Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Hoàng Đình Hiếu
Bài Viết Của
Hoàng Đình Hiếu
Ba mươi năm lịch sử người Công giáo giáo phận Vinh dưới ngòi bút của linh mục Trương Bá Cần
Ai nỡ nhằm chỗ eo mà thắt !
AI NỠ NHẰM CHỖ EO MÀ THẮT !

Trong qúa trình lịch sử của từng quốc gia cũng như trong cuộc sống của người trưởng thành, có thể nói phải bấc đắc dĩ lắm mới có sự chia tay, đoạn tình, phân ly. Và một khi sự thể phân ly đã xảy ra, thì liên tục cả hai phía, cho dù ở hoàn cảnh nào, vẫn mong mỏi có một sự hàn gắn, hiệp nhất để xóa bỏ nỗi buồn mà họ đã lâm vào trong qúa trình của cuộc sống.

Lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam có để một sự phân ly. Trong khi các cuộc phân ly khác trong lịch sử Việt Nam đã được xóa bỏ trên phạm vi địa lý để đi đến chỗ hàn gắn trong tâm tưởng, thì phía Giáo hội Công giáo Việt Nam, do cố tình hay do hoàn cảnh bắt buộc, vẫn duy trì một tình trạng phân ly dang dở, cả trên trên phạm vi địa lý lịch sử, cả trên phạm vi tâm lý của giáo dân!

Để có thể nói một đôi đìều về vấn đề phân ly của một tập thể giáo dân giữa hai giáo phận Vinh và giáo phận Huế, chúng tôi gọi đó là một Chuyện Tình dang dở. Chuyện tình dang dở ấy đang ảnh hưởng trên số phận giáo dân Nghệ Tĩnh Bình (Giáo phận Vinh), và cơ hồ muốn kéo luôn cả Bình Trị Thiên(Giáo phận Huế) phải lâm vào cùng một hoàn cảnh!

1. Sự kiện của vấn đề

Một bản tin từ Tòa Giám mục Xã Đoài (Vinh) xuất hiện trên Vietcatholic online, viết như sau:”NAM SÔNG GIANH TỈNH QUẢNG BÌNH ĐƯỢC CHUYỂN GIAO CHO GIÁO PHẬN VINH”: “Ngày 15/5 vừa qua[2006]1, Đức Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể, Tổng giám mục giáo phận Huế và Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, Giám mục giáo phận Vinh đã gặp nhau tại UBND tỉnh Quảng Bình để làm lễ chuyển nhận việc quản lý đạo Công giáo trên địa bàn Nam Sông Gianh tỉnh Quảng Bình”.

‘’Từ khi thành lập giáo phận[28-4-1850], tổng giáo phận Huế có ranh giới phía Bắc tới sông Gianh[Sông Gianh-Nguồn Son]. Nhưng từ năm 1954, sau khi hiệp định Genève được ký kết, các linh mục Huế không được tiếp tục tới làm mục vụ trên miền đất Nam Sông Gianh và dần dần các Cha làm mục vụ tại đây đều qua đời, chính quyền không cho sai người đến thay thế. Thêm vào đó, phần đất Nam sông Gianh[giáo hạt Quảng Bình, cũng gọi là giáo hạt Tam Tòa] chịu rất nhiều bom đạn trong thời kỳ chiến tranh, rất nhiều giáo dân đã phải di tản vào Nam. Trong khi đó phía Bắc Sông Gianh[giáo hạt Bình Chính, cũng gọi là giáo hạt Hướng Phương] thuộc về giáo phận Vinh, số giáo dân đông, các giáo xứ, giáo họ đều sinh hoạt khá bình thường. Số giáo dân thuộc giáo phận Huế [ở bờ Nam Sông Gianh-Nguồn Son] phải đi xa hàng trăm km tới các giáo xứ phía Bắc để lãnh nhận các bí tích”.

“Từ năm 1997, giám mục hai giáo phận đã đặt vấn đề chuyển giao cho giáo phận Vinh phần đất tính từ cầu Hiền Lương ra tới Sông Gianh và đã trình lên Hội đồng Giám mục Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề gặp rất nhiều khó khăn vì chính quyền không cho phép. Các linh mục Vinh chỉ được tới các giáo xứ Hà Lời và Sen Bàng làm mục vụ. Sau nhiều lần làm đơn, tháng 10/2005, Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam chính thức cho phép chuyển sự quản lý đạo Công Giáo phía Nam Sông Gianh Quảng Bình cho giáo phận Vinh. Theo yêu cầu của chính quyền tỉnh Quảng Bình, hai giám mục của hai giáo phận cần làm thủ tục bàn giao, sau đó mới tính chuyện làm mục vụ. Hai Đức cha đã ký văn bản chuyển nhận trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền tỉnh Quảng Bình, đại diện các linh mục đang làm mục vụ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và đại diện giáo dân Nam Sông Gianh”.

“Cuối buổi làm việc, đại diện giáo dân rất vui mừng nói lên lòng biết ơn của mình đối với tình thương của hai Đức cha và sự chấp thuận của chính quyền[tỉnh Quảng Bình]”.

“Được biết hiện nay toàn tỉnh Quảng Bình có hơn 93 ngàn giáo dân Công Giáo. Tuy nhiên ở phía Nam Sông Gianh chỉ còn khoảng 5 ngàn giáo dân. Các nhà thờ hầu như bị đổ nát, giáo dân sống rải rác. Có nhiều nơi giáo dân làm đơn xin phục hồi xứ, họ đạo của mình, nhưng được chính quyền trả lời là những nơi đó không có đạo Công giáo! Chắc chắn trong tương lai, Toà Giám mục Xã Đoài sẽ còn phải làm việc nhiều với chính quyền tỉnh Quảng Bình vì quyền lợi của giáo dân nơi đây”.[Tin từ Tòa Giám mục Xã Đoài, Giáo phận Vinh].

Mới đây, nhân thời gian Đức Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể sang Mỹ chữa bệnh, một giáo dân thân cận với Đức Tổng Giám mục, trong điện thư đề ngày18/10/2006 có cho chúng tôi biết như sau:” Đức Cha Thể trả lời: Phần đất thuộc giáo phận Huế từ vỉ tuyến 17 đến Nam Sông Gianh vẫn thuộc Giáo phận Huế, nhưng vì chính quyền không cho các linh mục ở Huế ra sinh hoạt mục vụ với giáo dân vùng nầy nên Đức Tổng Giám mục Huế phải nhờ các linh mục hạt Hướng Phương (giáo phận Vinh) giúp đỡ lo mục vụ cho họ…Việc ký kết giữa Đức Tổng Giám mục Huế và Đức Giám mục Vinh trước mặt chính quyền chỉ là để xác nhận trách nhiệm của Giáo phận Vinh (được Giáo phận Huế ủy quyền)mà thôi”.

2. Đôi hàng địa lý, lịch sử vùng Sông Gianh, Quảng Bình.

Về mặt địa lý, lịch sử Công giáo, tỉnh Quảng Bình từ trước tới nay có hai giáo hạt:

a..Giáo hạt Quảng Bình hay cũng gọi là Giáo hạt Tam Tòa, do việc linh mục chánh xứ Tam Tòa thường kiêm nhiệm chức vụ linh mục Quản hạt, bao gồm lãnh thổ của ba huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh và Bố Trạch của tỉnh Quảng Bình, thuộc phần đất từ ranh giới phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị ra đến bờ Nam Sông Gianh-Nguồn Son, trực thuộc giáo phận Huế.

b. Giáo hạt Bình Chính, cũng gọi là giáo hạt Hướng Phương, do việc linh mục chánh xứ Hướng Phương thường kiêm nhiệm chức vụ linh mục Quản hạt. Giáo hạt Bình Chính có địa gìới từ bờ Bắc Sông Gianh-Nguồn Son ra tới Đèo Ngang, bao gồm các huyện Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa…Nhưng Giáo hạt Bình Chính trực thuộc giáo phận Vinh.

Cũng cần nói rõ hơn, sông Gianh hay Linh Giang không đơn giản như những dòng sông khác. Sông Gianh tự nó đã là một vấn đề phân chia. Ca dao vùng Bắc Quảng Bình nói về Sông Gianh như sau:

Sông Gianh cả thảy ba nguồn,

Nguồn Nan, nguồn Nậy, lại còn Nguồn Son.

Lòng thành dạ thiết cho tròn,

Mai sau dựng nghiệp cháu con hưởng nhờ.

Sông Gianh nằm ở phía Nam dãy Hoành Sơn (Đèo Ngang), chảy trên địa bàn huyện Quảng Trạch. Cửa Sông Gianh cách Đèo Ngang 40km về phía Nam, gần sát chân đèo Lý Hòa thuộc dãy núi Đồng Ban phía Bắc huyện Bố Trạch. Ba nguồn của Sông Gianh khởi nguyên từ ba vị trí khác nhau. Nguồn Nậy ở phía Bắc, nguồn Nan ở giữa, Nguồn Son ở phía Nam. Ở đây phải thấy mỗi nguồn của Sông Gianh là quan trọng, chứ không phải là Sông Gianh. Thật ra, Sông Gianh chỉ là khúc sông có chiều dài không qúa 5km tính từ cửa biển gần xã Quảng Khê lên tới chỗ ba nguồn gặp nhau ở gần làng La Hà thuộc huyện Quảng Trạch. Nguồn nào nối với Sông Gianh để làm đường phân chia, tất nhiên cũng phân chia đất đai, dân cư ở hai bên bờ của nguồn ấy. Bởi vậy, cụm từ Sông Gianh-Nguồn Son được dùng để xác định một đường ranh giới thiên nhiên, mà phía chính trị cũng như tôn giáo trong qúa trình lịch sử của mình đã lựa chọn để phân biệt hai bộ phận lãnh thổ và dân cư ở phía Bắc hoặc phía Nam của đường ranh giới ấy.

Như vậy, dù chung một tỉnh Quảng Bình, giáo dân Công giáo tỉnh Quảng Bình đã bị phân rẻ ra làm hai phần, thuộc hai giáo phận khác nhau, mà Sông Gianh-Nguồn Son chính là ranh giới phân chia giữa hai giáo phận Vinh và giáo phận Huế từ trước cho đến ngày nay.

Thật ra ranh giới lịch sử nầy là do chúa Nguyễn Phúc Nguyên lựa chọn khi ông quyết định dời phòng tuyến từ Sông Nhật Lệ, tiến quân đánh chiếm châu Nam Bố Chính của vua Lê và chúa Trịnh trong tháng 9 năm Canh ngọ,1630. Từ đó, Sông Gianh-Nguồn Son là phòng tuyến quân sự của Đàng Trong, đã trở thành ranh giới chính trị và hành chánh giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong suốt thời gian phân tranh(1627-1672) và có hiệu lực đến giữa năm 1786. Long Nhượng Tướng công Nguyễn Huệ đã xóa sổ đường ranh phân chia nầy vào ngày 25 tháng 6 năm Bính ngọ, 1786. Đây là cuộc tiền quân ra Bắc lần đầu tiên của nhà Nguyễn Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, dưới danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh.

Nhưng Sông Gianh-Nguồn Son được lựa chọn làm ranh giới phân chia lần thứ hai lại do một giáo hoàng của Tòa Thánh Rôma. Với Đoản sắc Super Cathedram Principis, ngày 9-9-1659, Đức Giáo Hoàng Alexandro Vll(ở ngôi từ 7-4-1655 đến 20-5-1667) đã thiết lập hai giáo phận tiên khởi ở Việt Nam: Giáo phận Đàng Ngoài giao cho Giám mục Francois Pallu (1658-1678) coi sóc; giáo phận Đàng Trong giao cho Giám mục Pierre Lambert de La Motte (1658-1679) quản nhiệm.

Rõ ràng là Giáo hoàng Alexandro Vll không có lựa chọn nào khác, vì Sông Gianh-Nguồn Son vốn là đường ranh giới đã có sẵn từ năm 1630 giữa hai thế lực chính trị, Đàng Trong thuộc Chúa Nguyễn và Đàng Ngoài thuộc chúa Trịnh. Khi thiết lập hai giáo phận tiên khởi cho hai miền truyền giáo ở Việt Nam: Đàng Trong và Đàng Ngoài, thì Sông Gianh-Nguồn Son tất nhiên là đường phân chia đã có sẵn. Cũng vậy, đầu năm 1850, từ Giáo phận Đông Đàng Trong, Tòa Thánh chính thức thiết lập Giáo phận Huế. Lãnh thổ gồm ba tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị và Nam Quảng Bình, tức vùng đất từ đèo Hải Vân đến tận Sông Gianh-Nguồn Son, nghĩa là đường ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài cũng là ranh giới phía Bắc của Giáo phận Huế. Nên nhớ rằng, đây cũng là chỗ ngắn nhất theo đường chim bay từ dãy Trường Sơn ra tới biển, có chiều dài khoảng 40 km, núi trọc, sông ngắn, gió hạ Lào quất rát da thịt người nông dân. Nói như một nhà thơ: “Ai nỡ nhằm chỗ eo mà thắt”, để diễn tả sự nghiệt ngã của thiên nhiên thường xảy ra ở vùng lưu vực Sông Gianh. [2]

Điều đáng nói là, trong khi mọi đường ranh giới chính trị, quân sự trong qúa trình tranh chấp, cuối cùng đã được xóa bỏ. Riêng ranh giới phân chia giữa hai giáo phận Công giáo, có từ thời Giáo hoàng Alexandro Vll (1659)đến nay vẫn còn. Và như nội dung hai bản tin đã công bố trên đây, giáo dân vùng Bình Trị Thiên nay có thêm một đường phân chia nữa, đó là Sông Bến Hải tức vỉ tuyến 17, cắt tỉnh Quảng Trị ra làm hai phần. Từ bờ Nam sông Bến Hải trở vào trực thuộc giáo phận Huế, từ bờ Bắc sông Bến Hải trở ra giao cho giáo phận Vinh quản trị?

3. Một Ủy viên Trung Ương Đảng quyết định số phận giáo dân Công giáo Nam Quảng Bình:

Đọc hai bản tin ghi lại trên đây, chúng ta thấy có một điều tiên quyết, trước sau như một, đó là nhà nước CSVN dứt khoát không cho các linh mục thuộc giáo phận Huế đi ra phía Bắc Cầu Hiền Lương, tức Sông Bến Hải là vỉ tuyến 17 để làm công tác mục vụ trên phần đất thuộc chính giáo phận của mình, dù đất nước đã thống nhất, ranh giới phân chia Nam Bắc đã xóa bỏ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sự cấm đoán nầy thể hiện chính sách gì? Triệt tiêu sinh hoạt tôn giáo, cụ thể là Công giáo trên địa hạt Nam Quảng Bình hay tiếp tục tạo mâu thuẩn giữa dân chúng hai miền Nam và Bắc vỉ tuyến 17 như tình trạng trước năm 1975?

Nếu cơ hội hàn gắn vết thương chia cắt đã thực sự được lưu tâm trên phạm vi tình cảm, tâm lý xã hội và thái độ chính trị trong đời sống của toàn dân, thì lẽ nào một bộ phận công dân của Bình Trị Thiên lại bị phân biệt, khi đối xử với họ trong tư cách là một Công dân Công giáo ở phía Bắc và phía Nam vỉ tuyến 17. Khi hỏi: Sự cấm đoán nầy thể hiện chính sách gì, thì Ông Bùi Tín đã có câu trả lời trong cuốn Mặt Thật, là Tập Hồi ký chính trị do Saigon Press xuất bản năm 1993. Ở phần ba của Tập Hồi Ký có tựa đề NOMEMCLATURE VIETNAM, Tầng lớp quan chức đặc quyền đặc lợi, Ông Bùi Tín viết:” Ông Nguyễn Sĩ Đồng bị truy tố về tội diệt các làng Công giáo ở Quảng Bình, thì được đổi tên là Đồng Sĩ Nguyên, đưa lên Cục trưởng, rồi tư lệnh bộ chỉ huy đường mòn Hồ Chí Minh, trung tướng, rồi là ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, phó thủ tướng...” [3]

Nhân danh là ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng…đã ra lệnh triệt hạ các làng Công giáo ở Quảng Bình, triệt để là ở Nam Quảng Bình, và khi ông Đồng Sĩ Nguyên còn sống để hưởng đặc quyền, đặc lợi của Đảng, thì làm sao có thể phục hồi sinh hoạt tôn giáo, nhất là Công giáo trên vùng đất ông Đồng Sĩ Nguyên đã ra lệnh tận diệt. Quả là nghiệt ngã và tàn nhẫn hơn thời Văn Thân (1874-1888)!

Như bản tin cho biết, “ở phía Nam Sông Gianh chỉ còn khoảng gần 5 ngàn giáo dân. Các nhà thờ hầu như đã bị đổ nát, giáo dân sống rải rác. Có nhiều nơi giáo dân đã làm đơn xin phục hồi xứ, họ đạo của mình, nhưng được chính quyền trả lời là những nơi đó không có đạo Công giáo”. Nếu cho phép phục hồi và công nhận còn có giáo dân Công giáo tại các địa phương ở Nam Quảng Bình, chẳng hóa ra công trình của Ông Đồng Sĩ Nguyên là dã tràng xe cát!

Cũng liên quan đến bi kịch lịch sử trên vùng đất Quảng Bình, ký gỉa Giang Nhật Linh, trên Tuần San VN Weekly News, số 325, ra ngày 21 tháng 7 năm 1995 có ghi nhận như sau:” Bạn tôi, sau 43 năm xa quê hương nay có dịp trở về nhìn lại người xưa cảnh củ, đã phải đứng khóc trên nền ngôi thánh đường lớn nhất tỉnh Quảng Bình trước năm 1954. Nhà thờ Tam Tòa ngày xưa nay chỉ còn trơ lại một tháp chuông, đứng nghiêng trong thế sụp đổ một ngày không xa, cô đơn như một tháp Chàm hiu quạnh trên bờ sông Nhật Lệ! Dấu tích tội ác của đế quốc Mỹ ư? Gần đúng như vậy. Nhưng có một điều còn nguy hiểm gấp trăm lần những trận bom ác liệt của không lực Mỹ, đó là quyết tâm triệt hạ tôn giáo trên quê hương Quảng Bình, đặc biệt là từ bờ Bắc Bến Hải đến bờ Nam Sông Gianh, để hôm nay chẳng còn bóng dáng một thập tự gía nào đứng vững, dù là trên một nghĩa trang hiu quạnh ở một vùng thôn xóm xa xôi!”

“Từ quê hương Đất Mẹ trở về, bạn tôi cho hai tấm hình kỷ niệm. Một tấm hình là Quảng Bình Quan với kinh phí phục chế do Bộ Văn Hóa Thông Tin đài thọ hơn một tỷ bạc và Hội Đồng Hương Quảng Bình ở Sàigòn yểm trợ gần 22 triệu đồng. Quảng Bình Quan được công nhận là di tích lịch sử, nay khang trang như một cửa ngỏ đẹp vào thành phố Đồng Hới trước mặt du khách đổ về vùng Hạc Hải, Đầu Mâu, Phong Nha, Đá Nhảy…Một tấm hình khác là tháp nhà thờ Tam Tòa đổ nát gần Quảng Bình Quan, đứng nghiêng buồn, chơ vơ nhìn ra cửa Nhật Lệ! Xét về mặt văn hóa, nhà thờ Tam Tòa cũng là một di tích lịch sử, xứng đáng có kinh phí phục chế không kém gì Qưảng Bình Quan. Tiếc thay nhà thờ Tam Tòa lại là dấu tích một tôn giáo mà Đồng Sĩ Nguyên quyết tâm triệt hạ! Tôi nhìn hai tấm hình như hai chứng tích lịch sử, và biết rằng trên Đất Mẹ vẫn còn nỗi đau xót chưa nguôi!”(Giang Nhật Linh, Nhìn từ Cửa Nhật Lệ).

4. Có nên nghe những gì CS nói không?

Tính đến hôm nay, ngày cuối của năm 2006, thì Sắc Lệnh số 234-S-L do Chủ tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, là Ông Hồ Chí Minh ký ngày 14 tháng 6 năm 1955 đã có thời gian là 51 năm 6 tháng. Sắc Lệnh ban hành nhằm vào vấn đề tôn giáo. Sắc lệnh có 4 chương, gồm 16 điều. Xin trích nguyên văn phần mở đầu, Chương I và Chương IV. [4]

“Sắc Lệnh Số 234 – S-L, Hà nội ngày 14 tháng 6 năm 1955. Chủ Tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa”.

“Căn cứ vào chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vấn đề tôn giáo”.

“Căn cứ vào những nguyên tắc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng do Quốc hội Nước Việt Nam Dân chủ Cọng hòa đã thông qua trong khóa họp thứ tư”.

“Theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ và được Ban Thường Trực Quốc hội thỏa thuận”

“RA SẮC LỆNH: Chương l : BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG”:

“Điều 1. Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”.

“Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các Cơ quan tôn giáo(như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý..)”.

“Khi truyền bá tôn giáo các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa.”

“ Điều 2. Các nhà tu hành và các tín đồ đều được hưởng mọi quyền lợi của người công dân và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân.”

“Điều 3. Các nhà tu hành người ngoại quốc mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phép, thì được giảng đạo như các nhà tu hành Việt nam và phải tuân theo luật pháp của nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa, như những ngoại kiều khác”.

“Điều 4. Các tôn giáo được xuất bản và phát hành những kinh bổn, sách báo có tính chất tôn giáo, nhưng phải tuân theo luật pháp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc xuất bản.

“Điều 5. Các tôn giáo được mở trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo của mình.”

“Điều 6. Các nhà thờ, đền, chùa, miếu, thánh thất và các đồ thờ, các trường giáo lý của các tôn giáo được pháp luật bảo hộ”.

“Điều 7. Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng cửa người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật”.

“CHƯƠNG lV: QUAN HỆ GIỮA CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN VÀ CÁC TÔN GIÁO”

“Điều 13. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo. Riêng về Công giáo, quan hệ về tôn giáo giữa Giáo hội Việt Nam với Tòa Thánh La Mã là vấn đề nội bộ của Công giáo.”

“Điều 14. Các tổ chức tôn giáo phải tuân theo luật pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, như mọi tổ chức khác của nhân dân.”

“Điều 15. Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân,

“ Chính quyền Dân chủ Cộng hòa luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện.”

“Điều 16. Thủ tướng Chính phủ, Ủy Ban Cải Cách ruộng đất Trung Ương và các Bộ có liên quan chịu trách nhiệm thi hành sắc lệnh nầy.”

“Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cọng hòa. Đã ký Hồ Chí Minh. Tiếp ký, K/T Thủ Tướng Chính phủ, Phó Thủ Tướng, Đã ký Phạm Văn Đồng.”

Khách quan mà nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra một Sắc Lệnh bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và các sinh hoạt tôn giáo của nhân dân. Các tôn giáo được phép mở trường học, in kinh sách, xuất bản báo chí, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo…, với điều kiện khi hành sử quyền tự do tín ngưỡng và thực hiện các sinh hoạt tôn giáo phải nằm trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước. Nhưng nội dung Sắc Lệnh nầy đã được áp dụng như thế nào, và sự tùy tiện giải thích Sắc Lệnh ra làm sao thì nhân dân Việt Nam đã thấy rõ. Trong trường hợp các Tôn giáo, khi yêu cầu thực thi, các điều khoản của Sắc Lệnh đã gặp khó khăn trở ngại như thế nào đối với Nhà nước Trung Ương và các cấp thừa hành địa phương, thì hiện còn đầy dẫy trong thực tế và trong các hồ sơ khiếu kiện. Có một điều cần Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa giải thích là khi ban hành Pháp lệnh Tôn giáo, Sắc Lệnh số 234 của Chủ tịch Hồ Chí Minh có bị loại bỏ hay không?

Với Pháp lệnh Tôn giáo hiện hành, khi đem ra áp dụng, người dân dù khép mình trong khuôn khổ pháp luật của Nhà Nước Xã hội Chủ Nghĩa, vẫn không được chính quyền tôn trọng và giúp đỡ. Bằng cớ là, “từ năm 1997, giám mục hai giáo phận đã đặt vấn đề chuyển giao cho giáo phận Vinh phần đất tính từ cầu Hiền Lương ra tới Sông Gianh…Tuy nhiên vấn đề gặp rất nhiều khó khăn vì chính quyền không cho phép…”Sau nhiều lần làm đơn, đến tháng 10/2005 Ban Tôn giáo Chính phủ mới cứu xét, và mãi đến ngày 15 tháng 5 năm 2006, giám mục hai giáo phận mới thực hiện được thủ tục bàn giao, còn chuyện mục thì có lẽ còn phải tính dài từng năm tiếp theo!

Chẳng lẽ, sau 31 năm hòa bình thống nhất, một bộ phận công dân Công giáo ở vùng Nam Quảng Bình vẫn là những đứa con vô thừa nhận, đến nỗi phải được đem đi gởi chỗ nầy chỗ khác, trong khi gia đình của họ(giáo phận Huế) không được phép tiếp nhận, trong khi cha của họ (giám mục của giáo phận) cứ phải xót xa nhìn những đứa con bị phân ly, đến nay vẫn chưa có cơ hội trở về đoàn tụ với anh em của mình!

Nếu có việc phân chia lại các giáo phận, đem toàn bộ tỉnh Quảng Bình nhập chung với tỉnh Hà Tĩnh để thành một giáo phận mới, thì vấn đề giáo dân Nam Quảng Bình đã được giải quyết. Nhưng giải pháp nầy dường như đang ngưng lại ở chỗ phải chờ đợi, mặc dầu tại Văn Hạnh, trung tâm sinh hoạt Công giáo tỉnh Hà Tĩnh đang xây Tòa Giám mục và nhà thờ Chánh tòa cho một giáo phận mới trong tương lai.

Đàng khác, có một thực tế mà không hiểu Tòa Thánh, Hội Đồng Giám mục Việt Nam và những ai quan tâm đến công cuộc truyền giáo, có đặt thành vấn đề để giải quyết hay không. Thực tế đó là, hiện nay chỉ nguyên tỉnh Quảng Bình mà thôi, đã có gần 95 ngàn giáo dân, trong lúc ở các giáo phận khác như Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, chưa có giáo phận nào có số giáo dân lên tới 60 ngàn! Trong bài viết “Người Công giáo trên đất Quảng Bình hôm qua và hôm nay” đăng trong Tuần San Công Giáo và Dân Tộc, số 1345 ngày 28-2-2002, tác gỉa Hương Khê có viết:”Không biết có nên nghĩ tới việc thành lập một giáo phận Công giáo với một tỉnh Quảng Bình mà thôi hay không? Bởi nguyên Công giáo của tỉnh Quảng Bình ở Bắc Sông Gianh đã gần tới 80,000 giáo dân [con số mới nhất là 87,500]. Giáo phận Vinh cũ, chỉ với một tỉnh Nghệ An đã là trên 200,000. Giáo phận mới [nếu có] chỉ với một tỉnh Hà Tĩnh số giáo hữu cũng đã là trên 115,000.”[ hiện nay tổng số mỗi nơi đã gia tăng].

Như trên đã nói, việc chính quyền không cho phép các linh mục giáo phận Huế vượt cầu Hiền Lương, ra làm công tác mục vụ trên chính giáo phận của mình, phải được hiểu như thế nào? Có phải các linh mục ở phía Bắc sông Bến Hải gần gủi với Nhà Nước hơn các linh mục phía Nam cầu Hiền Lương?

Giải quyết cách nào cho ổn thỏa để bảo đảm quyền lợi của người công dân là điều cần thiết. Nhưng điều cần thiết và chính đáng hơn hết là hãy triệt tiêu sự phân biệt đối xử. Hình ảnh các giáo dân Nam Quảng Bình phải đi xa hàng trăm cây số để có thể nhận được các phép bí tích cần thiết cho đời sống tâm linh của họ, chẳng khác nào cảnh giáo dân Công giáo bị phân sáp năm 1860 dưới đời vua Tự Đức! Nói theo cách diễn tả của Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn, hiện nay, điều nhân dân Việt Nam đang cần thì to lớn như cái bàn, trong lúc điều mà nhà nước hứa cho chỉ bằng cái cái ly, cái chén! Nhưng có được những cái nhỏ nhoi bằng cái ly cái chén thì cũng đã may mắn lắm rồi. Đàng nầy, sau một thời gian dài mỏi cổ với chế độ xin-cho, không biết đến bao giờ thì hai giám mục Vinh và Huế mới được chính thức thực hiện công tác mục vụ cho giáo dân Công giáo trên vùng đất phía Nam tỉnh Quảng Bình?

Cuối cùng cần nhắc lại, khi ban hành Pháp Lệnh Tôn giáo, Nhà nước Xã hội Chủ Nghĩa, có triệt tiêu Sắc Lệnh số 234 của Chủ Tịch Hồ Chí Minh hay không. Nhưng những áp dụng về chính sách tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo hiện nay tại Việt Nam, đang gây nhiều khó khăn cho các tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng như sự kiện điển hình dang dở chúng tôi đã trình bày trên đây.

 

Ngày cuối năm 2006

Hoàng Đình Hiếu


Chú thích:

[1]. Những chữ trong brakets[ ] là do người viết ghi thêm.

[2]. Hoàng Đình Hiếu, Sông Gianh, Đàng Trong, Giáo hạt Quảng Bình, Tủ sách Sông Gianh, Quê Hương Bọ Mạ xuất bản, USA,2004.

[3]. Thành Tín, Mặt Thật, Turpin Press, 1994, trang 288.

[4]. Tư liệu Tủ sách Sông Gianh.

Tác giả: Hoàng Đình Hiếu
   dunglac@gmail.com