Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đỗ Xuân Quế, Lm.
doxuanque@hcm.vnn.vn
Bài Viết Của
Đỗ Xuân Quế, Lm.
Giới thiệu sách: Đức Tin Trong Đời
Một Cái Nhìn và Một Thái Độ Mới
Những điều nên chăng trong việc đàn hát
Nhân đọc bài “Đi Tìm Những Ca Khúc Trái Đệm”
Những bài hát xập xình trong nhà thờ
Thánh nhạc hỗ trợ cho phụng vụ và phục vụ dân Thiên Chúa
Thánh nhạc gì mà xưa quá vậy?
Ca hát trong Thánh lễ
Hát lễ và lễ hát
Tôi không biết hát
Nói về Ca đoàn
Kiểm duyệt bài hát
Những điều nên chăng trong việc đàn hát
Hát thế nào cho tốt
Cung đọc giọng hát
Hội Nhập Văn Hóa trong Nghệ Thuật và Ngôn Ngữ
ÓC NỆ LUẬT VÀ TINH THẦN SÁNG TẠO

 Khái niệm về lề luật, luật pháp hay hiến pháp

Hán Việt tự điển của Đào Duy Anh do nhà Khai Trí xuất bản năm 1959 định nghĩa luật là pháp luật, phép tắc, sách ghi phép tắc. Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức cũng do nhà Khai Trí xuất bản năm 1970 định nghĩa luật là ảnh hưởng tự nhiên của vật này đối với sự vật khác do điều kiện vật lý hoặc do nhu cầu tự nhiên của mỗi sự vật, thí dụ, luật cung cầu, luật hấp dẫn, luật tiến hóa, luật tự nhiên hay là phép nhà nước đặt ra, dựa theo lẽ công bằng xã hội và phong tục tập quán của dân, bắt buộc mọi người tuân giữ trật tự và an ninh chung như luật cảnh bị, luật đi đường, luật hình, luật hộ, luật lao động, luật thương mại, định luật, kỷ luật, niêm luật, pháp luật.

Theo nghĩa thường ta quen hiểu thì luật là những điều do một cơ quan, một tổ chức, một chính phủ, hay một Giáo hội đặt ra cho các thành phần của mình theo, để duy trì trật tự chung và thực hiện công ích. Đoàn thể nào, dù lớn hay nhỏ cũng cần phải có luật pháp. Nếu là một cộng đồng rộng lớn như quốc gia, dân tộc, hay Giáo hội thì luật đó là hiến pháp hay giáo luật; nếu là một hiệp hội hay đoàn thể nhỏ thì đó là nội quy hay điều lệ v..v.. Giá trị của luật pháp hay tính bó buộc của nó là tùy thuộc sự lớn nhỏ và tầm quan trọng của mỗi cộng đồng. Ay là nói về pháp luật thực tiễn để phân biệt với luật đời đời của Thiên Chúa hay luật tự nhiên phản ánh một phần của luật đời đời. Hai luật cuối cùng này: đời đời và tự nhiên có giá trị tuyệt đối và bất di bất dịch, còn luật thực tiễn (cũng gọi là luật nhân loại) do các đoàn thể tôn giáo, chính phủ hay chính trị đặt định thì tương đối và có thể thay đổi tùy thời, tùy nơi và tùy nhu cầu cũng như lợi ích của mỗi đoàn thể đó xui khiến. Tuy nhiên, những gì rút ra từ luật đời đời hay luật tự nhiên trong các luật ấy đều có giá trị trường tồn, như luật pháp của nước nào cũng cấm những việc giết người, hiếp dâm hoặc xâm phạm đến tài sản của người khác.

Như thế, ta thấy rằng đại để có ba thứ luật: luật đời đời, luật tự nhiên và luật nhân loại (cũng gọi là luật thực tiễn). Các thứ luật khác đều dựa vào ba luật chính ấy mà thiết lập. Ở đây, chỉ xin bàn riêng về luật nhân loại hay luật thực tiễn và hạn định nguyên trong phạm vi tôn giáo mà thôi, vì nếu không e rằng sẽ đi quá xa và không ăn nhằm với mục đích của bài luận văn này là đặt mối tương quan giữa óc nệ luật với tinh thần sáng tạo và minh chứng rằng óc nệ luật làm tê liệt mọi sáng tạo, đồng thời chủ trương cần phải gạt bỏ óc nệ luật ra ngoài, giữ lấy tinh thần thượng tôn luật pháp để cổ võ và xây dựng lợi ích chung.

Nhưng, trước khi đi vào chi tiết của luật thực tiễn, thiết tưởng cũng cần thu gọn ý nghĩa luật pháp vào một câu định nghĩa có liên quan đến vần đề bàn giải ở đây cho gọn. Vậy, theo thánh Tô-ma A-qui-nô, luật là điều do lý trí quy định đề đạt tới lợi ích chung, do người có thẩm quyền trong cộng đoàn công bố (quaedam rationis ordinatio ad bonum commune, ab eo qui curam communitatis habet, promulgata : Ia IIae 90,4)

Theo câu định nghĩa này, có bốn yếu tố để tạo thành luật:

 

Luật phải là mực thước đo.
Mực thước đo áp dụng cho người và vật thuộc phạm vi ấn định.
Do người có quyền làm ra.
Công bố cho những người liên hệ được biết.
Le Fur cũng định nghĩa giông giống như thế, khi nói rằng luật là mẫu mực sống do xã hội có tổ chức đặt ra cho cá nhân cũng như đoàn thể phụ thuộc nhằm lợi ích chung (Le droit, c'est la règle de vie imposée par la société organisée aux individus et aux groupes secondaires en vue de la réalisation du bien commun). ()

Còn Kant thì nhấn mạnh vào tự do và định nghĩa luật la :

"Luật là ý niệm phát xuất từ những điều kiện trong đó cách thế hành động của người này có thể phù hợp với người kia, theo một luật tự do phổ quát." (Le droit est la notion qui se dégage des conditions dans lesquelles la facon d'agir de chacun, peut s' accorder avec la facon d'agir d'autrui, d'après une loi universelle de liberté). (2)

Claude Bufnoir cũng nhấn mạnh vào tự do và định nghĩa tương tự:

"Luật là toàn bộ các qui tắc mà tự do của con người phải tùy thuộc dưới sự giám định của chính quyền, khi nó mâu thuẫn hay tranh chấp với tự do của người khác". (Le droit est l'ensemble des règles auxquelles est soumise, sous la sanction du pouvoir social, la liberté de l'homme en conflit avec la liberté d'autrui). (3)

Theo những câu định nghĩa trên, ta thấy rằng vì con người và xã hội mà có luật. Luật đặt ra để điều khiển và hướng dẫn tự do của con người nhằm lợi ích chung. Xét về một phương diện, luật xem ra như hạn chế tự do và gò bó con người, vì nó không để cho người ta tự do làm như mình muốn mà phải làm theo một định luật và qui chế nào đó. Nhưng xét theo một phương diện khác, nó lại không cản trở tự do mà lại hướng dẫn tự do đó vào con đường ngay thẳng để giúp cho lợi ích chung được phát triển và tôn trọng. Xin lấy một thí dụ thông thường về sự lưu thông ngoài đường phố. Nhiều thành phố bị xe ghê gớm! Lý do của sự kẹt xe đó một phần lớn, nếu không phải tất cả, là do ý muốn tự do bừa bãi của nhiều người di chuyển bằng xe. Quả thật, phải giữ luật đi đường trong trật tự là điều bó buộc, nhưng nhờ sự bó buộc ấy mà tránh được nhiều phiền phức và mất thời gian, do sự tự do làm ngăn trở di chuyển. Ai cũng muốn đi lấy được, thành ra cuối cùng chẳng ai đi được cả!

Riêng trong Giáo hội thì có Giáo luật. Những ai ở trong Giáo hội (những người đã chịu phép rữa tội) đều phải giữ luật này. Giáo luật khác với các luật khác ở chỗ ngoài việc đặt định các luật để điều khiển sinh hoạt nội bộ, lại còn đưa ra những luật điều khiển đời sống đạo đức tôn giáo của mỗi thành phần, nghĩa là nhằm các vi phạm luân lý và siêu nhiên nữa, trong khi các luật khác thường không có thẩm quyền và bỏ qua vấn đề này, mà chỉ đặt định những luật lệ điều khiển và chi phối đời sống xã hội ở bên ngoài, chứ không đi vào luân lý hoặc đời sống tâm linh của mỗi người. Người công giáo, ngoài việc tuân theo luật nước lại còn phải tuân theo luật Giáo hội Cuốn Giáo luật ban hành năm 1917 vẫn có giá trị bao lâu chưa có Giáo luật mới. Sau khi ban hành Giáo luật mới năm 1983, giáo luật cũ hết hiệu lực. Ngoài Giáo luật ra lại còn luật riêng của từng địa phận. Chính ra đây là những tục lệ địa phương thì đúng hơn, như trước kia có luật địa phận cấm các linh mục chủng sinh không được sang ranh giới địa phận khác mà không có phép của đấng bản quyền (đức giám mục hoặc cha tổng đại diện) hay cấm không được đọc sách Kiều, hoặc cho con đi học các trường ngoài công giáo… Rồi nếu là tu sĩ lại còn phải tuân theo luật dòng nữa. Thành ra, nghĩ cho cùng, có rất nhiều luật phải giữ, khiến cho những người ở bên ngoài lấy làm khiếp sợ, và người ở bên trong nhiều khi cũng thấy như bị nghẹt thở và muốn rũ bỏ bớt cho nhẹ.

Thực ra, có lẽ vì nhận thấy như thế nên Công đồng Va-ti-ca-nô II đã sửa đổi lại, đơn giản hóa và bỏ bớt những điều không cần thiết hay lỗi thời. Phần nhiều, luật các dòng tu, theo chỉ thị của Va-ti-ca-nô II cũng đã sửa đổi lại cho nhẹ nhàng và hợp lý và gần với Tin Mừng hơn. Làm như vậy, phải chăng Va-ti-ca-nô II muốn chú trọng đến cái đích đáng, cốt yếu, chân thực và loại bỏ những cái rườm rà, không cần thiết, đè nặng lên con người và làm cho người ta có cảm giác như mình phải vác ách lề luật quá nặng, đến nỗi dường như mọi nỗi lực đều dồn vào việc giữ cho đúng các luật, không còn thời giờ và tâm trí để nghĩ đến những việc khác chính yếu và quan trọng hơn, là thể hiện Tin Mừng trong đời sống, và một trật cũng là đặt Chúa làm trọng tâm, mẫu mực cho đời mình. Chúa và luật của Người mới là chính, còn những cái khác chỉ là phụ thuộc và phải giúp đưa về Chúa nhưng không được chiếm chỗ quá lớn, dường như làm cho Chúa và lời của Người bị lu mờ, để chỉ còn thấy lời lẽ và luật lệ của người trần gian. Vả chăng, vai trò của luật chỉ là diễn nghĩa luật của Chúa và giáo dục con người để đưa nó đến với Chúa. Thế mà, nhiều khi vô tình, người ta đã mặc cho lề luật một vai trò quá lớn, át cả luật bác ái, công bình là luật trọng hơn hết các luật, phát xuất từ Tin Mừng, nghĩa là từ chính Chúa.

Chắc hẳn, không khỏi có người lo ngại và cho rằng nói như vậy là lạm dụng Tin Mừng để che đậy khuynh hướng muốn giải thoát mình cho khỏi bị ràng buộc bởi lề luật, để được tự do thoải mái v.v…đồng thời làm cớ cho nhiều người khinh thường lề luật. Có thể như vậy, và thực ra cũng đã có một số người nhân danh Tin Mừng nói và viết rất hay về Chúa, về luật yêu thương công bình, nhưng lại tỏ ra lỏng lẻo về kỷ luật đời sống cá nhân cũng như đoàn thể và xem ra rất coi nhẹ lề luật.

Nhưng ngoài ra, nếu xét kỹ thì thấy rằng nói như vậy chẳng qua cũng là để cho thấy một não trạng phản Tin Mừng và phản con người, tức là óc nệ luật mà Đức Giê- su đã nhiều lần vạch mặt và cho thấy rõ tính chất tệ hại của nó, khi tiếp xúc với nhóm Pha-ri-sêu giả hình và giới kinh sư luật sĩ.

Vậy thế nào là nệ luật?

Nệ luật là vin vào luật, chỉ có luật theo nghĩa chữ, mà không tìm hiểu và áp dụng luật theo tinh thần, đồng thời coi luật như tất cả và giữ đúng như luật dạy là đủ và có bảo đảm trở thành người công chính. Tất nhiên, luật ở đây hiểu theo luật thực tiễn của người trần gian chứ không phải luật tự nhiên hay luật đời đời của Thiên Chúa. Người nệ luật thì máy móc, cố chấp, cứng cỏi, không đủ hiểu biết và thông cảm để xét đến những trường hợp cá biệt và những hoàn cảnh khác thường; lại vì áp dụng cho mọi người trong tập thể và những trường hợp chung, nên luật không thể đi vào hết mọi chi tiết hay xét đến hoàn cảnh khác thường do cuộc đời xui khiến.

Nệ luật cũng còn là nhân danh luật mà trói buộc và xét xử, chỉ vịn vào cớ người ta lỗi luật hay sơ hở với luật mà không phân tích lý do hay động lực nào đã đưa đẩy, xui khiến hay gây nên tình trạng đó mà giảm khinh hay thông cảm. Người vị luật là người khe khắt, bắt con người phải lệ thuộc lề luật một cách tuyệt đối, mà quên rằng vì người nên mới có luật, chứ không phải vì luật nên mới trói buộc người, hay nói theo Tin Mừng, luật đặt ra vì người chứ không phải người sinh ra để chịu ách lề luật một cách vô lý và người phải được coi trọng hơn luật. (Mc. 2,23-27; Ga.5, 18; 7,21).

Xin nhắc lại một lần nữa là luật ở đây hiểu theo luật thực tiễn do loài người đặt ra để điều khiển xã hội. Luật cũ của Do thái và luật của Giáo hội cũng thuộc loại này, tuy có phản ánh luật đời đời của Thiên Chúa. Nhưng phần luật Mô-sê và những khoản liên quan đến cách tổ chức đời sống xã hội và tế tự thì khác và chỉ là do nhu cầu giai đoạn của một dân tộc vừa mới lập quốc mà thôi. Do đấy, luật của Mô-sê thuộc phạm vi tế tự và xã hội không còn giá trị ràng buộc gì đối với những người theo luật mới của Tin Mừng. Còn luật của Giáo hội thì cũng có điều liên lạc chặt chẽ với luật đời đời của Thiên Chúa, có luật chỉ là do Giáo hội đặt định mà thôi (như luật độc thân của linh mục). Vì thế, giá trị của chúng tương đối và có thể thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, do nhu cầu và lợi ích của con người hay đoàn thể xui khiến, tùy như vị thẩm quyền của Giáo hội xét thấy nên chăng.

Điển hình cho óc nệ luật là nhóm Pha-ri-sêu và những người xử sự như họ. Xin đan cử một vài thí dụ để chứng tỏ óc nệ luật ấy.

 
Thấy Chúa Giêsu chữa lành bệnh ngày sa-bát, họ hạch Người tại sao lại làm việc ngày hưu lễ, vì luật cấm (Mt. 12, 9-14; Lc.13, 10-17; Ga.5,9)
Họ trách các môn đệ của Chúa bứt lúa ngày hưu lễ mà ăn, khi đi qua cánh đồng (Mt.12, 1-8; Mc.2, 23-28; Lc.6, 1-5).
Thái độ của Đức Giê-su đối với nhóm Pha-ri-sêu nệ luật, giả hình rất rõ rệt: Người phủ nhận họ, vì kiểu cách của họ đưa người ta đến chỗ lỗi luật và coi thường Lời của Chúa, lấy cái tùy làm chính và lỗi những luật căn bản của công bình, bác ái (Mt. 23, 13-31; Lc. 11, 39-48+52). Chúa chủ trương phải thực lòng tôn trọng và giữ luật. Người không đến để phá nhưng làm cho luật nên trọn hảo, nghĩa là đem lại cho luật một ý nghĩa, một nội dung, một sức mạnh mới (Cv.1,8; Ga.16,13). Có thể nói Đức Giê-su vừa tán đồng, vừa phủ nhận, vừa giữ mà lại vừa lỗi luật cũ, Điều này hiện tỏ trong vấn đề phụng tự (Ga. 2,13; 5,1; 7,10; Mt. 26, 17-19).

Chúa giữ luật tế tự nhưng đối với Người, không luật nào trọng hơn luật công bình, bác ái. Đối với các chi tiết lễ nghi tế tự, người tỏ ra tự do và có khi còn lỗi nữa, như chữa bệnh ngày hưu lễ, đụng vào xác chết hay người cùi (nhưng làm như thế là để cứu người ta), (Mc.1,41; 5, 41; Lc.7,14) và nhất là Người cho biết luật phải giữ thanh khiết theo lễ nghi tự nó không có giá trị mà lòng thanh khiết hay đời sống thanh khiết mới đích thực và có giá trị.

Nghĩa là đối với Đức Giê-su, chừng nào luật cũ phù hợp với thiên ý thì Người nhận, chừng nào luật ấy ở ngoài hay đi ngược luật yêu thương thì Người không ngần ngại bỏ qua.

Hiệu quả của óc nệ luật

 
Óc nệ luật làm cho người ta trở nên hẹp hòi, cố chấp, giáo điều, cứng cỏi, vì chỉ biết có luật là luật, mà ít biết đến người và những hoàn cảnh cụ thể con người sống trong đó.
Nó làm cho người ta luôn luôn băn khoăn, lo sợ và lúc nào cũng như bị ám ảnh, bởi sự sai lỗi, thành ra mất bình an, thư thái.
Nó làm cho người ta đâm ra sợ dư luận, dễ giả hình, che đậy để người khác khỏi thấy là mình lỗi luật bên ngoài, còn bên trong thì nhiều khi chẳng cần để ý tới.
Vì nệ luật nên dễ chủ động, cái gì cũng ỷ vào luật, bởi cho rằng đã có luật đặt định tất cả, nên không chịu sáng kiến tìm tòi.Vì thế, nó làm tê liệt mọi sáng kiến và mạo hiểm, thích an thân cho khỏi rầy rà.
Nó làm cho ta khó chấp nhận người khác, ý kiến khác và đưa đến chỗ độc tôn, một kiểu, một mẫu và như vậy là không biết đến cái phong phú của khác biệt và đa dạng.
Tinh thần trọng luật

Ngược với óc nệ luật là tinh thần trọng luật. Tinh thần này làm cho ta giữ luật một cách bình an thư thái, không lo sợ vì hiểu biết tính cách tương đối của luật và giữ luật là do lòng xác tín vai trò giáo dục cũng như trung gian của luật, còn tinh thần của lề luật mới là cốt yếu. Tinh thần đó, là giúp cho con người mỗi ngày một nẩy nở, một làm chủ được mình và luật trọng hơn hết là luật từ nội tâm do lòng mến Chúa yêu Người mà ra. Tinh thần này làm cho ta được tự do như con cái Chúa, không còn bị trói buộc bởi những liên hệ cũ với luật Mô-sê là luật chưa hoàn hảo. Nó còn xui khiến và thúc đẩy ta vượt lên trên và đi xa hơn cả phạm vi đòi hỏi của luật định, vì biết rằng luật chỉ là mức tối thiểu, còn cần đại lượng mà vượt xa hơn nữa. Như vậy tinh thần trọng luật thì khác với óc nệ luật. Tinh thần này làm cho ta biết tự do và sáng kiến, đại lượng và trung thành.

Xem đấy, chúng ta cần tẩy trừ óc nệ luật và nâng cao tinh thần trọng luật là tinh thần tự do sáng kiến, theo mẫu mực duy nhất là Đức Giê-su, vì Người đến để giải thoát ta cho khỏi ách luật bất toàn và nặng nề của luật Mô-sê để đưa ta vào luật yêu thương và tình nguyện như Người nói : "Ach tôi êm, gánh tôi nhẹ" (Mt. 11, 30; Ga. 5,1; Cv.15,10) vì giữ luật như thế là do lòng cảm mến và hiểu biết chứ không vì gò ép, câu nệ. Vì thế nó giải thoát ta khỏi sợ hãi và đưa ta vào vòng tín nhiệm thân tình.

Kết luận

Óc nệ luật và tinh thần sáng tạo thật nghịch nhau : nệ luật thì khó sáng tạo vì quá lệ thuộc vào lề luật ngay cả trong những điểm không cần thiết và được tự do thích nghi. Vì thế, muốn Việt Nam hóa đạo cần phải gạt bỏ óc nệ luật. Điều này cần phải do từ trên phát động và từ dưới đề nghị lên, đồng nhịp với những người đứng ra lay động, đặt vấn đề để thức tỉnh dư luận. Quả thật, lòng người và không khí chung hiện nay không thuận tiện để cho công việc này cũng như bao công việc khác tiến hành; nhưng dù vậy, cũng phải bắt đầu một cách khiêm tốn. Sự dửng dưng, thờ ơ là một chướng ngại lớn cho tiến bộ.

Nói tóm lại, óc nệ luật làm tê liệt mọi sáng kiến và cầm chân chúng ta lại trong thái độ tiêu cực cằn cỗi. Phải thoát ra ngoài não trạng này mới mong đổi mới và tiến bộ được.

Tác giả: Đỗ Xuân Quế, Lm.
   dunglac@gmail.com