Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Hoàng Đình Hiếu
Bài Viết Của
Hoàng Đình Hiếu
Ba mươi năm lịch sử người Công giáo giáo phận Vinh dưới ngòi bút của linh mục Trương Bá Cần
Ai nỡ nhằm chỗ eo mà thắt !
VỀ MỘT TRƯỜNG HỢP TIẾP CẬN VĂN HÓA TRƯỚC NĂM 1975

Lời nói đầu: Đây là sự thật về một trường hợp tiếp cận văn hóa xảy ra trước năm 1975. Vấn đề nay xét ra không thuộc về cá nhân. Vấn đề đã thuộc về lịch sử. Nhưng cá nhân có liên quan đã ứng xử thế nào trong tình huống sự kiện xảy ra và cả những thông tin và tiếp nhận sau đó là một điều nên ghi nhận. Tài liệu trưng dẫn sẽ làm chứng về thái độ và trách niệm của người trong cuộc. HĐH.

 

1. Một tình cờ trong công vụ:

Theo lệnh động viên sau Tết Mậu Thân năm 1968, tôi nhập học khóa l/68 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, mãn khóa được điều động về Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Quảng Đà, đồn trú tại thành phố Đà Nẵng, do Đại Tá Nguyễn Văn Thiện làm tư lệnh. Lúc đầu tôi phụ tá cho Đại úy K. ở Ban Tâm lý chiến. 

Thời gian trôi đi rất nhanh trong cảnh chiến tranh về sát ven đô thị. Đầu năm 1971, đang khi biết mình sắp nhận lệnh biệt phái để trở về trường cũ là Trung học Đông Giang ở Quận 3 Đà Nẵng thì tình hình chiến sự bổng trở nên sôi động. Các cuộc họp tham mưu tại Bộ Tư lệnh Biệt khu mang không khí nghiêm trọng, và vì chưa cầm được lệnh biệt phái trong tay nên lòng tôi cũng thấy hoang mang.

Các cuộc hành quân phối hợp trong năm 1970 mang tên Vũ Ninh 1, Vũ Ninh 2 đã thu đạt được một số chiến thắng giới hạn, nhưng không ổn định được mặt an ninh trong tỉnh Quảng Nam. Cuộc hành quân Vũ Ninh 3 bắt đầu cuối tháng Tư 1971, mang tính phối hợp rộng rãi do phải trải rộng địa bàn hành quân từ Điện Bàn lên Duy Xuyên. 

Tôi nhớ hôm đó, Thiếu Tá M.,Trưởng Ban 3 Bộ Tư lệnh Biệt khu Quảng Đà gọi các trưởng ban lên gặp ông tại phòng Đại Tá Tư lệnh. Tôi cảm thấy có điều chi hơi khác thường. Sau khi nhận chỉ thị trực tiếp của Đại tá tư lệnh, chúng tôi được Thiếu tá Trưởng ban 3 cho biết, đúng 11g trưa các sĩ quan tháp tùng phải sẵn sàng trong tư thế tác chiến. Về phòng, tôi chuẩn bị quân phục và vũ khí. 

Khoảng 20phút sau khi cất cánh từ phi trường Đà Nẵng, chiếc trực thăng quân sự đáp xuống bên cạnh Bộ chỉ huy hành quân đóng gần làng Phong Thử, không xa quốc lộ 1 trên đường đi quận lỵ Điện Bàn về phía Nam.  Đại tá Tư lệnh Biệt khu Quảng Đà, bên cạnh có Thiếu tá Trưởng ban 3, được một sĩ quan thuộc Bộ chỉ huy hành quân hướng dẫn vào ngay phòng họp. Đại bác nổ và tiếng máy bay yểm trợ gầm rú nghe rất gần. Sĩ quan thuyết trình cuộc hành quân Vũ Ninh 3, vắn tắt cho biết những mũi tiến công, những tuyến phòng ngự đang bị áp lực và báo cáo tình hình chiến sự nơi các đơn vị bạn phối hợp đang hoạt động.

Trước khi trở lại trực thăng để đi thị sát trận địa, thiếu tá Trưởng ban 3 nhận từ tay trung úy V. một gói giấy khá dày. Biết là chiến lợi phẩm thuộc về báo chí, thư từ hay sách vở gì đó nên sẵn có tôi đứng gần đó, ông liền trao cái gói ấy cho tôi. Tôi đến chào và thân mật bắt tay trung úy V. , bởi vì chúng tôi đã có dịp gặp nhau vài lần ở Bộ chỉ huy Tiểu khu Quang Nam. Sau khi hàn huyên vài câu ngắn ngủi, V. cho tôi biết cái gói tôi đang cầm là cuốn nhật ký của một cán binh tuyên vận mới lấy được từ một căn hầm bí mật   

Khi về lại Bộ tư lệnh, tôi có trình lên Đại Tá, nhưng ông chỉ cầm lên, lật giở và xem vài trang rồi trả lại cho tôi với khẩu lệnh: “Trung úy giữ lấy mà đọc để biết phía bên kia họ viết cái gì”! Chẳng may Đại tá Tư lệnh Biệt Khu Quảng Đà Nguyễn Văn Thiện sau đó đã bị tử nạn máy bay trên một chuyến về Sài Gòn!

Người kế nhiệm là Đại tá Nguyễn Ngọc Khôi, ông nhậm chức thị trưởng Đà Nẵng kiêm tư lệnh Biệt khu Quảng Đà.

Phần tôi, từ giả đời lính, nhanh và đơn giản như cuộc bàn giao chức vụ Trưởng Ban giữa tôi và trung úy B. tại Bộ Tư lệnh Biệt khu Quảng Đà cuối mùa hè 1971.

Niên khóa 1971-1972 tôi đã có mặt ở trường Nữ Trung Học Hồng Đức, Đà Nẵng, sẵn sàng trong tư cách là một giáo chức biệt phái. Thế là sau thời gian quân ngũ ngắn ngủi, ngoài cái giấy chứng nhận được trở về dạy học, tôi còn có cuốn nhật ký Chu Cẩm Phong. Cho dù ngẩu nhiên hay do duyên mệnh văn hóa, đối với tôi, anh Chu Cẩm Phong và cuốn nhật ký chiến tranh của anh đã cho tôi một cơ hội tiếp cận rất đặc biệt.  

 

2. Bắt đầu từ một bài báo:

 “Đi tìm người cất giữ Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong”của Đặng Ngọc Khoa trên báo Thanh Niên Online, Việt Nam, ngày 20 tháng 9, 2005.

 Xin trích nguyên văn toàn bài: “Không chỉ cất giữ trong 4 năm trời mà ông còn vẽ bìa mới với lòng đồng cảm và nhiều lần công khai đọc nhật ký Chu Cẩm Phong ngay trong lòng Đà Nẵng suốt những năm đất nước chưa thống nhất. Ông là ai? Giờ nầy ông đang ở đâu?

Giữa lúc bạn đọc cả nước đang chú ý đến hai cuốn nhật ký của Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm, chúng tôi lại liên tưởng đến số phận kỳ lạ và đầy xúc động trong cuốn nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong (NXB Văn Học, Hà Nội ấn hành cách đây 5 năm). Cuốn nhật ký dày đến 600 trang, được viết từ ngày 11-7-1967 đến 27-4-1971 và 3 ngày sau đó, tác gỉa của nó, tức nhà văn Chu Cẩm Phong hy sinh trong một trận càn”.

“Nhà thơ Bùi Minh Quốc, một trong những người tiếp nhận cuốn nhật ký trong năm 1975 và cũng là người đưa bản thảo đến NXB Văn học in vào năm 2000, nhớ lại:” Tôi đón lấy cái gói hình chữ nhật được bọc cẩn thận từ tay người khách lạ, hồi hộp mở ra và không dám tin ở mắt mình. Trước mắt tôi là một cuốn sổ với nét chữ quen thuộc của Chu Cẩm Phong. Đây chính là cuốn sổ bằng giấy pơ-luya, Chu Cẩm Phong tự tay đóng lấy để dùng ghi nhật ký mà chúng tôi đinh ninh đã bị mất vĩnh viển khi anh hy sinh ngày 1 tháng 5 năm 1971 dưới căn hầm bí mật gần bờ sông Thu Bồn ở thôn Vĩnh Cường, xã Xuyên Phú (nay là xã Duy Tân), huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam”.

“Còn theo nhà văn Nguyên Ngọc:” Sau năm 1975, chúng tôi về Đà Nẵng đóng ở nhà số 10 Lý Tự Trọng. Một hôm có người đến và mang theo một tập giấy đóng bìa rất đẹp. Người đó nói, tôi là một người lính của quân đội Sàigòn. Khi có một chiến sĩ quân giải phóng hy sinh, tôi lấy được cuốn nhật ký. Về nhà đọc, tôi thấy tâm hồn người lính đẹp qúa. Từ đó tôi không làm được gì khác ngoài việc giữ lại tập giấy ấy”. Nhà văn nhận định: “Đó là một việc làm rất nguy hiểm đối với anh ta hồi đó”. Và cho biết thêm: “Khi tôi hỏi tên, anh ta nhất định không nói”.

Nữ họa sĩ Tôn Nữ Thơ Thơ, cựu học sinh Nữ Trung Học Hồng Đức Đà Nẵng nhớ lại: “ Khi nhật ký Chu Cẩm Phong chưa được in ra, tôi đã kể chuyện về nó với khá nhiều người ở NXB Đà Nẵng là nơi tôi công tác sau ngày giải phóng. Vì sao? Vì tôi và nhóm học sinh lớp 9 (niên khóa 1973-1974) lúc đó như Kim Loan (hiện sống ở Mỹ), Ngọc Liên hiện sống ở Úc), Bích Hoài (nay là ca sĩ tại Đà Nẵng)…nhớ mãi những lời bình luận rất ấn tượng của thầy Hoàng Đình Hiếu về cuốn nhật ký được phát hiện dưới một căn hầm bí mật khi thầy còn là sĩ quan biệt phái (của chế độ cũ), sau về dạy sử tại tại trường Nữ Trung Học Hồng Đức. Khi thầy đưa cuốn nhật ký ra giữa lớp, cả lớp thấy có một vết đạn hoặc bom chém sâu vào gáy nhưng không làm nó đứt rời. Vậy rồi thầy đọc từng trang kèm lời bình đầy thán phục về hào khí của một người Việt cọng toát ra trong nhật ký, mà theo thầy có văn phong càng đọc thấy càng hay.” Chị còn cho biết thêm, khi lên lớp 10 (niên khóa 1974-1975), lớp của chị vẫn được nghe thầy Hiếu tiếp tục đọc nhật ký Chu Cẩm Phong, và một số lớp khác cũng được nghe như vậy một thời gian khá lâu sau ngày giải phóng 29-3-1975 cho đến khi thầy nghỉ dạy…”

 

  “Qua tìm hiểu, chúng tôi có được email của một cựu giáo sư dạy sử là bạn thân thầy Hoàng Đình Hiếu, cũng đang định cư tại Mỹ, nhưng mọi liên lạc chưa thành. Sau khi liên lạc với một cựu nữ sinh trường Hồng Đức đang sinh sống tại California, chúng tôi có một ít thông tin về ông. Theo đó, ông Hoàng Đình Hiếu từng dạy tại trường Nữ Trung Học Hồng Đức trong 7 năm, hiện cả gia đình đang sống tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Ông tỏ ra ngạc nhiên và thú vị khi được biết cuốn nhật ký năm xưa của Chu Cẩm Phong đã được in thành sách tại Việt Nam. Chúng tôi đã liên lạc qua thư điện tử. Và chiều 19 tháng 9, thật bất ngờ, người cựu sĩ quan, thầy giáo Hoàng Đình Hiếu đã có thư trả lời chúng tôi và xác nhận, lúc ấy ông đã theo chân cuộc hành quân với tư cách một phóng viên và nhận lại cuốn nhật ký từ tay người bạn sĩ quan tác chiến…”

 “Trích đăng thư của ông Hoàng Đình Hiếu: “…Đối với tôi, câu chuyện cuốn nhật ký của Chu Cẩm Phong đã chìm sâu vào dĩ vảng, nếu không có em (tức NNK) báo tin là đã được in ra, phổ biến và được dư luận khắp nơi yêu mến. Ký ức tôi còn ghi nhận là một giai đoạn chiến tranh ác liệt xảy ra trên quê hương Quảng Nam-Đà Nẵng, mà chiến sĩ Chu Cẩm Phong và tôi, cùng bạn bè đồng trang lứa của cả hai, không vì thù oán mà bị trói chặt vào cuộc chiến, phải một mất một còn. Tôi thật sự tiếc thương sự hy sinh của chiến sĩ Chu Cẩm Phong khi nhận được cuốn nhật ký như một chiến lợi phẩm!

Điều em biết về tôi chỉ là một khái niệm. Chỉ những ai chứng kiến cảnh đau lòng mới thấy chiến tranh thật sự là nghiệt ngã, vô lý và tàn nhẫn. Cũng may cho tôi, không phải là lính tác chiến ngoài mặt trận. Tại Bộ Tư Lệnh Biệt khu Quảng Đà ở Đà Nẵng, tôi theo các cuộc hành quân Vũ Ninh 1,2,3 như một phóng viên, trước khi được biệt phái về dạy tại trường Nữ Trung Học Hồng Đức, Đà Nẵng. Bạn tôi đã trao cho tôi cuốn nhật ký vô gía nầy, khi tôi chỉ có mặt ở Bộ chỉ huy hành quân một thời gian ngắn ngủi. Bạn trao nhật ký cho tôi không một lời giải thích và nay anh cũng đã ra người thiên cổ. Phải nói là Chu Cẩm Phong là người sống sót duy nhất và làm chứng cho mình hơn bất cứ ai hết…Đừng băn khoăn về tôi nhiều. Tôi chỉ làm một việc nhỏ, vì xét thấy cần thiết phải bảo quản một tài liệu sống của thế hệ chúng tôi. Việc biểu dương xứng đáng xin dành cho chiến sĩ Chu Cẩm Phong. Điều tôi hằng trân trọng là sự chân thật của tấm lòng. Oái oăm thay tôi đã học được từ tấm lòng chân thành của Chu Cẩm Phong. Phải chăng, trong một hoàn cảnh nào đó, chiến tranh đem chúng tôi đến gần nhau hơn!”. ( PV Báo Thanh Niên,  Đặng Ngọc Khoa).

 

3. Những ghi nhận khởi đầu:

a. Đọc Nhật ký chiến tranh:

“Một tác phẩm văn học kỳ lạ “.   Bài viết của Thanh Thảo đăng trên báo Thanh Niên, Việt Nam ngày 27-4-2005. Xin trích nguyên văn 2 đoạn:

”Nhà xuất bản Đà Nẵng vừa cho ra mắt Chu Cẩm Phong tuyển tập dày hơn 800 trang, trong đó, phần quan trọng nhất, phần nhật ký chiến tranh chiếm hơn 600 trang.

“Tập nhật ký bắt đầu ghi từ ngày 11-7-1967 với câu: “Ở đây đã gần đồng bằng - nói đúng ra là gần trung châu - tiếng đại bác dưới Tư Nghĩa, Sơn Tịnh vọng đến ì ầm…”và kết thúc ở ngày 27-4-1971. với câu:”10 giờ, 2 chiếc phản lực đến thả bom và băn đạn 20 ly, sau đó quân bộ kéo sang…”

Từ một địa hình gần bờ sông Thu Bồn thuộc huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, nhà văn Chu Cẩm Phong đã xếp lại cuốn nhật ký đang ghi dang dở và cầm súng chuẩn bị chiến đấu. Cuốn nhật ký đã vĩnh viển dừng ở dòng chữ ấy”.

Ba ngày sau, Chu Cẩm Phong hy sinh khi bị địch khui hầm. Anh và đồng đội đã chống trả quyết liệt đến viên đạn cuối cùng và quyển nhật ký vẫn lặng lẽ trong ba lô. Quyển nhật ký lẽ ra đã bị vĩnh viển chôn vùi trong đất, trong im lặng, nếu không có hai sĩ quan của phía quân đội Sài Gòn. Một sĩ quan tác chiến đã lấy nó từ bên thi hài Chu Cẩm Phong, còn một sĩ quan thuộc Phòng Chiến tranh chính trị Sư Đoàn 3 đã nâng niu cất giữ nó đúng trong 4 năm trời, để rồi ngày giải phóng Đằ Nẵng cuốn nhật ký được người cựu sĩ quan ấy trân trọng trao tận tay một đồng đội văn nghệ của nhà văn Chu Cẩm Phong”[ tác giả in đậm và gạch dưới, HĐH] .

“Có rất nhiều những cuốn nhật ký được viết trong chiến tranh bởi những người lính, những người tham chiến từ cả hai phía. Nhưng có lẽ không cuốn nhật ký nào có số phận kỳ lạ như cuốn nhật ký của Chu Cẩm Phong: những người đầu tiên được đọc cuốn nhật ký ấy lại là những người lính của ”phía bên kia”, và cũng chính họ là những người đã cất giữ, đã bảo vệ nó cho đến ngày hòa bình. Người sĩ quan chính chính trị Sư Đoàn 3 quân đội Sài Gòn thậm chí còn bao bìa mới cho cuốn sổ và vẽ lên bìa hình một cái cây mọc thẳng dưới mặt trời”[tác giả in đậm và gạch dưới, HĐH].

“…Tôi đọc nhật ký chiến tranh là để được một lần nữa trở lại với nhân dân mình ở một thời đau đớn nhất song cũng nhiều xúc cảm nhất. Từng dòng chữ trong cuốn nhật ký cứ ảm ảnh, day dứt tôi, và hẳn không chỉ mình tôi hay những đồng đội của anh. Hai sĩ quan quân đội Sài Gòn, những người bị cuốn nhật ký ấy thuyết phục, cuốn hút hẳn cũng đã day dứt như tôi khi đọc nó. Bây giờ, hai anh ở đâu, những người lính ở “phía bên kia”nhưng không hề sát hại lương tâm mình, những người đã bảo vệ cho văn học VN thời chiến tranh một tác phẩm vô gía”[ tác giả in đậm và gạch dưới HĐH].

Điều đó thoạt nghe hơi kỳ lạ, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy có gì tất định. Người VN dù nhất thời ở đâu, vẫn có thể tìm đến, vẫn có thể gặp nhau ở văn học, ở việc đọc một tác phẩm đích thực văn học”. (Hà Nội, trong những ngày Đại Hội Nhà văn VN lần thứ Vll, Thanh Thảo, Báo Thanh Niên).

 

b. Thư của phóng viên báo Thanh Niên, đề ngày 18-9-2005:

Xin trích nguyên văn: “Kính thưa Thầy, Em không biết diễn tả thế nào về cảm xúc của em khi biết được địa chỉ email của Thầy do chị em ở Cali cho, sau khi đã liên lạc với Thầy. Cách xa nửa vòng trái đất mà vẫn tìm ra, làm sao em không sung sướng được? Đặc biệt đối với em, cựu hoc sinh PCT [Phan Chu Trinh], hiện là phóng viên báo Thanh Niên, rất muốn viết về lòng dũng cảm của Thầy khi trước 1975 Thầy đã cất giữ nhật ký Chu Cẩm Phong “.

“Thơ Thơ, một trong những học trò cũ của Thầy, nhớ mãi những chuyện ấy và say mê kể cho em nghe. Từ đó em cất công đi tìm Thầy. Em đã gửi đi rất nhiều email tìm kiếm, lại ra biển Thanh Bình, chỗ nhà cũ của Thầy, rồi gặp những thầy cô cũ có biết Thầy…nhưng rồi không có tin tức mới. Thật may, khi vào mạng lần thứ 5, tại danh sách đồng hương tỉnh Trà Vinh, em đọc thấy dòng họ tên giống y tên Thầy. Em liên tưởng tới đoạn Thầy tả về con cá Mè Dinh trong ‘Tiếng trống Đằng Văn”, nghĩ thầy có quan hệ với tỉnh Trà Vinh(bên vợ), rồi đọc “Nỗi ám ảnh lịch sử”em lại chắc chắn quê Thầy ở Quảng Bình khi hỏi lại Thơ Thơ. Và giờ đây em đã gặp Thầy!”

“Kính thưa Thầy, những ngày này ở VN, mọi người lên cơn sốt về những cuốn nhật ký chiến tranh và ai cũng muốn biết về những người bên kia chiến tuyến đã cất giữ chúng như thế nào. Họ nhắc tên Thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu, Fred và cả tên Thầy với đầy lòng trân trọng. Tuy nhiên với em, Thầy mới là người dũng cảm nhất. Bởi không chỉ cất giữ mà Thầy còn mang nó ra đọc cho học sinh nghe, nghe một cách say mê, đầy ấn tượng qua lời bình giảng của Thầy”

“…Mới đây ông Trần Đức Lương, Chủ tịch nước đã nhắc tên Thầy và tên anh Trung Hiếu. Ông nói: “Không chỉ cảm ơn mà tôi đề nghị cần có hình thức biểu dương xứng đáng”. Em nghĩ khi lưu giữ cuốn nhật ký, Thầy không mong điều đó nhưng rõ là việc Thầy đã làm là bài học lớn về lòng tử tế, sự hướng thượng của con người…”

 

4. Minh bạch một trường hợp tiếp cận:

A. Qua một bài báo khác: ”Bắt tay qua mỗi trang đời” của PV Đặng Ngọc Khoa đăng trên báo Người lao động, Việt Nam, thứ tư, 01-02-2006. Xin trích nguyên văn:” Từ những năm trước 1975, ông Hiếu có cơ duyên được cầm tay một nhà văn phía bên kia dưới dạng ngôn ngữ viết. Còn tôi bây giờ có cơ duyên được hầu chuyện ông qua những e-mail cách hàng vạn dặm. Ông ở Texas (Mỹ), tôi ở Đà Nẵng(Việt Nam). Internet đã làm nên điều kỳ diệu”.

“Sau lá thư thứ nhất, tôi thường xuyên e-mail với ông Hoàng Đình Hiếu. Tôi gọi ông là thầy với đầy lòng kính trọng. Trên Internet, tôi đọc được vài bài viết của ông với văn phong giàu suy tưởng. Tôi xin phép trích đăng nhưng ông im lặng. Có lẽ, cuộc ngược về 30 năm đang làm ông suy ngẫm…”

“Đến một hôm, bài tôi viết có liên quan đến ông được đưa lên mạng, ông e-mail tiếp:” Em đã mạnh dạn nói về cơ duyên về một tác phẩm văn học được tồn tại trong khói lửa, không phải chỉ ngoài trận địa mà cả trong hoàn cảnh Chu Cẩm Phong được bảo mật trong thành phố Đà Nẵng đầu thập niên 70. Em cho tôi là dũng cảm. Sự thật, chiến sĩ Chu Cẩm Phong mới xứng đáng nhận lấy thuộc từ ấy. Gíá như nhật ký Chu Cẩm Phong không mang tính thời đại, không chứa đựng nét tiêu biểu cho một thế hệ thanh niên, thì sự mất đi hay tồn tại cũng không tác động nhiều lắm. Em nên nhớ, phải 20 năm sau, người ta mới nhận ra Chu Cẩm Phong…”

“Tôi bâng khuâng đọc thư ông và gửi ngay câu hỏi sang Texas. Hóa ra sau thời gian ngắn được lưu dụng dạy học, tiếp tục đọc nhật ký Chu Cẩm Phong trước học sinh như đã từng làm trước 1975, như mọi sĩ quan khác dưới chế độ cũ, ông bị tập trung cải tạo, đếm 1,942 ngày đêm ở “một chỗ không ai hay” được tính từ 16-6-1975 đến 20-10-1980. Tuy nhiên điều đó không làm ông qúa nặng lòng:

”Tôi không oán hận. Đi chung một chuyến tàu, tàu trật đường ray thì mình chung tai nạn, có thế thôi! Những gì đã trải qua, bây giờ chỉ là kỷ niệm. Người Mỹ có hội chứng Việt Nam? Cái đó là của người Mỹ!. Giữa người Việt nói chung, chẳng có một hình thái mặc cảm ghê gớm nào. Đối với Chu Cẩm Phong, chúng ta chứng kiến một sự thật, xúc động trước một hy sinh, ám ảnh trước một nghiệt ngã của số phận. Tôi có cái may mắn chia sẻ với đồng đội Chu Cẩm Phong tình cảm con người, biết rõ hoàn cảnh tại sao anh phải nằm xuống khi đang mang hoài bảo của người thanh niên trước thời cuộc(…)Tôi bắt tay với Chu Cẩm Phong qua từng trang tường thuật về cuộc đời, về con người, đơn giản, gần gủi, chân thật mà ít ai quan tâm”.

‘’Tôi lặng đi trước những e-mail trầm tĩnh như núi sau cơn mưa. Tự đáy lòng, tôi nghĩ ông là người thầy vạn dặm của riêng mình”.  Đặng Ngọc Khoa “.

 

B. Những phản ứng liên hệ và thư phúc đáp:

a.Thư em Tăng Nhường, học sinh cũ Trường Trung học Đông Giang gữi Phóng viên Đặng Ngọc Khoa, đề ngày 26-9-2005: “Chào Anh Khoa, Tôi tên Tăng Nhường là một trong những học trò cũ của Thầy Hoàng Đình Hiếu, tại trường Đông Giang, Quận 3, Đà Nẵng. Thầy dạy văn rất hay. Nhiều bài bình văn học, bình thơ thầy chỉ đi lên đi xuống đọc cho tụi Nhường chép mà cho đến giờ mỗi lần anh em bạn học cũ, có người nay là giáo viên trung học, giáo viên đại học gặp lại đều nhắc đến thầy với sự kính nể.

Qua bài báo TN ngày 21-9-2005 của anh Đặng Ngọc Khoa về thầy Hoàng Đình Hiếu, người đã từng gìn giữ cuốn nhật ký của nhà văn Chu Cẩm Phong trong những năm chiến tranh, chúng tôi càng trân trọng kính phục thầy. Tôi đã nhắn tin cho đa số bạn học cũ…tìm đọc và biết tin tức về thầy mà anh em học sinh chúng tôi cứ ngỡ là thầy đã chết!”

“Ngoài môn dạy văn hấp dẫn mà thầy đã giúp chúng tôi thuộc hầu hết những bài thơ tiền chiến, thầy còn tổ chức phong trào bóng đá của lớp, của trường. Thầy đưa chúng tôi đi đấu giao hữu với học sinh trường Tiểu chủng viện, trường Kỷ thuật Cao Thắng (nay là Nguyễn Văn Trổi). Khi chúng tôi chuyển sang trường Phan Chu Trinh thì thầy Hiếu về dạy trường Nữ Trung học Hồng Đức. Nếu có điều kiện anh Khoa cho chúng tôi địa chỉ của thầy để chúng tôi có một cơ hội cảm ơn Thầy đã dạy chúng tôi không những về văn hóa mà thầy cũng dạy chúng tôi về nhân cách sống mà thầy đã thể hiện qua việc gìn giữ nhật ký nhà văn Chu Cẩm Phong. Cảm ơn anh Khoa đã có bài báo và giúp chúng tôi biết tin về thầy kính mến của mình. Trân trọng kính chào. Tăng Nhường”.

b.Thư mời của Bà Trần Thị Bích Mai, Giám Đốc Công ty Ánh Mai: Tp HCM, ngày 26 tháng 10 năm 2005, “Kính chào anh Hoàng Đình Hiếu!

Trước hết kính chúc anh và gia đình hạnh phúc và vạn sự như ý. Thông qua những mối quan hệ với các anh Bùi Minh Quốc, nhà báo Đặng Ngọc Khoa (báo Thanh Niên)…em được biết anh là người đã trao cuốn nhật ký của anh Chu Cẩm Phong cho nhà văn Bùi Minh Quốc, cho đến nay cuốn nhật ký mà anh trao đã ít nhiều tạo sự quan tâm với thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay, cũng như những ai có lòng với quê hương, đất nước. Thông qua những cốt truyện, những nhân vật trong cuốn nhật ký…Công ty tổ chức sự kiện Ánh Mai cũng mong đón nhận sự quan tâm của anh, chính thức mời anh về Việt Nam để gặp gỡ và giao lưu với các bạn trẻ”.

“Nếu được anh nhận lời mời, đây là vinh dự của Ánh Mai. Xin anh hồi âm cho công ty Ánh Mai trong thời gian sớm nhất để tiện sắp xếp chương trình. Kính chào trân trọng, TRẦN THỊ BÍCH MAI”.

 

c.Điện thư của Giáo sư Phan Thị Phi Phi, Trường Đại học Y Hà Nội.

 Thư đề ngày 03-12-2005. Xin đăng nguyên văn:”Kính thưa Ông Hoàng Đình Hiếu, Kính thưa Ông, Bao nhiêu năm qua chúng tôi trăn trở vì không biết người giao lại nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong là ai, ở đâu hiện nay, làm sao liên hệ được và hiện còn sống hay không? Chúng ta đã trải qua một cuộc chiến tranh khủng khiếp qúa. Thật là xúc động và sung sướng khi biết rằng chúng tôi có cơ hội viết bức thư nầy. Chúng tôi kính trọng và yêu qúi ông từ trái tim mình. Những con người cao đẹp không dễ gì tìm được trong qúa khứ hiện tại và tương lai nữa. Chúng tôi cũng đã biết về Ông Nguyễn Trung Hiếu, người đã nhắc cựu chiến binh Mỹ giữ lại cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm…Đặng Thùy Trâm cũng là sinh viên Y Khoa cùng lớp vớí Huỳnh Phượng Liên[người yêu của Chu Cẩm Phong]. Tôi xin tự giới thiệu mình, tôi là Phan Thị Phi Phi, chị của hai bạn trẻ ấy: Chu Cẩm Phong và H P Liên ’’.

“Chiến tranh đã lùi xa trên 30 năm rồi, nhưng những dấu ấn của nó thì không bao giờ có thể xóa nổi trong tâm hồn chúng tôi và tôi cũng chắc rằng cả ông cũng vậy. Trước khi chết mà viết kịp bức thư nầy đến Ông thì là hạnh phúc của chúng tôi lớn biết chừng nào! Chúng tôi thỏa lòng mong ước”.

“ Kính chúc Ông và gia đình an khang, hạnh phúc. Mong có được đôi dòng tin tức của Ông để biết rằng Ông vẫn còn mạnh khỏe và vui vẻ”. Phan Thị Phi Phi, Giáo sư Trường Đại học Y Hà Nội.” .

 

d. Thư phúc đáp đề ngày 4-12-2005. “Kính giáo sư, Thật đường đột để có vài hàng phúc đáp bức điện thư của GS. Lời đầu tiên của tôi là trân trọng ghi nhận những suy nghĩ về cuộc chiến tương tàn mà chúng ta đã trải qua. Nhưng từ trong cuộc chiến ấy, bỏ quên phần tàn khốc của bom đạn và hận thù không có lý do, còn có những tâm hồn đã vươn lên trên tất cả để sống sót với một tình cảm văn hóa dân tộc rất đáng tự hào! Tôi thật sự không bi quan, đến nỗi phải nói rằng:”dòng sông ngăn cách còn sâu thẳm đến thế ư?”. Giáo sư là bậc thầy của tôi trong việc hướng dẫn và giáo dục thế hệ thừa kế. Tôi tốt nghiệp ĐH năm 1966, bị động viên để làm xong thời hạn quân dịch, rồi được trở về nhiệm sở dạy học cho đến tháng 6,1975. Cái may của tôi là tiếp nhận được một phần nhận thức khác về cuộc chiến, trong đó suy tư, đánh giá và tường thuật của anh Chu Cẩm Phong cho tôi có thêm kinh nghiệm về cuộc sống và những ràng buộc của thời cuộc lúc bấy giờ. Phải nói là tôi có tự do tìm hiểu và phổ biến cho lớp học sinh trẻ, mà theo tôi nghĩ họ rất đáng được hướng dẫn. Nhưng như giáo sư đã biết, tôi không mang ảo tưởng dùng tên Anh Chu Cẩm Phong để có một ân huệ nào cả. Tôi tự động trả anh Chu Cẩm Phong về cho đồng đội của anh, để có 1,942 ngày đêm khác ở một trại cải tạo. Điều nầy không làm tôi oán hận, nhưng tôi chỉ tiếc rằng một số thời lượng khổng lồ cọng lại, nếu được dùng cách khác thì chắc chắn bước tiến có nhiều hơn bước lùi. Thưa giáo sư, đây chỉ là một thổ lộ. Xin giáo sư thông cảm và bỏ qua. Cuối cùng, nói như giáo sư, dấu ấn cuộc chiến bi thảm còn đó. Riêng tôi, tôi ao ước dầu ấn ấy chỉ nên tồn tại trong lịch sử đừng nên khắc đậm mãi trong lòng người. Có như vậy lối về tương lai có lẽ sáng tươi hơn. Trân trọng kính chào giáo sư, Hoàng Đình Hiếu”.

 

e.Thư mời của GS Phan Thị Phi Phi  đề ngày 5-12-2005:”Kính gữi Anh Hiếu, Chúng tôi thật sự vinh hạnh đón anh và gia đình thu xếp để về quê, có thể vào dịp hè tới thì thuận tiện hơn là Tết, vì gấp qúa. Anh Khoa [Đặng Ngọc Khoa] cho biết đã mời nhưng Anh vì còn bận chưa thu xếp được. Chúng rất vui mừng được đón Anh. Chúng tôi sẽ thu xếp vé đi về và ăn nghỉ tại Việt Nam trong vòng từ một đến hai tuần lễ là tối thiểu. Kính mong Anh và gia đình đáp lại sự chân tình và kính trọng, yêu mến của chúng tôi. Anh Khoa muốn tôi mời may ra thầy Hiếu còn cố gắng thu xếp. Xin phép Anh cho gọi thế cho thân mật, vì tôi tính được rằng Anh còn trẻ hơn chúng tôi, xấp xỉ tuổi của CCP, ĐTT, HPL [Chu Cẩm Phong, Đặng Thùy Trâm, Huỳnh Phượng Liên]. Xin được Anh cho biết để chúng tôi thu xếp ngay. Kính thư Phan Thị Phi Phi, GS Đại Học Y Hà Nội”.

g..Thư của Đặng Ngọc Khoa (kèm thư của GS Huỳnh Phượng Liên). Thư đề ngày 20-2-2006: “Kính Thầy, Em gữi Thầy là thư của chị Phượng Liên, người yêu của anh CCP, hiện là GS đầu ngành về virus”. Thư đề ngày 6-2-2006: “Em Khoa thân mến, Chúc Em một mùa xuân thật hạnh phúc! Cảm ơn Em tất cả những gì em đã làm cho Anh CCP. Từ trong sâu thẳm, chị vô cùng kính trọng và biết ơn Anh Hoàng Đình Hiếu, người đã gìn giữ và truyền đạt tinh thần CCP trong lòng địch trước 1975 bằng cả tấm lòng trân trọng và ngưỡng mộ CCP. Chị cũng rất hân hạnh được đón tiếp Anh Hoàng Đình Hiếu ở quê mình và Hà Nội, hy vọng ngày ấy không xa! Thân mến, Chị Phượng Liên”.

 

5. Lời cuối:

Sẽ còn dài, nếu phải trích dẫn thêm. Dĩ nhiên chúng tôi chưa thể thỏa mãn được các yêu cầu đã gữi đến cho chúng tôi. Bởi vậy, xin chân thành cảm ơn Phóng viên Đặng Ngọc Khoa, Em Tăng Nhường và tất cả qúi vị đã có nhã ý đối với chúng tôi.

Điều chúng tôi cần minh thị là “Bài viết không nhằm nêu lên sự qúy mến do việc bảo vệ một tài liệu thuộc về cá nhân Chu Cẩm Phong, cho bằng việc gìn giữ an toàn một tài liệu văn học mang tính lịch sử. Nếu nội dung nhật ký chiến tranh Chu Cẩm Phong có thể góp được ích lợi nào cho lịch sử hiện đại, thì sự gìn giữ và âm thầm phổ biến trong vài lớp học của chúng tôi trước ngày 29-3-1975(ở Đà Nẵng) đã có lý do chính đáng. Đó là điều chúng tôi lấy làm thỏa mãn hơn hết.”

Tác giả: Hoàng Đình Hiếu
   dunglac@gmail.com