Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đỗ Xuân Quế, Lm.
doxuanque@hcm.vnn.vn
Bài Viết Của
Đỗ Xuân Quế, Lm.
Giới thiệu sách: Đức Tin Trong Đời
Một Cái Nhìn và Một Thái Độ Mới
Những điều nên chăng trong việc đàn hát
Nhân đọc bài “Đi Tìm Những Ca Khúc Trái Đệm”
Những bài hát xập xình trong nhà thờ
Thánh nhạc hỗ trợ cho phụng vụ và phục vụ dân Thiên Chúa
Thánh nhạc gì mà xưa quá vậy?
Ca hát trong Thánh lễ
Hát lễ và lễ hát
Tôi không biết hát
Nói về Ca đoàn
Kiểm duyệt bài hát
Những điều nên chăng trong việc đàn hát
Hát thế nào cho tốt
Cung đọc giọng hát
Hội Nhập Văn Hóa trong Nghệ Thuật và Ngôn Ngữ
TỪ THIÊN KIẾN NGỘ NHẬN ĐẾN XÁC TÍN VỀ TIN

 Tựa sách

Đây không phải là một cuốn sách bàn về đức tin với phần đoạn chương tiết, như nhiều sách uyên bác của các nhà thần học đã xuất bản, mà chỉ là những bài viết bình thường do hoàn cảnh sống từ mấy chục năm qua xui khiến.

Những bài này được viết ra theo cảm nghiệm riêng, nhằm nói lên sự cần thiết của đức tin trong đời. Mong rằng sự cần thiết ấy sẽ giúp ích cho người tin, để vun trồng và giáo dục đức tin của mình cho thật vững vàng và lớn mạnh. Sự vững mạnh của đức tin sẽ là một bảo đảm cho người tin có được niềm vui và sự bình an trong tâm hồn, dù gặp phải gian nan vất vả hay những hoàn cảnh nghiệt ngã.

Thánh Phao-lô nói : “Hiện nay tôi sống trong xác phàm là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa.” (Gl 2, 20) Thánh nhân đã sống và đã tin. Cuộc đời của ngài là một bằng chứng sống động về giá trị và sức mạnh của lòng tin,

Nhưng tin không dễ. Đó là một ơn huệ lớn lao Chúa ban cho mỗi người. Có đức tin và một đức tin vững mạnh thật là một điều hạnh phúc. Các Tông đồ xưa kia ở bên Chúa, ở với Chúa mà vẫn yếu kém lòng tin thì phương chi là chúng ta bây giờ. Điều ấy muốn nói với chúng ta rằng chúng ta phải năng cầu xin và đề ý đến việc săn sóc đức tin của mình bằng việc cầu nguyện, gặp gỡ, tiếp xúc với Thiên Chúa trong nội cung lòng ta và bằng việc lắng nghe, tiếp thu lời Người, vì

“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho chúng ta bước,

là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta đi.” Tv 118,105)

Lm An-rê Đỗ Xuân Quế, OP

TỪ THIÊN KIẾN NGỘ NHẬN ĐẾN XÁC TÍN VỀ TIN

I- NHỮNG PHẢN ỨNG TIÊU BIỂU

Mới đây tại một xứ đạo kia trong một thành phố lớn, sau buổi tĩnh tâm cho các nữ sinh cấp ba, để chuẩn bị cho họ đón mừng lễ Phục sinh, người ta kể lại trong đám nữ sinh đó, nhiều cô đã có những phản ứng rất tiêu biểu về đạo và Chúa. Chẳng hạn, trong giờ trao đổi, có cô đã công khai nói rằng bây giờ nghe nói về Chúa thấy lạ tai, lạc điệu và kỳ cục. Có cô đã nhắn khéo cha giảng nên nói những gì thật cụ thể, đừng lý thuyết trừu tượng. Và tội nghiệp cho cha giảng, sau khi đã vận dụng cả khoa ngôn ngữ cụ thể cùng với một mớ kiến thức đạo lý vững vàng về mầu nhiệm phục sinh qua đề tài Chúa Ki-tô, sự sống và sự sống lại của chúng ta, cử tọa đã tỏ ra ngơ ngác và có người đã hỏi : “Phục sinh là gì vậy”’

Được giải thích cặn kẽ về ý nghĩa của hai chữ đó, xem chừng họ thấy ý nhị, thâm thúy, nên muốn áp dụng ngay bằng cách đưa ra một khẩu hiệu nghe rất hấp dẫn: phục sinh môi trường!

Tuy nhiên, họ chỉ muốn phục sinh môi trường mà không đả động gì đến Chúa Phục sinh ! Sở dĩ như vậy, vì theo họ, nói đến Chúa ngán lắm, không ai muốn nghe ! Đàng khác, nhiều người lại sẵn thiên kiến về đạo và Chúa, nên càng tránh được bao nhiêu hay bấy nhiêu !

Điều này không sai bao nhiêu, nếu ta tiếp xúc với giới trẻ ngày nay và tìm hiểu tâm trạng của họ phát hiện qua những lập luận về tình thế, cuộc đời và những vấn đề thiết thân trước mắt, như tình yêu, chiến tranh, sự chết, tiền bạc, hạnh phúc v.v...

Một vài phản ứng tiêu biểu trên đây, cũng như bao phản ứng khác về cùng một vấn đề liên quan đến Chúa như đức tin, đạo đức, lương tâm v.v... cho ta thấy giới trẻ ngày nay, một phần khá lớn, ngán Chúa và không muốn nghe nói về Người. Mà không riêng gì giới trẻ, người lớn cũng thế, trừ một số người đứng tuổi vẫn sống trong không khí sinh hoạt tôn giáo cổ truyền, theo những tập tục đáng quí từ ngàn xưa để lại. Do đấy, chắc hẳn Chúa không chiếm một địa vị ngang hàng với một vấn đề thời sự, và nói theo ngôn ngữ kinh tế, dường như Người đã bị xuống giá trong thời đại ta ngày nay.

Nhưng, không phải bây giờ Chúa mới bị đặt thành vấn đề, mà ngay từ xa xưa, trong lịch sử Do thái, lịch sử một dân được Chúa bầy tỏ cho những dự định cao cả về ơn cứu thoát, đồng thời được chứng kiến bao biến cố vĩ đại để làm dấu thị thực cho những dự định kia, vẫn có người chê cười, khiêu khích : “Chúa của họ ở đâu” ?, (x. Tv 53,2) khiến cho người công chính phải ngậm ngùi thở than cùng Chúa: “Lạy Chúa! Sao Chúa nỡ bỏ con để đối phương chê cười con ?” (x. Tv 42,10).

Rồi đến thời Chúa Cứu Thế, lúc bị treo trên thập gíá như một tên tử tội, dân chúng qua lại đã mỉa mai : “Ông ta đã cứu được bao người, còn chính thân mình, ông không tự cứu nổi ! Ông là Vua dân Do thái, bây giờ ông hãy xuống khỏi thập giá đi và chúng tôi sẽ tin ông!” (x. Mt 27,42; Mác-cô 15,31-32). Đáp lại thái độ khinh thường và thách thức đó, Chúa Ki-tô đã chỉ yên lặng, vì biết rằng nếu bảo mình là Đấng Cứu Thế, họ cũng sẽ chẳng tin: ‘Tôi có nói với các ông, các ông cũng chẳng tin”. (Lc 22,67). Trong những trường hợp khác, đôi lần Người cũng đã trả lời, nhưng để nói rằng thời cơ chưa đến, chẳng hạn khi bà con thôi thúc Người phải xuất hiện làm một cái gì cho người đời biết tay : “Ông hãy bỏ đây mà đi sang miền Giu-đê, để các môn đệ của ông cũng được nhìn thấy những việc ông làm, vì không ai muốn nổi danh mà lại hoạt động âm thầm. Nếu ông làm những việc ấy thì hãy tỏ mình ra cho thiên hạ. Thật thế, anh em Người không tin vào người. Đức Giê-su nói với họ : “Thời của tôi chưa đến, nhưng thời của các anh lúc nào cũng thuận tiện. Thế gian không thể ghét các anh, nhưng tôi thì nó ghét, vì tôi làm chứng rằng các việc nó làm là xấu xa.” (Ga 7,3-8)

Tiếp đến thời đế quốc La-mã, Trung cổ, Phục hưng thế kỷ XV, XVI, phong trào Duy lý và Cách mạng Pháp thế kỷ XVIII, thời kỹ nghệ phát triển thế kỷ XIX, phong trào thợ thuyền cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và còn kéo dài tới nay, sự xáo trộn theo sau Đệ nhị Thế chiến cùng những ý thức hệ mới mẻ hấp dẫn, song song với những thực hiện vĩ đại của khoa học kỹ thuật ở thời đại nguyên tử và vệ tinh nhân tạo, chen lộn với cảnh cùng cực túng đói của 2/3 nhân loại và sự sa đọa về nhân phẩm, tất cả đều như góp phần vào việc đặt Chúa thành vấn đề và xô đẩy con người đi đến chỗ bất cần Chúa, nếu không muốn nói là phải phủ nhận Người.

Có điều xem ra như khó hiểu là trước những tấn công khiêu khích và những cùng khổ của con người như vậy, dường như Chúa vẫn yên lặng xa vắng, một sự yên lặng xa vắng mênh mông, phức tạp, pha lộn bi đát, có thể làm cho con người hoài nghi, nao núng, phẫn nộ. Tâm trạng đó đã được diễn tả một phần nào qua đoạn văn dưới đây :

“... Ba người tử tội cùng bước lên ghế. Ba cái cổ cùng một lúc bị tròng qua những sợi dây thắt nút lòng thòng.

- Tự do muôn năm ! Hai người lớn hô to tiếng.

Còn em nhỏ cứ yên lặng.

- Đức Chúa Trời ở đâu, Người ở đâu nhỉ ? Một người đứng sau tôi cất tiếng hỏi như thế.

***

‘... Chúc tụng danh Đấng Cao cả hằng có đời đời !

Tiếng vị chủ tế vừa vang lên. Thoạt tiên, tôi tưởng đó là tiếng gió thổi. Hàng ngàn cái miệng lặp lại lời tung hô đó. Họ cúi rạp mình xuống như cây cỏ trong cơn bão táp.

- Chúc tụng danh Đấng cao cả hằng có đời đời !

Tại sao, mà tại sao tôi lại phải chúc tụng Người ? Tất cả mọi đường gân thớ thịt trong tôi đều nổi lên chống đối. Phải chăng, bởi vì Người đã làm cho hàng ngàn trẻ em bị chết trong phòng hơi ngạt ? Phải chăng, bởi vì Người đã để cho sáu cái lò hỏa thiêu hoạt động đêm ngày, cả ngày Sa-bát (ngày nghỉ Do thái) cũng như những ngày lễ ? Phải chăng, bởi vì Người đã lấy quyền năng cao cả dựng lên các trại tập trung Auschwitz, Birkenau, Buna và biết bao nhà máy giết người khác ? Tôi nói với Người thế nào được: “Chúc tụng Đấng Cao cả hằng có đời đời, Chủ tế vạn vật, đã chọn chúng tôi trong các dân tộc để bị hành hạ, tra tấn ngày đêm, để nhìn cha mẹ, anh em chúng tôi kết liễu cuộc đời trong lò hỏa thiêu. Chúc tụng danh Chúa, Đấng đã chọn chúng tôi để bị cắt cổ trên bàn thờ Chúa ?”

***

.. . ‘Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được cái đêm này, đêm đầu tiên sống trong trại tập trung, cái đêm đã biến đời tôi thành một đêm dài và bị khoá kín bằng bẩy tầng khóa.

Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được làn khói ấy.

Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được gương mặt bé nhỏ của những trẻ em mà tôi đã nhìn thấy xác chúng biến thành những làn khói dưới một bầu trời câm lặng.

Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được những ngọn lửa đã tiêu tán trọn vẹn muôn đời đức tin của tôi.

Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được cái yên lặng trong đêm dài đã làm cho tôi mất hẳn mãi mãi lòng ham muốn.

Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được những giây phút đã giết chết Chúa tôi và hồn tôi và những giấc mơ của tôi để biến chúng thành sa mạc. Chẳng bao giờ tôi quên được điều đó, dù tôi có bị kết án sống lâu như chính Chúa. Chẳng bao giờ!’ (1)

Chúa yên lặng và xa vắng! Sartre đã không ngần ngại gọi Chúa là người xa vắng nhất trong cõi người ta qua tiểu thuyết Le diable et le Bon Dieu của ông. Bonhưffer trong trại giam của Đức Quốc xã cũng đã quằn quại vì sự xa vắng này trong các thư ông viết hồi đó. Ông là mục sư thệ phản, bị bắt ngày 5-4-1943 lúc 37 tuổi, vì thái độ chống đối Quốc xã, và cuối cùng bị Công an xung phong Quốc xã (S.S.) treo cổ ngày 9-4-1945. Bị giam trong tù, nhiều lần ông đã chứng kiến cảnh các bạn đồng hội bị hành quyết. Trong những giờ phút bi thảm đó, ông thấy không thể nói về Chúa và đạo như người ta vẫn thường làm từ trước tới nay. Điều này khiến ông đặt lại một cách mới vấn đề thế gian, Giáo hội và Chúa Ki-tô. Theo ông, con người ngày nay đang đi dần đến chỗ hoàn toàn vô tôn giáo. Họ phớt luôn cả Người trong cuộc sống và coi Người chẳng còn ích lợi gì cho cuộc đời. (2)

Rudolf Bultmann tuy không nói gì về sự yên lặng của Chúa, nhưng ông đã muốn loại trừ mọi vẻ thần thánh nơi Chúa Ki-tô và đặt lại vấn đề phép lạ cũng như những hành vi cử chỉ của Người trong Phúc âm. Ông đã đề cập tới vấn đề này trong một tác phẩm của ông. Theo ông, Chúa Ki-tô chỉ là một người Do thái như bao người Do thái khác hồi đó. Danh tính Người Chúa gửi đến là một huyền thoại do tín hữu Giê-ru-sa-lem tạo nên, rồi lưu truyền từ đời này qua đời khác. (3)

Những điều mới nói trên đây về thế giới hiện đại, cộng thêm ảnh hưởng của các nền văn hóa nhân bản vô thần và thời cuộc, chiến tranh, bạo lực khắp nới, hình như đã làm cho lòng người thêm chai đá, kém tin tưởng và mất cả hy vọng vào những giá trị bền vững do Chúa Cứu Thế giảng dạy. Đạo xem ra cũng mất phần nghĩa lý và không đủ hấp lực đưa con người lại gần Thiên Chúa. Vì thế, Đức Phao-lô VI đã ban bố sắc lệnh Petrum et Paulum ngày 22-2-1967, quyết định đặt năm 1967-1968 là năm Đức Tin, và trong phần nói về lý do của hành động này, ngài đã nhấn mạnh : “Dân Chúa ngày nay phải ý thức lại một cách rõ rệt về đức tin của mình để hồi sinh, thanh luyện, củng cố và tuyên xưng đức tin đó ra trước mặt thiên hạ. Đó là nhu cầu cấp bách hiện thời, vì thế giới hiện đại, trong những phạm vi trần thế, đã thực hiện được những điều lạ lùng, nên tự phụ với ý thức mỗi ngày một lớn về mình, mà lãng quên và chối bỏ Thiên Chúa’. (4)

II- ĐỨC TIN : ĐÒI HỎI CĂN BẢN TRONG ĐỜI TÍN HỮU.

Tin là sáp nhập vào Chúa Ki-tô

Công đồng Va-ti-ca-nô II, khi muốn định nghĩa Ki-tô hữu, đã lấy chính Chúa Ki-tô để làm công việc đó. Điều này thật hiển nhiên vì Ki-tô hữu là người thuộc Chúa Ki-tô, bởi Chúa

Ki-tô mà ra. Vì thế, trong các từ ngữ phương Tây, danh hiệu Ki-tô hữu thường được rút ra từ tiếng Ki-tô, như Christus, christianus (La tinh); Christ, chrétien (Pháp); Christus, der christ, die christen (Đức); Christ, christian (Anh). Bởi vậy, Công đồng viết: “Ki-tô hữu công khai xưng tụng Đức Giê-su là Chúa và Chủ, Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, để tôn vinh Thiên Chúa độc nhất là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần’. (1) Đó là chân lý căn bản, thiết yếu của Ki-tô giáo, trung tâm cốt yếu và sống động của Đức tin. Vả chăng, ngay từ đầu khi đạo Chúa Ki-tô hữu : ‘Chính tại An-ti-ô-khi-a mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Ki-tô hữu”, (Act 11,26) vì họ đã đón nhận Tin Mừng của Chúa Giê-su; họ là những người theo đường lối Chúa Ki-tô Bởi đâu, họ được phân loại như thế, nếu không phải vì họ tin theo Chúa Ki-tô ? Chính niềm tin vào Người đã qui định thành phần cho họ. Đức tin đã ràng buộc chặt chẽ họ vào một ngôi vị sống động là Giê-su Cứu Chúa. Với họ, tin đã trở nên một hành động lựa chọn giữa hai đối tượng : một bên là Chúa Ki-tô, còn một bên là người, vật, chủ nghĩa và bao sức hấp dẫn khác. Tuy nhiên, sự lựa chọn này có tính tự do và ý thức, căn cứ trên sự nhận biết và ưng theo. Vì thế, tin trước hết là một ân huệ Chúa ban, sau là một hành vi cá nhân, độc lập, xây dựng trên việc ý thức và nhận định rõ ràng Đấng mình tin theo. Do đó tin là trở thành môn đồ sống động của Đức Ki-tô, lấy Người làm tiêu chuẩn sống : “Vì đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21), một đời sống quyết liệt, nhất thiết cái gì cũng được qui định bởi đức tin để trở nên người công chính, vì “Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống,” (Rm 1,16), và mặc lấy chính những tâm tình của Chúa Ki-tô. Thành ra, đức tin là một đòi hỏi căn bản trong đời Ki-tô hữu. Có đức tin và sống theo đức tin vào Chúa Ki-tô mới gọi được là tín hữu. Bỏ đức tin ra ngoài, người ta có thể là gì khác mà không phải tín hữu của Chúa. Đây cũng chính là điều kiện cần thiết để được cứu rỗi. Quả vậy, trong cuộc

(1)Les actes du Concile Vatican II, Editions du Cerf, Paris 1966: Décret sur I’oecuménisme trang 218, số 20

đời truyền đạo, Chúa Giê-su hằng luôn luôn tha thiết kêu gọi người ta đặt tin tưởng vào Tin Mừng Người loan báo: ‘Thời kỳ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1,15).

Hối lỗi và tin tưởng là hai điều kiện gắn liền với nhau để được cứu rỗi. Và khi tin, không còn phải sợ: ”Đừng sợ, cứ việc tin”(Mc 5,35-36, Lc 8,49-50), vì người tin làm được mọi sự: “Đối với người tin, mọi việc đều có thể làm được.” (Mc 9,22-23).

Đó là trường hợp của người bất toại : “Này con,cứ yên tâm, tội con đươc tha rồi (Mt 9,2: Mc 2,5: Lc 5,20); người đàn bà tội lỗi (x. Lc 7,30); người mắc bệnh loạn huyết (x.Mt 9,22); người mù mang tên Bạc-ti-mê (x. Mc 10,52; Lc 18,42) người cùi ân nghĩa (x. Lc 17,19). Tất cả đều đã vì tin mà được cứu sống.

Tin là gặp gỡ, tiếp xúc với Thiên Chúa

Tuy nhiên, tin không phải là một thái độ chấp nhận hờ hững, mà chính là một hành động dấn thân, đưa con người tới gặp Thiên Chúa một cách mật thiết mạnh mẽ. Gặp gỡ thân tình là biểu chứng của lòng tin yêu và điều kiện tất yếu để tăng cường đức tin của con người đối với Thiên Chúa. Chính trong sự tiếp xúc với Chúa mà tín hữu thêm hiểu và mến yêu Người. Bởi vậy, thiếu tiếp xúc, gặp gỡ Thiên Chúa, đức tin của ta sẽ mơ hồ cằn cỗi. Sự gặp gỡ dần dà sẽ giúp ta khám phá Chúa mỗi ngày một hơn, để hình ảnh của Người bộc lộ dưới mắt ta với tất cả vẻ trìu mến, hấp dẫn, yêu thương và tiếng nói của Người trở nên ngọt ngào, linh động như vua Đa-vít, người có kinh nghiệm về Chúa đã nói: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy : hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người” (Tv 34,9)

Tuy nhiên, kinh nghiệm này có tính cá nhân, chỉ dành riêng cho những người chịu tìm làm quen với Chúa. Dù vậy, nhiều khi tìm gặp Chúa để gây thứ cảm xúc ngọt ngào êm ái này, người ta vẫn không thấy toại nguyện, vì cũng có khi Chúa như lẩn trốn và không chịu trao đổi cảm xúc này với người chủ tâm đi tìm nó. Đó là lúc Người muốn thử thách những ai tin Người và tước đoạt nơi họ mọi hình thức cảm xúc, để chỉ còn giữ lại niềm tin trong sáng như một điểm son đã được thanh luyện. Đây là niềm tin thanh thoát, bám chặt vào Chúa một cách vô vị lợi. Đó mới đích thực là tin, nghĩa là hoàn toàn xác tín những lời Chúa nói, những việc Chúa làm mà không cần phải thấu cảm thấy gì cả. Tuy nhiên, phải trưởng thành trong đức tin mới có được thái độ này và tập cho quen gỡ mình cho khỏi khuynh hướng tìm kiếm và yêu chuộng những rung cảm giác quan trong sinh hoạt đạo đức, đành rằng những thứ đó cũng góp phần thúc đẩy và tăng thêm lòng sốt sắng. Nhưng, không nên quá bận tâm, lệ thuộc vào chúng đến nỗi chỉ tưởng mình đạo đức, thánh thiện khi được chúng yểm trợ. Phải chăng vì vậy, Chúa mới nói : ”Nhưng giờ đã đến và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thật sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật. Quả thế, Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như vậy”(Ga 4,23-24), trong lần tiếp xúc với thiếu phụ xứ Sa-ma-ri và khi bày tỏ thái độ với những ai yêu cầu Người cho xuất hiện vài điều lạ (x. Lc 11,29)

Đòi hỏi của Đức Tin

Tin như thế thật là đòi hỏi, vì nó bắt ta phải gạn lọc, gan dạ và suy tính đến độ gần như bị bóc lột hết, để chỉ còn giữ lại trong ta cái phần tinh hảo nhất : CHÚA. Rồi đây, biết đâu chẳng xẩy ra trường hợp ta sẽ bị dồn vào những tình thế bị bóc lột như thế.

Tuy nhiên, nói như vậy, không phải là mong cho có trường hợp đó, mà chỉ cốt lưu ý về một tình trạng không may có thể xẩy ra, để ta tìm cách đề phòng và đối phó.

Tin là từ bỏ mình, ký thác vào Chúa

Bị dồn ép, cưỡng đoạt trong đêm tối của gian lao, thử thách, tín hữu không biết cầu cứu ai, ngoài ra CHÚA. Tin vào sức mình ư ? Tốt lắm. Nhưng, dù sao, sức mình cũng có hạn và lắm khi bị não nề, chua chát, con người xem ra cũng hoài nghi chính mình, dù đã cố công tranh đấu. Đó là giờ của nao núng, thất vọng. Mà ai dám tự phụ không bao giờ nao núng, chán nản, thất vọng ? Bởi vậy, cần phải huy động lòng tin nơi Chúa, ký thác và bám chặt vào người như một bức thành kiên cố. Phải chăng như vậy là thoái nhiệm, không còn gì là khí thế hiên ngang của con người tự trọng, biết tự mình trách nhiệm lấy đời mình mà không ỷ lại, bám víu vào một thế lực nào khác, dù là thế lực thần thiêng, siêu việt ? Không. Từ bỏ mình và ký thác vào Chúa là một hành động công nhận giới hạn thụ tạo của mình và chứng tỏ uy thế của Đấng Tối Cao. Đó cũng không phải là ươn hèn, khoán trắng mọi việc cho Chúa như người ta nghĩ, vì giữa tín nhiệm và khoán trắng khác nhau : tín nhiệm là một động tác thân tình, thiện cảm, trọng kính, còn khoán trắng là một hành vi ươn lười, ích kỷ, lợi dụng.

Nhưng tại sao phải từ bỏ mình và ký thác vào Chúa ? Tự nhiên, con người thường có khuynh hướng cao tôn, độc lập đối với Thiên Chúa, do ảnh hưởng di truyền của tội nguyên tổ, thành ra dễ trở nên một chướng ngại ngăn cản đường tiếp xúc với Người. Vì thế, cần dẹp bỏ tính tự phụ, công nhận chủ quyền tuyệt đối của Thiên Chúa và ký thác vận mệnh mình trong tay Người, để xin người đoái thương đến thân phận mong manh của ta mà ra tay cứu độ. Trông nhờ ở một quyền năng tuyệt đối như Thiên Chúa trong những đêm đen dày đặc của hoài nghi, hoang mang, chán nản, lo lắng không phải là một hành vi làm giảm thiểu khí thế con người, mà trái lại còn là một cử chỉ kêu cầu hợp lý, chứng tỏ giới hạn của bản tính con người. Đàng khác, không gì phải xấu hổ khi thấy mình phải tuỳ thuộc ở một Đấng đã ban chính sự sống cho ta như Chúa, giống như con cái tùy thuộc, tín nhiệm và ký thác đời mình cho cha mẹ. Cha mẹ càng quí con, khi thấy nó hiếu nghĩa, đặt hết tín nhiệm và chân thành trông nhờ ở mình. Hơn nữa, Chúa lại coi ký thác như một điều kiện cần có nơi ta để Người can thiệp : “Vậy, anh em đừng lo lắng tự hỏi : ta sẽ ăn gì, uống gì hay mặc gì đây ? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha của anh em ở trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết, hãy tìm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai : ngày mai, cứ để ngày mai lo.” (Mt 6,31-34; Lc 12,29-31)

III- ĐI ĐẠO, TIN ĐẠO VÀ SỐNG ĐẠO

Đi đạo

Nhiều người thường hay lẫn việc đi đạo và tin đạo, đành rằng giữa hai việc đó có nhiều liên hệ, vì có thể có đạo mà không tin đạo và tin mà không có đạo.

Vậy, đạo là gì?

Theo nghĩa thông thường, đạo là một con đường, một tổ chức lễ giáo, một đoàn thể những người cùng tin theo chân lý và tuân giữ điều luật luân lý. Nhiều người đi đạo mà lòng tin kém hay không có lòng tin, vì không có xác tín riêng mà chỉ sống theo những người khác và không cần biết tại sao thế, đạo mình theo ràng buộc mình thế nào, trách nhiệm của mình với đạo ra sao v.v... Đó là những thứ đạo quần chúng, đạo xã hội, đạo giai đoạn, đạo kế hoạch và cũng có thể nói thêm là đạo chính trị nữa.

Tin đạo

Có khi ta sẽ ngạc nhiên khi tìm ra sự khác biệt giữa việc đi đạo và tin đạo. Số là nhiều người đi đạo, nhưng ít người tin đạo. Ta vẫn theo đạo khi đi lễ, đi nhà thờ và chịu các phép bí tích, nhưng ta lại cũng có thể không tin đạo, không tin Chúa, khi cuộc đời của ta phản lại với những điều đạo dạy. Thí dụ ta vừa đọc kinh, dự lễ, làm các việc đạo đức, chịu các phép bí tích một cách rất siêng năng sốt sắng, đồng thời ta lại hoài nghi nhiều chân lý trong đạo, có khi ngay cả Chúa nữa. Đôi khi ta tự bảo mình không biết có Chúa không. Nếu có Chúa, sao ta lại bị khổ cực, khi vẫn sống đạo đức, ăn ngay ở lành v.v... Vì thế, ta đi xem cơ, xem bói hay tìm cách nào đó để có thể đánh đổi lòng tin của ta đối với Chúa, nghĩa là ta tin Chúa thì Chúa cũng phải tỏ ra dấu gì bảo đảm cho công lao vất vả giữ đức tin Chúa của ta, để ta được chắc chắn một cái gì, chứ không phải tin vì Chúa đã phán, vì lời Người không thể sai được, bởi lẽ Người không thể sai lầm, cũng không thể lừa dối ai, vì Người là Đấng trung thành và chân thật (x. I Co 1,9; I Ga 5,6).

Hay là ta chỉ giữ đạo để được yên lương tâm, để được người ta vị nể, chỉ có mặt trong nhà thờ các ngày Chúa nhật, còn lòng trí ta để chỗ khác. Rất nhiều khi ta đã thử thách Chúa, cố kéo Người xuống gần ta, để phục vụ và thoả mãn những nhu cầu và ước muốn riêng, mà quên rằng Chúa là Đấng siêu việt, cao cả ta phải kính thờ và tuân phục. Ta cũng không tin Chúa khi chỉ đọc kinh, xem lễ một cách máy móc, hay chỉ là người tốt khi còn trong ngưỡng cửa nhà thờ, còn lúc trở lại cuộc đời chung sống với những người khác, ta lại gay gắt cay nghiệt, bất công hay cứng cỏi, lãnh đạm. Ta còn không tin Chúa, khi chưa đặt tín nhiệm ở lời Người và lấy lời lẽ, cách phản ứng của người trần gian làm hơn cả Chúa.

Thật mâu thuẫn khi đi đạo mà lại không tin đạo ! Nhưng dù mâu thuẫn, khó hiểu, vấn đề chính vẫn là tin Chúa một cách thành thật, vì đức tin mới cứu nổi chúng ta : “Lòng tin của con đã cứu chữa con.” (Mt 9,22) Biết bao lần Chúa đã nhấn mạnh và đề cao đức tin trong Tin Mừng. Quả vậy, nếu trong Tin Mừng, Chúa đã khen ai thì những người đó lại chính là những người tin. Và Chúa đã chữa lành bệnh tật cho họ, chỉ vì họ đã tin Người (x. Mt 8,13). Lòng tin của họ mạnh mẽ, bất chấp cả khó khăn trở ngại, không hoài nghi, lưỡng lự mà nhất quyết tín nhiệm vào Người (Mt 8,10; Lc 13,28-29) Còn ngược lại, những ai kém lòng tin hay hoài nghi chống đối như các ông Pha-ri-sêu, các kinh sư và tư tế, Chúa lại thường hay nghiêm nghị cảnh cáo (x. Mt 16,11; 23,13-32). Sở dĩ như vậy, vì Chúa rất chú trọng đến tin : “Sự sống đời đời là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa thật, duy nhất và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Giê-su Ki-tô.” (Ga 17,3); “Ai sống và tin vào Thầy thì muôn đời sẽ không phải chết.” (Ga 11,26).

Vậy, tin là gì?

Tin là hoàn toàn xác nhận những điều Chúa nói, những việc Chúa làm là chân thật, dù ta chưa hiểu hết ý nghĩa hay không thấu cảm thấy gì cả. Ngoài ra, tin cũng là công nhận Chúa Ki-tô, con Thiên Chúa đã xuống trần gian để cứu chuộc loài người và đạo Người lập là đạo mạc khải từ Trời ban xuống, dù đạo này bị người đời nhạo báng, khinh thường hay ngược đãi. Chính bản sắc của đạo Chúa Ki-tô là ở chỗ đó.

Quả vậy, Thiên Chúa đã tỏ dự định cứu chuộc cho loài người qua những giai đoạn chuẩn bị trong lịch sử, và khi đến giờ ấn định, Người đã sai Con mình đến để giảng dạy, và cuối cùng lấy cái chết và sự sống lại của chính Con mình để minh chứng tình thương của Người làm bảo chứng hạnh phúc muôn đời cho chúng ta.

Vì thế, thánh Phao-lô định nghĩa : “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy.” (Dt 11,1) Và Công đồng Va-ti-ca-nô I cũng định nghĩa Đức Tin la : “Nhân đức siêu nhiên, nhờ đó, được ơn Chúa thúc đẩy và nâng đỡ, ta tin những điều Người mạc khải là chân thật, không phải vì chân lý nội tại của sự việc mà ánh sáng tự nhiên của lý trí thấu đáo nổi, nhưng vì uy quyền của chính Chúa mạc khải, vì Người là Đấng không thể bị lừa, cũng không thể đánh lừa”.

Sống đạo

Cho nên, tin là bám chặt vào Chúa, khi thịnh sự cũng như lúc gian nan, khi bình yên cũng như lúc khốn khó. Đó là những cơn cám dỗ nổi loạn của con người trước cái chết không đáng của trẻ con vô tội, trước sự dữ, đau khổ và những bất công tàn nhẫn chồng chất trong xã hội.

Nhưng không phải chỉ chúng ta mới bị thử thách và khiêu khích. Chính Chúa Giê-sucũng đã bị khiêu khích và thử thách như vậy, khi một tên tử tội cùng bị kết án nói với Người : ‘Nếu phải Con Đức Chúa Trời, sao không cứu mình và cứu ta nữa? Sao không xuống khỏi thập giá đi ?’ (x. Mt 27,39-43). Nếu ở địa vị Người, chắc chúng ta đã nổi máu anh hùng, dạy cho bọn chúng một bài học nên thân, và để tác oai, chúng ta đã cứu hai tên côn đồ và xuống khỏi thập tự giá cho tụi chúng biết tay. Nhưng ở nơi Chúa, ta lại chỉ thấy có thản nhiên và yên lặng, cái yên lặng và thản nhiên xem ra như tố cáo sự nhu nhược và bất lực của Người. Cho hay tư tưởng ta và tư tưởng của Chúa khác nhau biết mấy!

Rồi đây, có thể người ta sẽ công kích chúng ta như kẻ ngạo mạn đã mỉa mai người công chính : “Chúa các người ở đâu ?” Ngày nay, nhiều phim ảnh và tiểu thuyết như Le silence, Le Christ interdit, La peste, La chute v.v... vẫn còn là những thách đố và dấu hỏi của người ngoài cuộc bày ra cho chúng ta, bắt ta suy nghĩ và đặt lại một cách nghiêm chỉnh vấn đề Đức Tin trong đời.

Tuy nhiên, đạo của chúng ta không sợ sức người tấn công, vì có sức tấn công nào phá nổi như Chúa nói : “Còn Thầy, Thầy bảo anh : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy và quyền lực âm phủ sẽ không thắng nổi.” (Mt. 16,18) Có sợ chăng là sợ chính chúng ta kém lòng tin, dễ hoảng hốt và đầu hàng trước nghịch cảnh và quên rằng sức mạnh của ta là ở nơi Chúa như Người đã chứng tỏ trong lịch sử Do-thái xưa kia, và ngày nay trong đời sống Hội thánh.

Tại sao ta lại đáng sợ ? Xưa nay sợ người chứ ai sợ mình đâu? Ta đáng sợ, vì do sự kém lòng tin và không thực hành đức tin trong đời, ta sẽ làm cho đạo Chúa biến chất, làm cho người ngoài cuộc lánh xa Hội thánh và tưởng rằng đạo ta cũng chỉ là một thứ đạo như trăm nghìn đạo khác, mà quên rằng đạo ta là Đạo Trời, không do người đời sáng lập, mà do chính Chúa Giê-su, với bản sắc cốt yếu là thắng vượt tội lỗi và sự chết trong mầu nhiệm cái chết và sự sống lại của Chúa Cứu thế. Bởi vậy, sống đạo là sống mầu nhiệm cái chết và sự sống lại đó trong đời sống hàng ngày, bằng cách kết hiệp với Chúa và sống với Người một cách hiện thực như xưa Người ở với các Tông đồ. Đức tin thiết thực và sâu xa phải là một đức tin hiện tại. Những việc Chúa làm, những điều Chúa nói và lòng Chúa thương yêu không phải là dĩ vãng, đã diễn ra một lần trong lịch sử với dân Do thái hay với các Tông đồ, mà còn diễn ra hàng ngày nơi mỗi người chúng ta, bằng ơn thánh vô hình qua những lần cử hành bí tích và sinh hoạt trong chu kỳ phụng vụ. Đức tin, nếu được nuôi dưỡng và vun trồng bằng lời cầu nguyện và sự ân cần tiếp xúc với lời Chúa trong Kinh thánh và đem ra thực hành trong đời sống hàng ngày, sẽ trở thành một sức mạnh đưa cuộc đời chúng ta lên cao và phát huy tia sáng của Chúa ra cho những người chung quanh.

Kết luận

Từ ngộ nhận, thiên kiến đến xác tin về tin là cả một độ đường dài tín hữu phải trải qua nhất là giữa một thời đại đang bày ra trước mắt ta nhiều đảo lộn và thách thức. Đã đến lúc tín hữu phải đương đầu với nhiều khó khăn để đào sâu và giữ vững niềm tin vào Chúa, vì tin đối với nhiều người mỗi ngày một khó, bởi lẽ sự đời đã thay đổi nhiều và lòng người cũng không còn dễ nhậy cảm trước những vấn đề siêu nhiên, thiêng thánh. Thêm vào đấy, đối với phần đông những người quá đói nghèo đói hay quá giầu có, Chúa như bị đặt ra bên lề cuộc đời họ.

Nhưng dù muốn dù không, đức tin vẫn cần. Nếu không có lòng tin, cuộc đời sẽ trống rỗng, một sự trống rỗng khác thường mà tiền tài danh lợi, thú vui vật chất không tài nào lấp nổi. Phải chăng vì vậy, mới có hiện tượng chán chường của lớp người đầy đủ vật chất bên Âu Mỹ, qua những nhân vật điển hình rải rác trong các phim ảnh và tiểu thuyết hay lối sống buông thả của một số lớn thanh niên thiếu nữ trong các nước của họ ?

(1) Elie Wiesel, La nuit, Edit de Minuit, Paris 1958, trg. 60, 103-105: Tác giả là người Do thái sống sót sau vụ thảm sát của Đức Quốc xã. Đây là hồi ký thuật lại cái đêm dài ông đã sống trong trại tập trung, lúc mới 15 tuổi.

(2) Tư tưởng của ông không giản dị như thế. Muốn rõ, xin mời đọc các thư của ông đã được dịch sang tiếng Pháp và in thành sách dưới nhan đề: Résistance et soumission, Edit. Labor et Fides Genève 1963

(3) Rudolf Bultmann: Jésus, mythologie et démythologisation, Editions du Seuil, Paris 1968

Đức Cha Jean-Julien Weber, cựu Tổng Giám mục Strasbourg đã phân tích và phê bình cuốn này trong La Croix số 25.919, ngày thứ năm 21-3-1968: Rudolf Bultmann: Jésus devant I’histoire, và nhắn nhủ độc giả phải đề cao cảnh giác đừng để cho mình bị mê hoặc bởi lập luận này, vì quan điểm của Bultmann thật ngược hẳn với niềm tin của Hội thánh, phản trái với sứ điệp Tin Mừng của Tân Ướcvà đảo lộn lời giảng của thánh Phao-lô. Lập trường của ông khiến tín hữu hoang mang.

(4 )Documentation catholique bộ LXIV, 1967, cột 485

Tác giả: Đỗ Xuân Quế, Lm.
   dunglac@gmail.com