Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đỗ Xuân Quế, Lm.
doxuanque@hcm.vnn.vn
Bài Viết Của
Đỗ Xuân Quế, Lm.
Giới thiệu sách: Đức Tin Trong Đời
Một Cái Nhìn và Một Thái Độ Mới
Những điều nên chăng trong việc đàn hát
Nhân đọc bài “Đi Tìm Những Ca Khúc Trái Đệm”
Những bài hát xập xình trong nhà thờ
Thánh nhạc hỗ trợ cho phụng vụ và phục vụ dân Thiên Chúa
Thánh nhạc gì mà xưa quá vậy?
Ca hát trong Thánh lễ
Hát lễ và lễ hát
Tôi không biết hát
Nói về Ca đoàn
Kiểm duyệt bài hát
Những điều nên chăng trong việc đàn hát
Hát thế nào cho tốt
Cung đọc giọng hát
Hội Nhập Văn Hóa trong Nghệ Thuật và Ngôn Ngữ
CHÍNH SÁCH TOÀN BỘ CHO VẤN ĐỀ MỤC VỤ

Mục vụ là danh từ mới được thông dụng trong giới công giáo từ ít lâu nay cũng như danh từ phụng vụ. Nếu có người đọc sách báo công giáo gặp danh từ này mà đem hỏi người bên đạo thì có khi người nào đó sẽ lúng túng và không biết trả lời ra sao. Điều này cũng dễ hiểu vì các sự về đạo ở nước ta, trừ những sự được coi là chính yếu như đọc kinh, xem lễ, xưng tội, lần hạt, ngắm đàng thánh gia, kính Trái Tim Chúa, Đức Mẹ, thánh Giu-se và các thánh nam nữ, mười điều răn Đức Chúa Trời cùng sáu điều răn Hội thánh, sách bổn các lẽ cần, luật công bằng bác ái còn xem ra bổn đạo ta cũng ít để ý đến sự nào khác và dường như các vị có trách nhiệm cũng chẳng thấy có gì phải hướng dẫn thêm. Do đấy, những sự như là mục vụ đối với bổn đạo thật là xa lạ. Đàng khác họ lại hiểu rằng đó là việc của các đấng, không phải việc mình. Cho nên, ngoài những sự việc kể trên, bổn đạo thường có khuynh hướng coi những vấn đề đạo là việc riêng của nhà chung thuộc các cha, các thầy và các dì phước.

 Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã xoay ngược lại tình thế khi định nghĩa Hội thánh là Dân của Thiên Chúa bao gồm mọi người đã lãnh nhận phép Rửa, từ Đức Giáo hoàng cho đến em nhỏ vừa gia nhập Hội thánh. Công Đồng lại còn ban hành sắc lệnh Tông đồ giáo dân, Sứ mệnh truyền giáo để kết nạp giáo dân vào việc hoạt động tông đồ và gây cho họ ý thức về bổn phận liên đới với giáo quyền trong việc xây dựng Nước Chúa trên trần gian này. Ngoài ra, Công Đồng cũng đãnhấn mạnh đặc biệt đến tính mục vụ dành cho Hội thánh ở thời đại ta, khi không đưa ra một định nghĩa tín lý mới nào, không tuyên bố kết án luận phạt ai mà chỉ kêu mời và soi sáng qua những cuộc thảo luận và những văn kiện đã ban hành mà hiến chế Nỗi vui mừng và niềm hy vọng được coi như một bản văn vĩ đại làm hiến chương cho vấn đề mục vụ.

 

1.         Mục vụ và tương giao mục vụ giữa “chúa chiên” và “con chiên”

 Mục là chăn dắt, trông coi, vụ là việc. Mục vụ là chăn dắt và trông coi con chiên bổn đạo. Hiện nay nhiều người nghe nói đến chăn dắt và con chiên đều tỏ ý khó chịu và coi đó như tàn tích của chế độ quan liêu cha chú, cần phải xóa bỏ và thay thế bằng những từ đơn sơ, thân tình cho hợp với trào lưu dân chủ đang thịnh hành trên thế giới.

 Thực ra đây chỉ là một kiểu nói theo hình ảnh linh động nhằm hướng tới ý nghĩa sâu sắc hơn thực tại, bắt nguồn từ câu tuyên bố của Chúa Giê-su khi Nguời tự ví mình như người chăn chiên tốt lành, lo lắng săn sóc cho đoàn chiên đến độ quên mình (Ga 10,11 : Ed 24,1). Người lại tuyên bố Người đến để cứu các chiên lạc nhà Ít-ra-en (Mt 10,6) và gọi các môn đệ là “đoàn chiên nhỏ” (Lc 12 32 ; Ga 10, 21). Như thế mục vụ là công việc cao quí và có ý nghĩa của các người thừa hành quyền Chúa Giê-su là Đức Giáo hoàng, các giám mục, các linh mục. Nhiệm vụ của các ngài là chăm sóc đoàn chiên Chúa đã giao phó cho (Ep 4,11) và dẫn đưa họ tới đời sống mà Chúa Cha đã muốn thông ban cho họ nơi Con Một của Người là Đức Giê-su Ki-tô.

 Bởi vậy, những danh từ như con chiên, chủ chăn, chúa chiên dùng cho các linh mục và giáo dân là nhằm khơi động và nhắc lại ý nghĩa thâm thúy trên đây chứ không phải chủ trương mị dân, thống trị hay lên mặt cha chú. Hình ảnh ấy nếu được hiểu và sống trung thực sẽ tạo nên một mối tương giao bền chặt và ý nghĩa giữa giáo dân và linh mục. Nó gắn chặt linh mục với giáo dân trong một nhiệm vụ chung phải hoàn thành là sống và chia sẻ sự sống của Chúa ban trong công trình cứu chuộc nhân loại. Phải chăng, trong cách xưng hô với linh mục, dù là người đã cao tuổi, giáo dân thường xưng con cũng là một cách thế biểu lộ mối tương giao thiêng liêng kia.

 Tuy nhiên, có người trong số giáo dân học thức và có địa vị trong xã hội ở đô thành hay các tỉnh lớn cảm thấy ngột ngạt khi giao tiếp với các linh mục trước mặt những người không phải là công giáo mà phải xưng con. Đây chỉ là thói quen chứ không có luật nào bó buộc. Vì vậy, các linh mục cũng nên hiểu và đừng cho là người nào đó khô đạo hay không có lòng kính các cha, khi người ấy xưng tôi với linh mục. Công Đồng đã thổi một luồng gió mới về sự đơn sơ, giản dị trong Hội thánh qua kiểu cách xưng hô và giao tiếp với các đấng mà bằng chứng là việc cải tổ giáo triều Roma, giản dị hóa phẩm phục của các giám mục.

 Phần đông giáo dân không đặt vấn đề cha con hay tôi cha, vì thuờng họ xưng con với các linh mục rất tự nhiên. Họ cho rằng như thế mới trọng kính các đấng và có lòng khiêm nhường, biết hạ mình xuống và coi mình là kẻ tầm thường như đạo dạy. Mà quả thật có nhiều đấng trong đạo cũng nghĩ như thế và thái độ của các ngài cũng thay đổi tùy cách xưng hô của bổn đạo đối với mình.

 Đàng khác, chẳng những bổn đạo không lấy làm hạ giá mà lại còn tỏ ra hiên ngang, vì theo họ, một đàng thì họ kính các cha, một đàng họ lại có dịp chứng tỏ cho người bên ngoài biết sức mạnh và cách tổ chức chặt chẽ của người công giáo, đồng thời cho thấy uy tín của các linh mục. Không biết có ảnh hưởng nào chăng giữa cách thế xưng hô đối xử của người công giáo với các linh mục và hiện tượng đang thấy hiện nay ở một tôn giáo khác là tín đồ thuộc tôn giáo ấy cũng tỏ ra hết sức kính trọng các vị lãnh đạo tinh thần của họ, điều mà trước kia dường như không thấy, bằng cách cũng dùng con để thưa với các vị đó. Làm như vậy phải chăng để tôn vinh và tăng uy tín cho các vị đó, đồng thời chứng tỏ khả năng thuần phục của các đạo hữu, một dấu hiệu cần thiết cho người ngoài thấy sức mạnh và tổ chức chặt chẽ của tôn giáo mình.

 Nhiều đồng bào công giáo cũng nghĩ và làm như vậy. Một đức cha kể lại rằng cha sở và giáo dân một họ đạo kia đã hết sức buồn rầu, khi ngài yêu cầu cho dẹp cờ biển cân đai và cuộc rước linh đình trong lần ngài về viếng thăm họ. Họ buồn vì công trình sửa soạn tiêu ma đã đành mà nhất là vì thái độ khó hiểu của đức cha. Tại sao đức cha lại làm như vậy ? Chẳng gì ngài cũng là giám mục, một nhân vật lớn chứ không phải nhỏ, đi đâu phải cho đàng hoàng xứng đáng chứ sao lại âm thầm kín đáo như thế được. Phải tỏ cho người ta thấy sức mạnh của công giáo chứ. Chẳng vậy người ta sẽ cho là mình yếu rồi lấn át đi.

 Đó là tâm trạng thông thường của phần đông đồng bào ta. Nếu phân tích và tìm hiểu dựa vào cách tổ chức xã hội của ta từ xưa tới nay, đi từ làng xã đến phủ huyện tỉnh rồi nha bộ, và xét đến ảnh hưởng của Nho học và Khổng giáo, ta có thể nói rằng tính thích làm ông to bà lớn, lòng ham chuộng chức sắc danh vọng ngôi thứ trong xã hội đã ăn sâu vào huyết quản chúng ta từ bao đời nay rồi. Vì thế, nói chung người nào cũng thích vinh hoa quyền quí và ai xúc phạm đến cái ý thích đó phải coi chừng, vì ở nơi mỗi người chúng ta vẫn sẵn một ông quan nhỏ nằm vùng đợi ngày đột khởi.

 

 2.         Lòng ham chuộng danh vọng chức sắc : một tâm lý phản Tin Mừng

 Tâm lý này thật là một tâm lý ngoại đạo phản lại Tin Mừng. Quả vậy, Tin mừng dạy rằng ai muốn làm đầu thì phải hầu thiên hạ và trở nên đơn sơ bé mọn như trẻ thơ (x. Mc 18,1-4 ; Mc 9,33-36 ; 10,15 ; Lc 18,17 ; Mt 23,10-12)

 Vâng theo lời dạy của Chúa, Hội thánh sau Công Đồng chủ trương gỡ mình ra cho khỏi óc vênh vang hiếu thắng, từ bỏ các đặc quyền đặc lợi, cố gắng mỗi ngày một tiến xa hơn trên con đường phục vụ. Sự ăn ở đơn sơ giản dị, việc từ chối những cuộc rước linh đình trọng thể cũng nằm trong đường hướng đó. Cho nên ta cần hiểu và hoan nghênh thái độ của đức cha nói trên, đành rằng làm như vậy xem ra không vẻ vang cho đạo, cho chúng ta như chúng ta nghĩ, nhưng dưới mắt người ngoài đạo, có lẽ như thế lại hay và có ảnh hưởng tốt hơn. Nếu để ý nhìn xem và nghe ngóng, chúng ta sẽ thấy người bên ngoài không đánh giá cao những kiểu cách vênh vang biểu dương lực lượng đâu. Đã hẳn không phải những cuộc nghênh tiếp các đức cha là vênh vang hiếu thắng và khi để cho người ta đón tiếp như thế, không phải các đức cha cũng là những người như vậy. Chính Chúa Giê-su cũng đã để cho người ta đón tiếp Người long trọng khi vào thành Giê-ru-sa-lem (Mt 21.1-10 ; Mc 11, 1-11 ; Lc 9,28-38 ; Ga 12,12-16). Điều quan trọng là cách thế và thái độ của nguời trong cuộc, về phía tổ chức cũng như người được nghênh tiếp.

 Nhưng trong thực tế, có những hoàn cảnh làm cho việc sống theo các đòi hỏi của Tin Mừng trở nên khó khăn và phức tạp. Thành thật mà nói, phần đông giáo dân Việt Nam không chịu để cho các giám mục và linh mục xuất hiện trước mắt người đời trong một tư thế quá đơn sơ giản dị. Họ càng tỏ ra như không chịu được, khi thấy linh mục nào đó bề ngoài như thua kém người ta. Trong tình thế đó, muốn áp dụng tinh thần đơn sơ khiêm tốn của Công Đồng thì thật là can đảm vì dám đi ngược lại với ý thích của phần đông dân chúng.

 

3.         Quan niệm và tổ chức vấn đề mục vụ

 

 3,1 Quan niệm về mục vụ

 Hiểu theo nguyên tự thì mục vụ có nghĩa là chăn nuôi, dẫn giắt, nhìn xem, gọi tên, yêu thương, lịch thiệp, nhã nhặn, kính trọng giữa chủ chiên và con chiên, vì tiếng mục trong chữ Hán có bao gồm những nghĩa đó.1 Nhưng nếu hiểu rộng ra theo quan điểm thần học thì mục vụ là một khoa học nghiên cứu những cách thế tổ chức và hoạt động của Hội thánh trong phạm vi loan truyền Tin Mừng cứu độ của Chúa Cứu Thế cho mọi người. Mục đích của khoa này là kiểm tra và đôn đốc cho những cách thế tổ chức và hoạt động ấy diễn ra theo đúng đường lối của Tin Mừng. Nói gọn lại, mục vụ là hoạt động của Hội thánh để đem ơn cứu độ đến cho loài nguời. Ơn cứu độ ấy được thực hiện khi người ta tin ở lời Chúa Ki-tô và lãnh nhận các bí tích do Người thiết lập. Bởi thế, hoạt động chính yếu của Hội thánh là loan truyền lời Chúa để khơi động lòng tin và chuẩn bị lãnh nhận bí tích2. Mọi hoạt động khác của Hội thánh đều phải xoay quanh và qui về hệ điểm này. Vì vậy, không nên hiểu mục vụ một cách đơn giản và vật chất, nghĩa là quan niệm nó thu hẹp lại trong phạm vi tổ chức họ đạo, xây cất nhà thờ, mở trường học, lập viện cô nhi hay tế bần, mở trạm phát thuốc, tổ chức và gây dựng các đoàn thể công giáo tiến hành v.v… đành rằng họ đạo là đơn vị cơ bản và mục vụ có bao gồm những hoạt động và tổ chức kia. Nhưng đó chỉ là bộ mặt thứ hai của vấn đề mục vụ, còn giảng dạy và loan truyền lời Chúa để xây dựng đức tin và đưa người ta đến tiếp xúc với Chúa qua việc cầu nguyện, suy gẫm lời Chúa và lãnh nhận bí tích mới là chính yếu và là bộ mặt thứ nhất của vấn đề. Có lẽ vì không đặt đúng vị trí nên trong vấn đề mục vụ nhiều khi ta đã đảo lộn bậc thang giá trị và chú trọng đến phần thứ yếu hơn chính yếu. Kết quả của việc xếp đặt như vậy là làm sai lạc hẳn nhãn quan về mục vụ, khiến người ta cũng xử sự và hành động theo nhãn quan ấy mà làm cho đạo như bị cầm chân dừng lại ở những hình thức ồ ạt náo động bên ngoài chứ không trở thành một động lực mạnh mẽ biến đổi sâu sắc từ bên trong.

 Vì thế, quan niệm đúng về mục vụ phải là quan niệm đặt trọng tâm vào lời Chúa và xuất phát từ đó như một cứ điểm hoạt động để xây dựng đức tin, biến lời Chúa thành chất dưỡng sinh du nhập và lưu hành trong mọi cơ cấu tổ chức xã hội và trong toàn bộ đời sống con người. Như thế mục vụ đâu phải là vấn đề đơn giản có thể tùy cơ ứng biến mà không cần suy nghĩ, sửa soạn và đặt ra thành một chính sách để thi hành.

 

3,2 Lối nhìn có suy nghĩ

 Tiện đây cũng xin nói về khuynh hướng nhìn vấn đề một cách quá đơn giản của phần đông trong chúng ta. Nhưng cần phân biệt nhìn vấn đề một cách quá đơn giản với việc làm cho ra đơn giản. Nếu nhìn vấn đề một cách hời hợt là một khuyết điểm thì ngược lại làm cho vấn đề ra đơn giản lại là một đức tính. Nó chứng tỏ khả năng dám chấp nhận thách đố và biết thận trọng của nguời ấy. Còn vấn đề tự nó đã đơn giản mà lại làm cho trở nên phức tạp thì đó là cách thế của người tỉ mỉ, kỹ lưỡng quá đáng nhiều khi làm nản lòng và nhụt nhuệ khí cho những người bên cạnh.

 Cũng vì khuynh hướng thích nhìn vấn đề một cách quá đơn giản nên người ta hay ngại phân tích và suy nghĩ. Suy nghĩ thì mất công và mệt mỏi. Nhưng không suy nghĩ thì không tiến xa được, cứ ì ạch ở một chỗ, không nhìn ra vấn đề. Đó chính là điểm khác biệt lớn giữa các nước tân tiến và các nước đang trên đường phát triển. Vậy nếu muốn tiến thì cần phải chấp nhận sự khắc khổ của lao động và suy nghĩ, vì suy nghĩ là một sinh hoạt siêu hình không hấp dẫn và cụ thể bằng những công việc khác, nhưng phải có suy nghĩ để hướng dẫn cho hành động. Bởi vậy không nên từ chối những gì cần phải suy nghĩ và không nên coi đó như chuyện viển vông không thiết thực. Vẫn biết rằng điều kiện sống và thói quen trong sinh hoạt chung quanh không khuyến khích và yểm trợ cho việc suy nghĩ tìm tòi, nhưng vẫn phải cố. Thái độ trên ảnh hưởng nhiều đến lối hành động và cách tổ chức công việc của chúng ta.

 

3,3 Chính sách và kế hoạch

 Trong mọi việc đều phải có chương trình, chính sách, kế hoạch do suy nghĩ phối hợp với kinh nghiệm. Riêng trong vấn đề mục vụ, tổ chức thế nào cho thành một chính sách toàn bộ ? Nếu muốn nói kỹ thì phải một cuốn sách mới đủ, nhưng ở đây chỉ xin thu hẹp lại trong phạm vi một họ đạo. Công việc phải đi từng giai đoạn một và từ giai đoạn này đến giai đoạn kia phải có thời gian chuẩn bị vừa đủ.

 Tuy nhiên, cũng xin nói ngay là ở đây không nhằm giải quyết toàn bộ vấn đề mục vụ cho bằng lưu ý độc giả về sự cần thiết phải nghiên cứu và đề ra một chính sách tổ chức và phát triển mục vụ một cách đồng đều, nghĩa là cách thế hoạt động của Hội thánh, nhằm nuôi dưỡng và phát triển đức tin, đi từ các ủy ban quốc gia xuống đến các giáo phận rồi từ giáo phận xuống các họ đạo. Tưởng có thể hiểu toàn bộ vấn đề mục vụ là như thế, nghĩa là tổ chức các hoạt động cùng một lúc đều nhau theo một chương trình kế hoạch, dưới sự kiểm soát và điều động của Trung Ương. Mục đích của vấn đề mục vụ đồng đều là tạo nên hòa điệu trong các nỗ lực phát triển đức tin, qui tụ các cố gắng, sáng kiến và hoạt động về một hướng chung theo kế hoạch nhất định để tránh cảnh mạnh ai người nấy làm, mỗi người là một pháo đài và một lãnh chúa muốn làm thế nào cũng được, khiến cho nhiều khi phí tiền của và đổ dồn cả vào một việc, còn việc khác không có ai lo hay phung phí các khả năng vì không biết ai làm gì và dù biết lại dẫm chân lên nhau một cách vô ích.

 Về điểm này, nếu có một chính sách mục vụ đồng đều, thế nào ta cũng có một đường lối, một chỉ thị cho các vấn đề liên hệ, như xây cất nhà thờ, truyền giáo, giảng dạy giáo lý, cứu tế xã hội, giúp người di dân, hướng dẫn đi lao động nước ngoài, giúp giải quyết tệ nạn xã hội, cho thuê nhà ở thành phố v.v… Tất cả những vấn đề đó và bao nhiêu vấn đề khác liên quan đến mục vụ và mục vụ phải có mặt trong đó để làm nhiệm vụ dành riêng cho mình. Vì thế mới đặt những vấn đề mục vụ như mục vụ lao động, mục vụ nhàn rỗi, mục vụ nghỉ hè bên cạnh những vấn đề mục vụ khác như mục vụ giáo lý hôn nhân, mục vụ gia đình. Riêng ở Việt Nam có thể thêm mục vụ văn nghệ, mục vụ học đường. Đó là những vấn đề thiết thực cho hoàn cảnh Viêt Nam. Nếu căn cứ theo đó thì chỗ nào cũng có thể có vấn đề mục vụ. Đạo phải đi vào những khu vực đó, dùng ngôn ngữ của đức tin để phối hợp với kinh nghiệm sống của con người trong những hoàn cảnh thiết thực mới mong nối liền được đạo với đời, đành rằng đạo và đời khác nhau, nhưng đạo phải ở trong lòng đời như một chất men biến đổi. Như vậy nhiệm vụ của đạo thật to tát nặng nề, và nếu đạo chỉ làm việc của đạo cũng không hết việc, không cần phải xen lấn vào những địa hạt khác xem ra ít là công việc của mình và có thể dành cho người khác, đoàn thể khác để đạo có thể dốc toàn lực vào công việc của mình

 

3,4 Liên kết thành ủy ban

 Nhưng không phải một sớm một chiều mà đạo có thể làm được những công việc này, nếu trước hết đạo không có một chính sách toàn bộ cho những vấn đề đó. Chính sách này không thể chỉ là do cao hứng đột khởi nhất thời của một ai đó mà phải là do sư chung sức làm việc của nhiều người họp thành ủy ban, được chỉ định và tuyển lựa theo khả năng chuyên môn. Những người này được qui tụ trong cơ quan trung ương mà nhiệm vụ chính là suy nghĩ, nghiên cứu, lắng nghe, đặt chương trình kế hoạch dựa trên điều tra, tiếp xúc cụ thể với những người liên hệ trong các vấn đề phải tìm hiểu và đặt kế hoạch. Các ủy ban trong cơ quan trung uơng này từ xưa đến nay không phải là không có. Chương trình và kế hoạch cũng không thiếu, kể cả các cơ sở dành cho các bàn giấy trung ương. Nhưng phần đông người ta chưa lấy làm thỏa mãn về các chương trình cũng như kế hoạch đã đưa ra. Cảm giác chung là vẫn chưa thấy có sự rõ ràng và hợp lý trong cách chỉ định người cũng như phân chia công việc : một người được học một đàng lại được chỉ làm một lối, hay biến người ta thành tay bách nghệ thì đòi hỏi người ta kết quả mong muốn thế nào đước ? Đàng khác, dù hiền lành và dễ tính đến đâu, nhìn vào cách thế tổ chức vấn đề mục vụ ở nơi này nơi kia, người ta không khỏi ngao ngán nghĩ rằng đó chỉ là chuyện hữu danh vô thực, làm cho có, đặt cho có vị mà thôi.

 Ngoài ra, lại còn nhận xét này nữa là nhiều người muốn bắt đầu và tưởng mình bắt đầu trong một ngành hoạt động nào đó là thành chuyên viên ngay. Khuynh hướng tự tôn hay coi mình như lãnh tụ độc đáo không muốn nhìn nhận ai khác, dù người ấy có khả năng chuyên môn và tài giỏi hơn mình, hiện nay đang là cái nạn lan tràn, tạo nên một cảnh hỗn độn khiến cho khó có ai nói ai nghe. Tình trạng đó có thể là hậu quả do hai nguyên nhân : một là tự đắc, hai là thiếu khả năng chuyên môn.  

3,5 Hữu hiệu hóa các tổ chức

 Vấn đề không phải là tổ chức, vì đã có, nhưng là phối hợp chặt chẽ cho hữu hiệu hơn. Có tổ chức, có bổ nhiệm, có chương trình, nhưng còn cần một chính sách toàn bộ cho vấn đề. Vấn đề này tưởng phải hội tụ những điểm sau đây : 

3,5,1 Một cái nhìn bao quát

 Một cái nhìn bao quát từ trên xuống, do các vị có trách nhiệm và các cộng sự viên từ toàn quốc, giáo phận, miền, đi xuống đơn vị cơ bản là giáo xứ 

3,5,2 Trình nguyện vọng, ý kiến

 Những nguyện vọng, ý kiến, nhận xét đưa về trung ương để giúp trung ương điều chỉnh và cải tiến, vì giáo xứ gần giáo dân hơn nên cũng dễ thiết thực và cụ thể. Đàng khác, một chương trình kế hoạch đưa ra, khi áp dụng vào thực tế thường vẫn phải điều chỉnh cho thích hợp. Vì thế, trước khi trở thành chính thức nên để cho thí nghiệm trước. 

3,5,3 Một văn phòng

 Tổ chức một văn phòng cấp toàn quốc và giáo phận chuyên lo nghiên cứu vấn đề mục vụ gồm những người hiểu biết và được huấn luyện về môn này. Văn phòng sẽ làm công việc điều hành và liên lạc với các tổ chức và hoạt động mực vụ trên cả nước và trong mỗi giáo phận. 

3,5,4 Tận tâm nhiệt thành

 Văn phòng phải gồm những người chuyên môn có khả năng và uy tín đã đành mà còn phải tỏ ra tận tâm và hữu hiệu nữa. Nhưng không thể đòi hỏi điều nay, nếu ngoài công việc ở văn phòng, đương sự lai còn phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nữa. Thành ra chỉ những ai bằng lòng chịu cực trong công việc ở bàn giấy, đồng thời hy sinh cơ hội được bổng lộc mới nên được chọn vào những công việc này. Ngoài ra lại cần loại ngay thói làm việc theo lối du tử, làm cho có, không thiết tha gắn bó gì với công việc bao nhiêu. 

3,5,5 Đầu tư nhân sự

 Một văn phòng như thế là một cuộc xuất vốn đầu tư nhân sự, tức phải có người, theo những tiêu chuẩn mới nói ở trên. Trong hoàn cảnh khan hiếm người, tưởng các vị hữu trách cũng nên xuất vốn tiêu một món hàng xa xỉ là biệt phái một số người chỉ nguyên lo việc tổ chức và hoạt động mục vụ trong giáo phận và trên toàn quốc mà thôi. Mong rằng cái vốn quí đầu tư vào đây, một ngày kia sẽ đem lại những mối lời lớn về mục vụ cho Hội thánh. 

3,5,6 Khai thác khả năng chuyên môn

 Hiện chúng ta có một đội ngũ chuyên viên tương đối khá đông. Các chuyên viên này phần nhiều được đào tạo ở nước ngoài và có các bằng cấp chuyên môn. Không biết các khả năng chuyên môn đó đã được khai thác và đặt vào đúng chỗ chưa. Nếu chưa thì quả là một sự phí phạn đáng tiếc. Có lẽ những vị đó đã được bổ nhiệm vào công việc giảng dạy trong các chủng viện khá nhiều khiến cho cán cân sinh hoạt trong Hội thánh và giáo phận bị mất thăng bằng. Vậy có nên điều chỉnh lại tình trạng này bằng cách bổ nhiệm và phân phối một cách đồng đều và hợp lý hơn chăng ?

 Mục vụ là một công tác tốt đẹp và cao quí dành riêng cho các giám mục và linh mục đã đành mà cũng là vấn đề chung của toàn thể Dân Chúa nữa. Nó rộng lớn và khó khăn chứ không nhỏ bé và đơn giản. Vì vậy, không thể đơn giản hóa vấn đề mà phải có một chính sách toàn bộ. Nhưng trước khi đi tới giai đoạn này, cần phải ý thức và thấy vấn đề là cần thiết và phức tạp. Nếu không, sẽ chẳng có vấn đề mục vụ. Ngoài ra, là đặt vấn đề mục vụ cho đúng chỗ. Như thế, mục vụ sẽ là vấn đề gắn liền với đời sống của các vị chủ chăn, và là động lực thúc đẩy đà đi lên của Dân Chúa, trên đường đi tới cứu cánh của mình là hoàn thành ơn cứu độ Chúa Cứu Thế mang đến cho mỗi người.

Tác giả: Đỗ Xuân Quế, Lm.
   dunglac@gmail.com