-40.

 

7. Huỳnh Công Thạnh. Quan Hôn Tang Tế. Hội Thượng Công Qúy Tế, Gia Định, 1969. Trang 51-56.

 

8. Nguyễn Long Thao. Nghiên Cứu Một Ngôi Đình Miền Nam: Phú Nhuận Đình. Sđd. Trang 139-151.

 

9. L. Cadière. Croyances Et Pratiques Religieuses Des Annamites. Sđd. Trang 85-128.

 

10. Ngày tế Thần tại Đình Phú An, Thị Nghè, 15 tháng 11 Qúy Sửu, chúng tôi ghi nhận có 4 vị Chấp sự: 1 chấp cổ lệnh, 1 chấp đại cổ, 1 chấp minh chinh và 1 chấp thái bình (đánh mõ).

 

11. Một trong 3 bản đàn Nam là Nam Xuân, Nam Ai và Nam Đảo hay Đảo Ngũ Cung.

 

12. Nguồn gốc đào thài là các cung nữ có nhiệm vụ quạt mùng cho vua và hát những điệu dịu dàng để ru giấc ngủ cho vua hoặc khi thấy vua có vể ưu tư sầu buồn hay mệt mỏi thì cũng hát để làm cho vua được khuây khỏa. Vì thế ta thấy đào thài luôn phải cầm quạt trong tay.

 

13. Trong lễ tế tại đình Phú An, Thị Nghè, ngày 15.11 Qúy Sửu (09.12.1973), chúng tôi thấy xướng: ‘Quan viên, chức sắc, hội viên nam nữ đồng lai bái’ và cứ từng hai vị vào bái 4 lậy theo lời xướng ‘hưng’, ‘bái’ của hai viên Đông xướng và Tây xướng. Tại Lăng Ông Bà Chiểu không xướng câu này, có lẽ vì Hội Thượng Công Qúy Tế lúc ấy chưa nhận hội viên nữ.

 

14. Giá gỗ dùng để máng bài văn tế dài, viết bằng chữ Nho trên giấy màu vàng, mỗi bề khoảng 0m50, trên giá cắm một cây nến nhỏ màu đỏ.

 

15. Cụ Dương Quảng Hàm định nghĩa văn tế ‘là một bài văn đọc lúc tế một người chết để kể tính nết công đức của người ấy và tỏ tấm lòng kính trọng và thương tiếc của mình’ (Dương Quảng Hàm. Việt Nam Văn Học Sử Yếu. Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu, Sài Gòn, 1968. Tr144). Định nghĩa như thế cho nên Cụ Dương đã chia các đoạn mạch của một bài văn tế ra như sau: 1/ Đoạn mở bài 2/ Đoạn kể công nghiệp, đức tính của người chết 3/ Đoạn than tiếc người chết 4/ Đoạn tỏ tình thương nhớ của người đứng ra làm lễ tế.

 

Tuy nhiên, bài văn tế thường xử dụng ở Lăng Ông Bà Chiểu và ở các đình làng Miền Nam có bố cục hơi khác một chút:

 

Đoạn 1: Trình với Thần về ngày tháng, năm; danh tánh các vị trong Ban Tế Lễ, Ban Trị Sự Hội thờ cúng.

 

Đoạn 2: Xướng danh các vị Thần linh và cung thỉnh chư vị về chứng giám và ‘hưởng’ của lễ. Đoạn này gọi là ‘lòng văn’.

 

Đoạn 3: Tán tụng công đức, sự nghiệp và uy quyền của Thần và cầu xin Ngài giáng ân giáng phúc. Đoạn này gọi là ‘lòng linh’.

 

16. Các nhân vật này được xướng danh trong bài văn tế kì lễ giỗ Đức Thượng Công năm Nhâm Tí 1972.

 

17. Khi bắt đầu đọc Lòng văn, mọi người phải đứng dậy. Mỗi khi xướng một vị Thần, chiêng trống đánh 3 tiếng, âm nhạc trổi lên một lúc; đang khi đó, các vị Chánh tế, Bồi tế, Đông hiến, Tây hiến và Thầy lễ đọc văn tế phải cúi đầu để tỏ lòng kính cẩn.

 

18. Những trái cây được dâng như là nhãn, nho, cam, xoài…mỗi thứ một vài trái tượng trưng.

 

19. Bánh dâng là bánh ít, bánh tét…

 

20. Trong dịp quan sát lễ tế Đoàn Cả tại đình Phú An (Thị Nghè), chúng tôi thấy có cả nghi thức ‘Thụ Tộ’ diễn ra sau nghi thức ‘Ẩm Phước’. ‘Thụ Tộ’ có nghĩa là được hưởng lộc của Thần, tượng trưng bằng việc mỗi vị ăn một miếng thịt do lễ sanh lấy từ mâm cỗ đặt trước bàn thờ Thần đem xuống.

 

Cụ Huỳnh Công Thạnh nhận xét về nghi thức Ẩm Phước như sau: ‘Mặc dầu qúy vị đã có bổn phận thành kính đối với Thần thánh qùy lậy trọn hai diên tế rất mệt nhọc, nhưng được Thần thánh ban phước khi ẩm phước này là một an ủi lớn lao.’ (Huỳnh Công Thạnh. Quan Hôn Tang Tế. Sđd. Tr.57).

Tác giả: Trần Vinh
   dunglac@gmail.com