Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Hoàng Đình Hiếu
Bài Viết Của
Hoàng Đình Hiếu
Ba mươi năm lịch sử người Công giáo giáo phận Vinh dưới ngòi bút của linh mục Trương Bá Cần
Ai nỡ nhằm chỗ eo mà thắt !
CÓ ĐIỀU GÌ KHÁC NHAU GIỮA PHAN ĐÌNH PHÙNG VÀ ĐOÀN CHÍ TUÂN TRONG QUAN ĐIỂM CẦN VƯƠNG?

Lời nói đầu: Viết về những nhà chí sĩ như quan Ngự sử Phan Đình Phùng, Bạch Xỉ Đoàn Chí Tuân, chúng tôi không thể thêm gì vào bảng công trạng mà lịch sử đã tuyên dương. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nhìn lại tư tưởng chủ đạo, khởi đi từ biến cố năm Ất Dậu, 1885, qua đó hai nhà chí sĩ đã thể hiện lẽ xuất xử ‘’Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách’’. Nhưng dù chung quan điểm Cần Vương(giúp vua), Phan Đình Phùng và Đoàn Chí Tuân lại khác nhau về chí hướng thực hiện. Thiển nghĩ, đây cũng là một bài học lịch sử mà lớp nho sĩ Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 đã để lại, đáng cho chúng ta suy nghĩ và tìm hiểu lý do.  HĐH. 

1.Bối cảnh lịch sử:

 Ngày 12 tháng 4 năm ất dậu (1885) Trung tướng Roussel De Courcy được chính phủ Pháp cử sang Việt Nam với chức vụ Toàn Quyền. De Courcy là một tướng lãnh cứng rắn và hiếu chiến, lại được Bộ Quốc Phòng Pháp trao cho nhiều quyền hành rộng rãi, bao gồm về quân sự, chính trị và hành chánh.  Vừa tới Huế, De Courcy bổ nhiệm De Champeau thay thế Khâm sứ Lemaire, bởi vì viên khâm sứ nầy là một văn quan, muốn giải quyết công việc bảo hộ bằng giải pháp chính trị ôn hòa. Tân khâm sứ De Champeau nhậm chức với quyền hành rất hạn chế, chỉ được đại diện cho Toàn quyền De Courcy tại Huế và các tỉnh ở Trung Kỳ mà thôi.

Về phía triều đình Huế, sau ngày vua Tự Đức qua đời,16 tháng 6 năm qúi mùi(19-7-1883), hai viên phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường(Thượng thư Bộ Lại) và Tôn Thất Thuyết (Thượng thư Bộ Binh)nắm trọn quyền bính, tung tác nhiều việc ngoài kỷ cương. Nếu có ai lên tiếng can ngăn, liền bị loại trừ không cho biện minh hoặc phân xử.  Một cuộc khủng hoảng chính trị liên tục xảy ra từ năm 1883 đến giữa năm 1885, mà cao điểm là biến cố Bốn tháng ba vua(Tứ nguyệt tam vương):

Nhất giang lưỡng quốc nan phân THUYẾT

Tứ nguyết tam vương triệu bất TƯờNG

(Một sông hai nước khó thương thảo,

Bốn tháng ba vua điềm chẳng lành)1

  Nạn nhân trực tiếp bị Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường bức tử là các vua Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc và Đệ nhất phụ Chính đại thần Trần Tiển Thành. Trước sự lộng hành như vậy, triều thần không ai dám lên tiếng phản đối. Duy nhất chỉ có quan Ngự sử Phan Đình Phùng đã công khai bày tỏ thái độ ngay từ việc hai phụ chính phế Dục Đức lập Hiệp Hòa (tháng 6, năm qúi mùi, 1883):‘’Đức tiên hoàng vừa mới nhắm mắt, mà ngài đã làm việc trái nghịch di chiếu như thế, thật không còn đạo nghĩa nhân thần một chút nào. Bây giờ triều đình tất phải tuân theo di chiếu mà lập ngài Dục Đức lên ngôi mới được.  Huống chi tự quân chưa có lỗi gì, chưa chi đã làm việc phế lập như ngài định làm cản trở đó, sao cho phải lẽ?’’2. Lập tức, Phan Đình Phùng bị Tôn Thất Thuyết tống giam vào lao xá Phủ thừa Huế 7 ngày, sau đó cách hết chức hàm, đuổi về nguyên quán chỉ còn giữ được cái danh vị tiến sĩ mà thôi.

 

2. Tiểu sử Phan Đình Phùng(1847-1895):

 Phan Đình Phùng sinh năm đinh mùi (1887), người xã Yên Đồng, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, nay là thôn Đông Thái, xã Châu Phong(Đức Châu), huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.  Ông là con của cụ Phó bảng Phan Đình Tuyển, cháu gọi bằng bác của cụ Phó bảng Phan Văn Nhã, anh ruột của Phó bảng Phan Đình Vận. Phan Đình Phùng lấy hiệu là Châu Phong, 30 tuổi Phan Đình Phùng đi thi đậu Cử nhân năm bính tí (1876). Năm sau, đinh sửu (1877), Tự Đức thứ 30, ông đỗ Đình Nguyên (đậu đầu Tiến sĩ) và được bổ ngay ra làm quan Tri phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.  Nhưng chỉ một năm làm Tri phủ, tiến sĩ Phan Đình Phùng được triệu về kinh nhậm chức Ngự sử Đô Sát Viện.

Là một vị quan có tính cương trực và thanh liêm, không chấp nhận điều sai trái và sự lộng hành, Phan Đình Phùng được vua Tự Đức tin cậy, phong ông làm khâm mạng đại thần đi thanh tra việc trị an của các quan lại ở tại Bắc Kỳ.  Ngày trở lại kinh đô, bản phúc trình của Phan Đình Phùng nói về hành trạng quan kinh lược sứ Nguyễn Chánh được trình lên vua Tự Đức, lập tức kinh lược sứ Nguyễn Chánh bị lột tiết việt, cân đai áo mũ vua ban, bị sai sa thải ngay vì tội bê tha không thực hiện đầy đủ trọng trách của mình.

Trong khi thi hành nhiệm vụ thanh tra, Phan Đình Phùng đã chứng kiến nhiều hiện tượng suy đồi, nếu không kịp thời thay đổi, tất sẽ có biến động nguy hiểm cho vận mạng quốc gia. Theo Phan Trần Chúc kể lại trong tác phẩm Vua Hàm Nghi thì chính Phan Đình Phùng đã chứng kiến việc linh mục Đặng Đức Tuấn dâng biểu xin vua Tự Đức dung nạp giáo dân Công giáo vào lực lượng kháng chiến chống Pháp để tránh tình trạng chia rẽ lương giáo, tạo nên cảnh người đồng chủng đố kỵ rồi giết hại lẫn nhau.  Linh mục Đặng Đức Tuấn dâng biểu xin cho người nước mình xuất dương du học để có cơ hội cải cách đất nước, ông cũng yêu cầu nhà vua bỏ vàng bạc trong kho ra mua khí giới của người Anh ở Hương Cảng để bảo vệ cương giới. Vì theo linh mục Đặng Đức Tuấn:’’Nước Pháp sở dĩ hoà với nước mình năm 1870 là vì ở Âu châu có Pháp-Phổ (Pháp-Đức)chiến tranh. Một ngày kia họ không bận rộn về việc chống giữ cho đất đai của họ nữa, tất họ sẽ dòm dỏ đến nước mình. Vậy Nam triều nên thừa lúc quân địch yếu thế mà lo tự vệ’’. Nhưng vua Tự Đức là người không biết nhìn xa, lại có tính đa nghi.  Nhà vua ngờ rằng Đặng Đức Tuấn, một cố đạo An-nam xin mấy điều đó, cốt ý là được tự do truyền giáo và sợ rằng cho người đi du học, nếu họ giỏi lên sẽ chống cự với triều đình và gây họa cho Nhà nước3.

Mấy bản điều trần của linh mục Đặng Đức Tuấn như Hiến Bình Tây Sách (Kế sách đánh Tây), Minh Đạo Bình Tây (Làm sáng đạo, dẹp giặc Tây), Nguyên Đạo (nguồn gốc đạo)..., được các đại thần như Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp và có lẽ cả Phan Đình Phùng nữa ngưỡng mộ, nhưng không thực hiện được, chỉ vì lớp quan lại thủ cựu trong triều cố tình ngăn cản. Trước khi Phan Đinh Phùng bị cách chức đuổi về nguyên quán, Henri Rivière lấy thành Hà Nội (25-4-1882)đúng như lời dự đoán của linh mục Đặng Đức Tuấn đã nói ra từ 10 năm trước.

Năm 1885, kinh đô Huế mất vào tay Pháp. Tôn Thất thuyết phò vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở Quảng Trị, truyền hịch Cần Vương. Phan Đình Phùng không vì mối tư thù ngày xưa với Tôn Thất Thuyết mà quên việc giúp vua cứu nước.  Lúc bấy giờ ông đang cư tang mẹ mà vẫn gác việc nhà, đứng lên chiêu mộ nghĩa quân, sát cánh với Tôn Thuyết bảo vệ vua Hàm Nghi và vận động nhân dân khắp vùng Nghệ Tĩnh Bình đứng lên chống Pháp. Bản doanh của Phan Đình Phùng đóng tại căn cứ Ngàn Trươi thuộc rừng núi Vụ Quang, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

 

3. Tiểu sử Bạch Xỉ Đoàn Chí Tuân(1855-1897)4:

Đoàn Chí Tuân, còn có các tên là Đoàn Đức Mậu, Đoàn Văn Long, Thầy Đoàn, biệt hiệu là Bạch Xỉ (Răng trắng), sinh năm 1855 (ất mão) trong một gia đình nho giáo tại làng Hòa Ninh5, nay thuộc thôn Nhân Hòa, xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Thân sinh ông Đoàn Chí Tuân là Đoàn Chí Thông(tên trong làng thường gọi là Ông Hương Thân), thân mẫu là người họ Mai ở làng Thọ Linh(thường gọi là Mệ Hương).

Cụ Đoàn Chí Thông là một nhà nho yêu nước, nhà cụ thường tụ tập những người thức thời, bàn luận chiến sự, hổ trợ nghĩa quân và phê phán thái độ khiếp nhược của triều đình nhà Nguyễn trước sự xâm lấn của thực dân Pháp lúc bấy giờ. Ông nội Đoàn Chí Tuân là cụ Đoàn Chí Nguyện, người đã cầm đầu đoàn quân dân Hòa Ninh, theo Nguyễn Huệ chống giặc Thanh sau năm 1786.

Cụ Đoàn Chí Thông có hai đời vợ, sinh được 4 người con. Đoàn Chí Tuân là trưởng nam, con bà cả, Đoàn Chí Tiến (thường gọi là Ông Hậu Thiều), Đoàn Giang và Đoàn Liêu (thường gọi là Ông Hương Yêm, hiện Bà Đoàn Thị Út là con của Ông Hương Yêm còn sống).

Vợ của Ông Bạch Xỉ Đoàn Chí Tuân tên là Đinh Thị Khuôn (1862-1946), người làng Đan Hải, huyện Tiên Điền (nay thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Năm 1897, bà Khuôn sinh đôi được hai người con gái, một chết lúc còn nhỏ, một có tên là Đoàn Thị Nga (1897-1946). Bạch Xỉ có một hầu thiếp người Mường (không rõ họ tên), sinh cho ông một người con trai tên là Đoàn Văn Thuần. Năm cậu Thuần lên 12 tuổi, nhà cách mạng Đặng Thái Thân đã đưa sang Trung Hoa học tập, nay không rõ tin tức. Theo Thái Vũ, thời gian từ 1897-1909, bà Đinh Thị Khuôn, lúc đó cải tên là Thơm, đã kết bạn với bà Nguyễn Thị Thanh là chị của Nguyễn Tất Thành(Hồ Chí Minh sau nầy)tham gia hoạt động cách mạng ở vùng Nghệ Tĩnh Bình.

Bạch Xỉ Đoàn Chí Tuân mồ côi mẹ lúc mới 1 tuổi, nhưng trong nhà đã nuôi một thầy giáo người Tàu, dạy chữ Hán cho cậu Tuân. Thầy giáo chẳng những rành văn thơ, biết địa lý, lại giỏi cả tướng số, nhận ra Đoàn Chí Tuân có cung Mệnh rất lớn, nếu có cung Phúc của Tổ tiên phù trợ nữa thì ắt sẽ làm nên sự nghiệp vẻ vang. Nghe lời khuyên của thầy địa lý, cụ Đoàn Chí Thông đã cho dời mồ mả tổ tiên đến huyệt Hạ Đồng Am (tức vùng Thong Thóng, xã Quảng Minh hiện nay), gần dưới chân núi Hòn Am để mong rằng con cháu về sau sẽ tấn phát vinh hiển.

Tương truyền, Đoàn Chí Tuân có gương mặt đẹp, trán rộng, là một thiếu niên nghịch phá nhưng rất thông minh. Mới 5 tuổi đã thông hiểu tứ thư, ngũ kinh, 10 tuổi am tường Bắc sử, Kinh truyện.  Quan Biện họ Trần là thầy dạy học quê ở Thọ Linh, một hôm đã nói với cụ Thông rằng:’’Đây là Bậc sinh tri’’(sinh ra là đã biết mọi chuyện), tôi không còn đủ chữ để dạy một học trò như Tuân nữa’’. Năm lên 12 tuổi, Đoàn Chí Tuân rất nổi tiếng về thơ văn. Dân chúng vùng Sông Gianh, Quảng Trạch coi Đoàn Chí Tuân là một thần đồng, tiếng đồn vào tới kinh đô Huế, đến nỗi vua Tự Đức phải nhờ chú ruột là Tùng Thiện Công với quan Hình bộ Thị Lang Nguyễn Hàm Ninh ra tận làng Hòa Ninh để điều tra hư thực. Khi về kinh, việc chứng kiến tận mắt được trình lên với lời xác nhận:’’Tiếng đồn không sai’’.  Vua Tự Đức đã dặn dò: ‘’Phải để ý thằng trẻ con nầy, lớn lên chưa chừng sẽ làm giặc’’.

Năm 20 tuổi, Đoàn Chí Tuân mở trường dạy chữ Hán trong làng. Cũng từ đó xuất hiện biệt danh Thầy Đoàn. Học trò Thầy Đoàn gồm có các Ông Nguyễn Hỷ(tên thường gọi là Ông Bộ Khiên, là thân sinh của Ông Nguyễn Mạnh Châu, một nhà tân học nổi tiếng ở Hòa Ninh vào đầu thế kỷ 20), ông Đặng Chương (bố của Đặng Minh) và nhiều người khác nữa.  Về sau Đoàn Chí Tuân được mời lên dạy ở làng Thọ Linh, nơi có ngôi trường lớn của huyện Quảng Trạch.

Nhờ gia đình có truyền thống yêu nước, lại là một thanh niên rộng kiến thức về lịch sử, tự hào về các anh hùng hào kiệt của dân tộc đã nêu gương bất khuất trước họa xâm lăng từ phương bắc, nay thấy Pháp âm mưu xâm lược nước ta, Đoàn Chí Tuân đã sớm có tư tưởng chống Pháp và phẩn nộ trước một triều đình bạc nhược không dám công khai kêu gọi toàn dân kháng chiến.

Khi Đoàn Chí Tuân 30 tuổi thì kinh thành thất thủ(5-7-1885). Vua Hàm Nghi phải bỏ triều đình Huế, chạy ra Tân Sở Quảng Trị, rồi đến Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, tháng 2-1886.  Nghe Chiếu Cần vương, Đoàn Chí Tuân đã lên Khe Ve (Tuyên Hóa, nay là Minh Hóa) xin yết kiến nhà vua và nhận nhiệm vụ của một kẻ sĩ. Nhận được chiếu lệnh, ông về quê Hòa Ninh (nay là Quảng Hòa)tuyển mộ nghĩa quân.  Ban đầu ông tập họp được 20 nghĩa quân, gồm 8 người Hòa Ninh, 6 người Minh Lệ, 6 người Vĩnh Lộc.  Nhưng khi toàn vùng châu thổ Sông Gianh nghe tin Đoàn Chí Tuân trở thành thủ lãnh Cần vương, thì số nghĩa quân đã tăng lên 490 người chỉ trong vòng 2 tháng hoạt động. Đặc biệt, trong số nghĩa quân tập họp về với Đoàn Chí Tuân, có 25 giáo dân Công giáo Hoà Ninh, 17 cựu binh sĩ của triều đình.  Ngoài ra, có hai người phụ tá là Nguyễn Ngọc Hiển và Nguyễn Khán(còn có tên gọi là Cố Đốc) là những giáo dân Công giáo mà Đoàn Chí Tuân đã tin cậy giao cho nhiệm vụ lo về quân sự và hậu cần.  Bắt đầu từ điểm xuất phát Hòa Ninh, Đoàn Chí Tuân đã tổ chức rèn vũ khí, sắm nung nỏ, mua súng đạn. Ít ra, buổi đầu, nghĩa quân của Đoàn Chí Tuân đã có 21 khẩu súng, 10 cung nỏ, 22 con ngựa, với đoản đao, thương kiếm, giáo mác và lương thực dự trử đủ cho thời gian hoạt động là 2 năm, từ huyện Lệ Thủy ra tới Quảng Trạch, Tuyên Hóa. Chính thời gian làm lãnh tụ nghĩa quân Cần vương ở tỉnh Quảng Bình, Đoàn Chí Tuân đã cải danh là Đoàn Đức Mậu.

 

4. Về quan điểm Cần Vương:

  Phan Đình Phùng và Đoàn Chí Tuân được coi là sinh ra và lớn lên cùng thời với nhau.  Cả hai đã chứng kiến cảnh mất nước, đã hưởng ứng hịch Cần Vương, chiêu mộ nghĩa quân bảo vệ vua và đánh trả thực dân Pháp trong khả năng của mình. Có khác nhau chăng giữa Phan Đình Phùng và Đoàn Chí Tuân là, một bên thì đi thi, đổ đạt ra làm quan; còn một bên thông suốt nho học, giữ vững cương thường, sống đời ẩn dật, chỉ ra tay quyền biến khi thời cơ đòi hỏi.

Biến cố năm Ất Dậu, thất thủ kinh đô (5-7-1885)là một thời điểm lịch sử quan trọng liên quan đến vận mạng của tổ quốc. Từ chiến khu Tân Sở ở Quảng Trị, nhân danh vua Hàm Nghi, Binh bộ thượng thư Tôn Thất Thuyết đã thảo Hịch Cần vương ngày 13-7-1885, truyền đi khắp 40 tỉnh, từ Bình Thuận ra tới Lạng Sơn, Cao Bằng. Riêng Chiếu Cần vương thì được truyền đi từ Ấu Sơn (11 tháng 8 Hàm Nghi năm thứ nhất, 19-9-1885). Nội dung có đoạn viết:

...’’Tháng 5 năm nay [1885], quân Pháp ước hơn vạn người đã bắt ép ta nhượng lại hoàng thành.  Họ bắt vua trị dân theo như luật pháp riêng của họ. Vì những cớ ấy, Hội đồng Cơ mật quyết khởi một trận tập công ở Huế.  Nếu quân ta thắng thì Nguyễn Văn Tường đón trẫm ra ngự tạm tại Nghệ An, Hà Tĩnh để Tôn Thất Thuyết ở lại Huế, lập thế trận. Trước hết bài trừ bọn giáo dân theo đạo Cơ đốc đã hiệp nhất với người Pháp mà phản lại triều đình. Bằng thua, thì trẫm cùng với triều thần lánh ra miền Bắc, mưu đồ khôi phục...’’

‘’Núi non cách trở, trẫm đi hai tháng mới tới miền nầy. Sự chậm trể đó đã giúp cho quân địch có đủ thời giờ bịa ra những chuyện làm cho lòng dân chán nản’’.

‘’Hiện nay trẫm cùng với Tôn Thất Thuyết đã tới Ấu Sơn thuộc huyện Hương Khê. Các quan trong, ngoài đề tề tựu cả ở miền nầy. Văn thân, dân chúng và binh sĩ cũng lần lượt ra dự việc Cần vương. Thế nước gặp lúc loạn ly, ta khoanh tay mà nhìn sao được.’’.6

Cả Hịch Cần vương cả Chiếu Hàm Nghi đã làm nức lòng dân khắp nơi. Các bậc khoa bảng, các nho sĩ yêu nước, các phú hào, kẻ có thế, người có tiền đều biến nhà mình làm nơi tụ họp, chiêu mộ nghĩa quân.  Nhà nho bỏ bút lông ra cầm côn quyền, nông dân bỏ cày cuốc ra cầm giáo mác. Tất cả hướng về Ấu Sơn, quyết phất cao ngọn cờ Cần vương giúp vua cứu nước.

 

a. Phan Đình Phùng và Căn cứ Vụ Quang:

Không phải đợi đến khi có Hịch Cần vương, Phan Đình Phùng mới lập Căn cứ Vụ Quang cũng gọi là căn cứ Ngàn Trươi. Từ khi bị Tôn Thất Thuyết cách chức đuổi về nguyên quán giữa mùa hè năm 1883, Phan Đình Phùng đã cảm nhận được số phận của đất nước, không chóng thì chầy và không cách nầy thì cách khác cũng bị Pháp thôn tính.

Bởi vậy, lúc đầu, chí sĩ họ Phan đã dùng nhà mình tại làng Đông Thái làm Nghĩa sĩ đường để thu nạp nghĩa quân, làm lễ tuyên thệ, rồi chia quân đi lập đồn trại khắp tổng Việt Yên. Về sau, do nhu cầu bảo toàn lực lượng, ông đã chọn Vụ Quang là một ấp hẻo lánh, có hai phía là núi, lại ở lùi trong cái cảnh thanh u của vùng thượng du tỉnh Hà Tĩnh, xa sự dòm ngó của Triều đình nhà Nguyễn. Tại đây, cũng như Khe Ve ở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, có sơn đạo liên lạc sang Lào để mua khí giới của Xiêm La (Thái lan).  Nghe tin Phan Đình Phùng chiêu nạp hiền tài, Vụ Quang chẳng mất chốc đã trở thành sào huyệt của những người đồng chí hướng tụ về đông đảo. Đinh Nho Hạnh, một vị phó bảng đồng khoa với Phan Đình Phùng, rồi Phủ Tác, Phủ Thạc, Nghè Ôn, Huyện Thận, Đề Đạt...Đặc biệt có Cao Thắng là một tướng tài giúp về việc sản xuất vũ khí.  Nói chung, khắp vùng Nghệ-Tĩnh-Bình nghĩa quân đã tề tựu dưới lá cờ kháng chiến do Phan Đình Phùng làm thủ lãnh.

Trước khi Toàn Quyền De Courcy hạ kinh thành Huế (tháng 5,1885)Tôn Thất Thuyết đã sai người ra Hà Tĩnh trao cho Phan Đình Phùng mật thư phải triệt hạ các làng Công giáo như Thọ Ninh, Đức Thọ...Tuân lệnh, Phan Đình Phùng cho phát động việc bao vây, đốt phá các nhà thờ Công giáo trong vùng, nhưng sau đó lại có lệnh phải ngừng. Chi tiết nầy cho thấy, Tôn Thất Thuyết, người lãnh đạo phong trào Cần vương (1885-1888)vẫn duy trì chủ trương Sát Tả trước khi Bình Tây, như nhóm Văn thân (1874-1885)của Trần Tấn tức Tú Tấn...đã phát động ở Nghệ An ngày 19-3-1874 rồi lan rộng khắp nơi, đến nỗi triều đình nhà Nguyễn, đặc biệt là vua Tự Đức đã phải ra tay trừ diệt. Phong trào Văn thân bùng lên lần nữa vào năm 1885, nhưng lần nầy thì núp bóng Cần vương. Người ta thấy rõ vai trò của Tôn Thất thuyết đối với nhóm Văn thân trước sau rất quan trọng, bởi vì ông đã chủ trương Sát Tả, kể cả lúc mang danh nghĩa của triều đình đi tiểu trừ nhóm Văn thân ở miền Bắc. Đó là những chuyện bất nhất do Tôn Thất Thuyết thực hiện còn thấy được trong lịch sử.

Đối với Phan Đình Phùng, điều đáng nói là trong 11 năm trời (1885-1896)chiến đấu, kể cả thời gian sau khi vua Hàm Nghi đã bị Pháp bắt, trước sau Phan Đình Phùng vẫn trung thành với chủ trương: Vua là đại biểu cho tinh thần của quốc gia, vua dù có mất đi, nhưng tinh thần quốc gia không thể vì một cá nhân mà tiêu diệt.  

Sáu năm (1888-1894) không còn vua Hàm Nghi để phụng sự,  Phan Đình Phùng đã sống và bộc lộ một ý thức kiên cường trung quân ái quốc cho đến những giây phút cuối đời của mình. Phan Đình Phùng đã sống và chết với chủ trương của mình.

Ngày 28-12-1895, do bệnh kiết lỵ trầm trọng, chí sĩ Phan Đình Phùng đã qua đời tại căn cứ của mình ở núi Quạt thuộc vùng rừng núi Vụ Quang, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, khi tuổi đời mới 51. Nghĩa quân đã tạo một quan tài đặc biệt, đục rỗng một thân gỗ vàng tâm lớn, liệm xác lãnh tụ của mình với áo mão tiến sĩ vua ban, rồi chôn cất kỷ lưỡng và xóa sạch mọi dấu tích chỗ mai táng. 

Sau khi Phan Đình Phùng mất, nghĩa quân tự động giải tán, một số ra đầu thú vào một ngày giữa tháng giêng năm 1896. Nếu đúng như một số tác gỉa đã ghi lại trong các tác phẩm lịch sử  thì nhân cái chết của Phan Đình Phùng, khâm sai Nguyễn Thân đã hưởng được nhiều mối lợi để củng cố cho địa vị quan chức của mình.  

Số là theo lệnh của triều đình, giữa năm 1895, từ Huế Nguyễn Thân kéo đại binh ra Hà Tĩnh với sứ mạng tiểu trừ chiến khu của Phan Đình Phùng, nhưng thay vì tung quân đi tấn công thì lại án binh bất động. Kịp đến khi nghe tin Phan Đình Phùng mất, liền vẽ vời lập công trạng bằng cách thêu to bốn chữ Tặc Phùng bố tử (nghĩa là tên giặc Phùng sợ qúa mà chết) vào lá cờ đỏ, rồi sai người vác chạy về kinh cấp báo, đồng thời thẳng tay tàn sát những nghĩa quân của Phan Đình Phùng, dầu họ đã ra đầu thú.  Ngoài ra, đối với di thể của Phan Đình Phùng, Nguyễn Thân đã cho khai quật lên, đem xác về nguyên quán là tổng Việt Yên, đổ dầu đốt thành tro và bắt dân chúng trong vùng về chứng kiến cảnh Nguyễn Thân lấy tro nhồi với thuốc súng nạp vào súng thần công rồi bắn xuống La Giang để ăn mừng chiến thắng. Nhưng dù bị uy hiếp, dân chúng khắp vùng, khi Phan Đình Phùng còn sống, họ đã suy tôn ông với danh hiệu Sơn Trung Tể Tướng, đến khi ông mất, họ vẫn một lòng kính phục tấm gương khí tiết và   lòng yêu nước sắt son của nhà chí sĩ họ Phan7 

 

b. Từ Quảng Bình đến Căn cứ Đại Hàm ở Hà Tĩnh của Đoàn Đức Mậu: 

Cần vương dưới quan điểm của Đoàn Chí Tuân tức Đoàn Đức Mậu [từ đây chỉ gọi là Đoàn Đức Mậu] là Tôn quân diệt địch.  Coi vua là biểu tượng kết hợp tinh thần ái quốc để mọi hoạt động của toàn dân qui hướng về một lý tưởng phục vụ quyền lợi tối thượng của tổ quốc. Cũng như chí sĩ Phan Đình Phùng, trọng nước hơn vua, vua có mất, có bị bắt, thì như người đại diện của tổ quốc bị tai nạn, không thể vì mất người đại diện mà xao lãng việc bảo vệ tổ quốc. Với chủ trương tôn quân diệt địch, Đoàn Đức Mậu cũng nhìn nhận vua là biểu tượng đại biểu cho tinh thần ái quốc của toàn dân. Ngoài ra ông đã kêu gọi đoàn kết lương giáo trước mối họa xâm lăng của thực dân Pháp mà nạn nhân là toàn dân chứ không riêng một thành phần nào cả.

Chính vì có tư tưởng đoàn kết lương giáo nầy mà Đoàn Đức Mậu đã không được Tôn Thất Thuyết trọng dụng. Nhưng với ý thức Cần vương có chí hướng riêng của mình, Đoàn Đức Mậu đã tạm thời chia tổng số nghĩa quân của mình thành 3 đạo, sát nhập với quân của triều đình để cùng tham gia chiến đấu bảo vệ vua Hàm Nghi. Đoàn Đức Mậu đã chỉ định số lượng và cắt cử người chỉ huy như sau:

- Nguyễn Hưng Vương(người Hòa Ninh) dẫn 130 quân lên Tuyên Hóa, sát nhập với nghĩa binh do Cao Thượng Chí chỉ huy, đóng tại Căn cứ Xuân Mai.

- Đinh Hớn, là một võ sĩ người Vĩnh Lộc, dẫn 120 nghĩa quân lên Minh Hóa, sát nhập với nghĩa binh do thủ Lãnh Mai Lượng chỉ huy, đóng tại Cao Mại.

- Đoàn Đức Mậu, có Nguyễn Ngọc Hiển phụ tá, dẫn 240 nghĩa quân còn lại vào huyện Quảng Ninh, sát nhập với nghĩa binh của tướng Hoàng Phúc (người Quảng Bình), đóng tại căn cứ Vạn Xuân. Dưới triều Hàm Nghi, tướng Hoàng Phúc là quan Vệ úy được giao giữ an ninh vùng cận sơn từ Lệ Thủy ra tới Tuyên Hóa của tỉnh Quảng Bình.  Riêng Nguyễn Khán và một số nhỏ nghĩa quân ở lại Hòa Ninh, phụ trách hậu cần và rèn thêm vũ khí để cung cấp cho cả 3 đạo quân. Về sau Nguyễn Khán bị Văn thân, chủ trương sát tả (giết người Công giáo)trong nhóm của Lê Trực giết nhầm ở Tiên Lương.

Trong hơn 4 năm (1885-1888), tướng Hoàng Phúc đã coi Đoàn Đức Mậu như một quân sư tài giỏi. Khi Đồng Khánh ra tới Đồng Hới, tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình ngày 19-8-1886, việc đầu tiên là treo giải thưởng cho ai bắt nộp tướng Hoàng Phúc và Đoàn Đức Mậu cho Pháp thì được trọng thưởng. Cọng tác với tướng Hoàng Phúc, Đoàn Đức Mậu đã chu toàn được hai nhiệm vụ khó khăn, đó là tạo được tấm bình phong bảo vệ vua Hàm Nghi, ngăn chận được nhiều đợt tấn công của quân Pháp từ cửa Sông Gianh đổ lên ba Nguồn (nguồn Nậy, nguồn Nan, nguồn Son) hòng thọc sâu những trận càn quét vào vùng thượng du của tỉnh Quảng Bình, nơi vua Hàm Nghi đang lánh nạn; thứ đến là vô hiệu hóa được âm mưu chiêu hàng của Đồng Khánh tại Đồng Hới, trong khi Pháp muốn Đồng Khánh thực hiện một chuyến tuần du từ Huế ra tới Hà Nội, theo kế hoạch tâm lý chiến của Toàn quyền De Courcy.

Nhưng chiến đấu lâu trong một thế không cân sức về khả năng và vũ khí, tướng Hoàng Phúc ít lâu sau chẳng may bị tử trận. Đàng khác, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn đã có những quyết định vội vã và không thực tế, bỏ vua Hàm Nghi ở lại Quảng Bình để đi cầu viện Trung Hoa, để mặc cho Pháp tung hoành bủa vây nhiều mặt, bắt được vua Hàm Nghi ngày 2-11-1888. Tôn Thất Đạm, con trai của Tôn Thất Thuyết phải tuẩn tiết vì không lo xong việc bảo vệ vua Hàm Nghi.

Mất vua, mất tướng, nghĩa quân Cần vương yếu dần và đi đến chỗ tan rã. Lê Trực về sống ẩn dật để chờ cơ hội. Cao Thượng Chí, Mai Lượng, Đề Phú, Đề Trích, Đề Én...bỏ về quê làm ăn. Chỉ có Đoàn Đức Mậu là không chịu khuất phục cảnh ngộ. Đầu năm 1889, Đoàn Đức Mậu kết nạp thêm nghĩa quân của Lê Trực, Mai Lượng rồi kéo ra Hà Tĩnh mong hợp tác với Phan Đình Phùng.  Lúc đầu Đoàn Đức Mậu đóng quân tại La Khê là vùng giáp ranh giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh, sau đó ông hành quân ra phía bắc bắt liên lạc với Phan Đình Phùng tại Hương Khê.  Cả hai lãnh tụ họ Phan và họ Đoàn đã đồng ý hợp tác để cùng tiếp tục chiến đấu.   

Thời gian sống chung với lãnh tụ Phan Đình Phùng, bên cạnh có Đinh Nho Hạnh, Cao Thắng...trong đại bản doanh ở Hương Khê, Đoàn Đức Mậu đã đề xuất hai ý kiến: Một là tôn quân diệt địch, hai là không sát tả mà chỉ bình tây.  Ý của Đoàn Đức Mậu là vua Hàm Nghi đã bị bắt, nghĩa Cần vương không còn chính danh cho công cuộc chiến đấu nữa. Còn Đồng Khánh là vua do Pháp dựng nên.  Bây giờ Pháp sợ nhất là một nước có hai vua, chi bằng tôn phò một vua mới, có ý chí cách mạng để nhân dân tập trung công cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, bảo vệ truyền thống tôn quân diệt địch của toàn dân. Và Đoàn Đức Mậu qua câu tuyên ngôn:

Tướng quân nghĩa liệt văn hoàn vũ,

Nguyện hướng viên môn tác chấp chiên.

    (Chu Thiên dịch:  Nghĩa liệt tướng quân vang bốn cõi, xin theo bên ngựa đỡ dây cương) là muốn nói, không ai xứng đáng hơn Phan Đình Phùng lên ngôi chấp chánh để lo việc quốc gia đại sự.  Không ngờ cả hai đề nghị của Đoàn Đức Mậu đã bị cụ Phan và nhóm phò tá phản đối. Còn hơn sự phản đối, người ta bắt đầu nghi ngờ lòng trung thành của lãnh tụ họ Đoàn và cả công cuộc chiến đấu mà bấy lâu nay ông đã theo đuổi.

Thất vọng và mang tâm trạng cô đơn trước vận nước ngữa nghiêng không có người đồng chí hướng, Đoàn Đức Mậu đã bí mật rút toàn bộ nghĩa quân của mình về căn cứ Đại Hàm. Trong 8 năm hoạt động độc lập trên mặt trận Hà Tĩnh, nghĩa quân của Đoàn Đức Mậu đã lập được nhiều chiến công, giết chết hàng trăm quân Pháp, thu nhiều súng ống, đạn dược, phá hủy nhiều đồn bót của địch.  Đặc biệt là trận tập kích đoàn quân tăng viện Pháp tại Ngàn Sâu, tháng 5-1892. Trận đốt cháy đồn Chợ Bộng, tháng 8-1893; đồn Tri Bản tháng 3-1895...Do biết kết hợp chiến thuật du kích, lợi dụng địa thế đèo cao, vực sâu, sông suối uốn khúc quanh co, và cả chiến thuật tâm lý chiến, Đoàn Đức Mậu đã nỗi danh trong dân gian như người có bùa phép, biết tàng hình làm cho quân Pháp thất điên bát đảo về sự xuất hiện thần kỳ, vào những thời điểm rất bất ngờ, ở những chỗ không ai tin là có thể dụng binh để hoàn thành những trận đánh ngoạn mục, chỉ làm tổn thất cho địch quân và bảo toàn tối đa lực lượng của nghĩa quân.

Như trên đã nói, giữa năm 1895, lực lượng nghĩa quân Phan Đình Phùng đã bắt đầu tan rã trên chiến trường Hà Tĩnh, nhất là khi lãnh tụ Phan Đình Phùng qua đời(ngày 28-12-1895), quân Pháp dồn lực lượng đông đảo tập trung bao vây căn cứ Đại Hàm và quyết thanh toán cho bằng được  Như người lãnh tụ nắm vững chủ trương và biết rõ thời cơ sẽ không đến với mình lần thứ hai, Đoàn Đức Mậu quyết định nhổ doanh trại chuyển toàn bộ quân gia về Đức Thọ, lập căn cứ mới dưới chân núi Tây Hồng Lĩnh, thuộc ranh giới ba thôn ở vùng cận sơn đó là Roòng, Rong và Chế.  Chính trên căn cứ mới nầy, Đoàn Đức Mậu, một lần nữa cải danh là Đoàn Văn Long, tự xưng là hoàng đế, lấy danh hiệu là Long Đức, lập triều nghi, cử quan tước cùng dựng đàn tế cáo trời đất, anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ trận vong đồng thời hiệu triệu nhân dân cùng đứng lên đánh giặc cứu nước.

Như mở đầu vận hội mới với danh nghĩa Long Đức Hoàng Đế, biệt danh là Bạch Xỉ, nhà vua yểu mệnh đất Hòa Ninh8 quyết định chống một trận càn quét của quân Pháp ở làng Hòa Duyệt (Đức Thọ), diệt 16 tên giặc, thu được 14 khẩu súng.  Đây là trận chiến đấu thắng lợi đầu tiên của Long Đức Hoàng Đế và cũng là trận cuối cùng của nghĩa quân Quảng Bình dưới sự chỉ huy của Bạch Xỉ tướng quân.

Về việc Bạch Xỉ bị quân Pháp bắt sống ngày 12-10-1896, có ý kiến nói là có phản gián, nên quân Pháp đã bao vây hai làng Trung Định và Đại Hoàng (ĐứcThọ), chúng bắt được Bạch Xỉ khi ông đang lên cơn sốt nặng. Có ý kiến nói là căn cứ mới ở Tây Hồng Lĩnh tuy là đất hiểm, nhưng dễ bị tấn công bất ngờ nên Bạch Xỉ cho chuyển quân lên Phố Châu, Hương Sơn.  Chuyến di quân bằng thuyền mạo hiểm nầy, khi qua trạm kiểm soát ở Linh Cảm(Đức Thọ), Pháp đã bủa vây bắt được Bạch Xỉ và 28 tùy tùng đem tất cả về giam tại nhà lao thành phố Vinh ở Nghệ An.

Hồ Lệ lúc bấy giờ là Tổng đốc An Tĩnh, lấy tư cách trước đây đã có lần xướng họa thơ văn với Bạch Xỉ, y tỏ ra thương cảm một người tài giỏi nhưng gặp bước hoạn nạn đến phải chịu cảnh lao tù, nên đã vào thăm Bạch Xỉ và bày tỏ lòng mình bằng một vế đối:

Thương người răng trắng gặp hội đen,

Không ngần ngại, Bạch Xỉ ứng khẩu đáp:

Đau kẻ lòng son ôm máu đỏ.

Một lần khác, tổng đốc Hoàng Cao Khải tự động đến gặp Bạch Xỉ trong nhà lao, vừa muốn dụ dỗ vừa muốn thử tài đối đáp của một thần đồng nổi danh từ đất Quảng Bình.  Khải nói: Biết ông hay chữ xin hãy đối lại câu đối của tôi.  Bạch Xỉ trả lời: Tôi văn chương ít, ít được học hành, chỉ đối được từng chữ mà thôi.  Khải xướng:

Mạnh mẽ bảy đời cửa tướng.

Theo cách phát âm gốc Nghệ Tĩnh, Mạnh đọc thành mẹng, cũng có nghĩa là mồm; mẽ đọc thành âm mẹ (đối với mẹ là cha), bảy đời  đối lại là tám kiếp, cửa tướng đối lại là nhà ông. Bạch Xĩ chỉ nêu lên từng chữ để đối. Nghe xong Hoàng cao Khải ngớ ra không hiểu gì cả, còn Bạch Xĩ thì đã ung dung chắp tay sau lưng đi vào nhà ngục.  Khải vặn hỏi số người hộ vệ của mình, câu đối được chắp lại như sau:

Mồm cha tám kiếp nhà ông.

Dù giận tím mặt và thù lên tận cổ, Khải cũng không nói được câu nào với Bạch Xỉ nữa, nên đã bảo bọn cai ngục đem Bạch Xĩ ra bắn ngay cho hả giận.  Lúc nầy Pháp chưa nghe lời Hoàng Cao Khải vì Pháp còn muốn dụ dỗ một nhà nho tài giỏi và có uy tín để có thể ổn định được một vùng địa lý rộng lớn từ Quảng Bình ra tới Hà Tĩnh, Nghệ An, đỡ phải hao binh tổn tướng trong nhiều năm mà chưa chắc đã thành công. Nhưng không có gì mua được chí khí cang cường của một nhà nho yêu nước. Dụ dỗ không được, Pháp quay sang sử dụng đòn tra tấn dã man. Bảy lần tra tấn là bảy lần Bạch Xỉ cương quyết phản cung.  Sự khảng khái tuyệt đối của Bạch Xỉ đã đưa ông đến cái chết tàn khốc. Pháp đang tay hành quyết người chiến sĩ Đoàn Chí Tuân cũng có tên là Đoàn Đức Mậu, rồi Đoàn Văn Long, tức Long Đức Hoàng Đế, biệt danh là Bạch Xỉ Hoàng Đế, ngày 12-5-1897, khi ông đang bị cơn sốt rét hoành hành. Bạch Xỉ mất, tuổi đời mới hưởng được 43 năm.

5. Chí hướng thực hiện:

Có thể nói Phan Đình Phùng và Đoàn Chí Tuân có cùng một quan điểm Cần vương, nhưng khi thực hiện, thì lại khác nhau về chí hướng.  Điểm then chốt là, một bên thì chỉ trông cậy vào lực lượng Văn thân, một bên thì muốn kết nạp lực lượng nhân dân, không phân biệt lương giáo. Giải thích sự bất đồng nầy, có lẽ cần nhìn lại cái khung đào tạo con người nho sĩ. Về điểm nầy, ý kiến của giáo sư Yoshiharu Tsuboi trong tác phẩm’’Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa’’(L’Empire Vietnamien face à la France et à la Chine)có thể giúp chúng ta có một cái nhìn đúng vào từng nhân vật lịch sử khi họ   tham dự vào việc nắm quyền bính, bảo vệ nền quan chủ. Trong trường hợp Phan Đình Phùng và Đoàn Chí Tuân thì việc Cần vương là một phương thế bày tỏ rõ ràng chí hướng hoạt động của mình.

Nếu nho học là một cái khung đào tạo cố định, thì khoa bảng, nghĩa là phải đi thi, đổ đạt, ra làm quan lại là những yếu tố cần thiết để có thể lồng vào trong cái khung nho học, một con người chính thống. Nếu thiếu yếu tố khoa bảng, dưới cái nhìn chủ quan của giai cấp cầm quyền, tất nhiên không hội đủ điều kiện để có thể đứng chung với các vị khoa bảng đang cầm vận mạng chế độ quân chủ trong tay. 

 Trương Đăng Quế là một vị khoa bảng thời danh. Ông đã từng bước vững vàng trên hoạn lộ và trở thành vị quan đầu triều khi vua Tự Đức lên ngôi năm 1848.  Nhưng có một người đồng thời với Trương Đang Quế, không qua khoa bảng, vì không đi thi lần nào cả, mà vẫn được nhà vua trọng dụng vì có tài, đó là Nguyễn Tri Phương. Nhưng Trương Đăng Quế không cần người có tài ở gần bên mình.   Trong triều đình, nếu là bạn, thì dần dà ông sẽ triệt tiêu họ; nếu là đối thủ, ông tìm cách đẩy đi thật xa. Chẳng hạn, Nguyễn Đăng Giai bị đưa ra Bắc. Nguyễn Tri Phương bị đẩy vào Nam. Trong triều và ở các tỉnh phải là người của quan Văn Minh điện Đại học sĩ họ Trương. Ngay cả khi Nguyễn Tri Phương lập phòng tuyến để chống nhau với quân Pháp ở Đà Nẵng năm 1859, Trương Đăng Quế đã đem quân chận ở Đèo Hải Vân, không cho Nguyễn Tri Phương liên lạc với triều đình Huế, và xuyên tạc tư cách làm tướng của Nguyễn tri Phương, khi yên thì đòi đánh để phô trương thanh thế, khi chiến trận bùng nổ thì đòi nghị hòa để được yên thân.

Tóm lại, nói như giáo sư Yoshiharu Tsuboi’’: Khoa cử (hệ thống thi tuyển) và Nho giáo là rường cột của xã hội Việt Nam.  Các quan chức là hiện thân và cấu thành hệ thống thượng lưu, chủ trì ý thức hệ của giai cấp.  Nhà Nguyễn chỉ nắm được quyền bính khi quan chức làm việc. Tự Đức biết rõ điều nầy nên luôn luôn kiểm soát kỹ giới quan chức và dùng thi  tuyển để tìm các tài năng tốt nhất trong dân chúng. Với ý nghĩa nầy, trong mức độ mà quan đúng là quan, thì các quan đương nhiên là những người khoa bảng, nghĩa là có độ trung thành cao với chế độ’’ 9. Nhận xét nầy đem áp dụng cho Nguyễn Tri Phương, người đã dùng tài năng bảo vệ ngôi báu cho Tự Đức, cũng không qua khỏi sự ngờ vực của quan đầu triều lúc bấy giờ là Trương Đăng Quế, thì Đoàn Chí Tuân, chắc chắn không ở trong trường hợp ngoại lệ. Sự trung thành của ông bị ngờ vực nhiều hơn nữa. Thêm vào đó, Đoàn Chí Tuân còn chủ trương đoàn kết lương giáo, không sát tả mà chỉ bình tây, là một chủ trương qúa mới thì làm sao có thể đứng chung bên cạnh hàng ngũ Văn thân được.

Điều cần lưu ý là không phải Phan Đình Phùng và Đoàn Chí Tuân không thể hợp tác chiến đấu trong phong trào Cần vương, trái lại đã có thời gian cả hai cùng đứng chung một chiến tuyến.  Chuyện bất hợp tác chỉ xảy ra, khi Đoàn Chí Tuân muốn suy cử Phan Đình Phùng lên ngôi vua để lãnh đạo đất nước và kết hợp toàn dân cùng chiến đấu chống Pháp.  Nếu Phan Đình Phùng đã không chấp nhận vai trò làm vua để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp sau khi vua Hàm Nghi đã bị bắt, nay vua không còn, chí sĩ Phan Đình Phùng đã ra nguời thiên cổ, thì Đoàn Chí Tuân, tức Đoàn Văn Long phải nhận lấy trách nhiệm lãnh đạo toàn dân để tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.  Bởi vậy Đoàn Văn Long đã tự xưng làm vua, lấy đế hiệu là Long Đức (1896). 

Việc ông làm, thành công hay thất bại thì lịch sử đã ghi nhận. Riêng chuyện đúng sai trong việc tự mình lên ngôi vua thì cần sự nghiên cứu dựa trên các tài liệu do ông để lại và đặc biệt là biên bản thẩm cung do Pháp thực hiện và các bản phản cung bằng chữ nôm của Đoàn Chí Tuân đã viết ra.  Được biết, hiện nay tất cả còn được lưu trử tại Archives d’ Outre-Mer, dépôt d’Aix-en-Provence (AOM Aix) ở Văn khố  Bộ thuộc địa Pháp ở Paris.

Hoàng Đình Hiếu

Chú thích:

1.Có người nói hai câu thơ nầy là do quân vụ đại thần Ông Ích Khiêm, phụ tá cho Tôn Thất Thuyết, viết ra và cho người đem dán lên cổng của Bộ Lại trong kinh thành Huế. Theo ‘’Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam’’ của Nguyễn Quang Thắng-Nguyễn Bá Thế, Nhà Xb Văn Hóa, 1993 và ‘’Việt Nam cách mạng cận sử ‘’của Phạm Văn Sơn’’, Sàigòn, 1963.

2. Phan Canh-Đào Đức Chương, Thi ca Việt Nam thời Cần vương, 1885-1900, nhà xb Văn Học, 1997, tr 57

3. Phan Trần Chúc, ‘’Vua Hàm Nghi’’, Thuận Hóa, Huế, 1995 (tái bản) tr 137.

4. Trong quyển Từ Điển Văn Hóa Việt Nam của nhà xb Văn Hóa, Hà Nội, 1993, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, có hai danh nhân: Một là Nguyễn Hàm Ninh, quê ở Phù Ninh (nay là xã Quảng Thanh) đổ thủ khoa, Viện sĩ Viện Hàn Lâm dưới triều Minh Mạng (1820-1841), hai là Đoàn Chí Tuân, quê ở Hòa Ninh (nay là xã Quảng Hòa) là một nhà nho yêu nước. Đối với tỉnh Quảng Bình, Đoàn Chí Tuân là một trong 6 danh nhân được nêu danh trong thế kỷ 19. Trong sử sách, trên báo chí từ trước đến nay, thân thế và sự nghiệp của Đoàn Chí Tuân đã được nói đến: Tạp chí Tri Tân, xuất bản năm 1932. Báo Sàigòn, xuất bản năm 1952. Tiểu sử cụ Bà Bạch Xỉ trong cuốn Thu Nga Thi Tập năm 1988. Danh nhân Quảng Bình, nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, năm 1997. Tạp chí Văn Hóa Thông Tin Quảng Bình, với bài Nghĩa Quân Hòa Ninh số 49 ngày 8 tháng 1 năm 2000. Bài Long Đức Hoàng Đế trong báo Quảng Bình số 66/4237 ngày 1 tháng 6 năm 2001..

Xin đan cử một vài bài thơ có nội dung bày tỏ tư tưởng và chí khí của Đoàn Chí Tuân.

Đề Gươm: (Trong Hợp tuyển Thơ Văn yêu nước, nửa sau thế kỷ 19 (1858-1900), nhà xb Văn Hóa Hà Nội, 1978:             

Lọt lò tạo hóa bấy lâu nay

                           Ba thước gươm thiêng nắm ở tay

Nhúng xuống sông Âu lòe ánh tuyết

Mài ngang đá Việt đứt làn mây

Ra uy bể Bắc kinh hồn Bắc

Thử thép non Tây vữa mặt Tây

Tấm lòng soi tỏ vì non nước

Ai biết cho không cũng mặc rày.

Dỡ khoai:

Xâm lấn đất ta đã bấy nay,

Anh hùng gặp hội quyết ra tay.

Nhỏ to những mấy vơ ngang cổ

Dài ngắn bao nhiêu bứt cả dây.

Khoai lang, chỉ bọn thực dân Pháp (lang sa), cần phải đào bới, bứt tận gốc rễ.

(Viết theo tài liệu Bạch Xỉ (1855-1897) của Ông Đoàn Tiến Lực sưu tầm và thực hiện tại Quảng Hòa, Quảng Trạch, Quảng Bình, tháng 12 năm 2000).    

5. Làng Hòa Ninh, tên cũ là Làng Đoàn, tên trong địa bạ quốc gia là Vĩnh Ninh, mang mã số D-47, ghi là ‘’Quảng Bình, Quảng Trạch, Châu Bố Chính Ngoại, Tổng Thuận Thị, Xã Thị Lễ, Thôn Vĩnh Ninh. Xã Thị Lễ có 5 thôn, trong 5 thôn có 3 thôn bắt đầu bằng chữ Vĩnh, do đó mới có câu:’’Nhất xã, Ngũ Thôn, Tam Vĩnh’’, đó là Vĩnh Ninh(Hòa Ninh), Vĩnh Yên(Vĩnh Phước) và Vĩnh Lộc cũng gọi là Xóm Vụng. Về mặt tôn giáo, làng Hòa Ninh có cả lương cả giáo, xưa sống lẫn lộn với nhau trên phạm vi đìền thổ của làng. Theo lệnh phân sáp của vua Tự Đức ngày 17-1-1860 và tiếp theo là phong trào Văn thân chủ trương Sát tả, ra đời năm 1874, do đó lương giáo Hòa Ninh phải tách ra. Họ Đoàn một số là giáo, một số là lương. Gia đình ông Đoàn Chí Tuân ở xóm lương.  Họ Đoàn từ Hòa Ninh đã có một nhóm di cư vào Thừa Thiên, ở tại làng Chuồn, tức làng An Truyền. Cũng như Hòa Ninh, tại An Truyền cũng có nửa lương nửa giáo. Người chỉ huy cuộc khởi nghĩa chống Tự Đức trong biến cố Chày Vôi năm1866 là Đoàn Trưng quê ở làng Chuồn, có các em là Đoàn Hữu Ái, Đoàn Tư Trực tiếp tay. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại, nhưng đã tạo nên một khí thế chống áp bức, mà thợ xây Vạn Niên Cơ là nạn nhân của chế độ quân chủ nhà Nguyễn.‘’Vạn Niên là vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào đào máu dân! Tương truyền ở đình làng Hòa Ninh hiện nay có bài vị thờ Đoàn Trưng, được che giấu dưới cái tên là ‘’Ngụy Trưng’’? 

6. Phan Trần Chúc, Sđd, tr 122

7. Phan Canh-Đào Đức Chương, Sđd, tr 58.

8. Lớn lên trên quê hương Hòa Ninh, chúng tôi (người viết) đã thuộc bài ca Vè Binh Hỏa,  trong đó có câu:  

Hoà Ninh là đất bình yên,

Trên hòa dưới thuận, ước thiên niên trị trường

Nghĩ  phong thổ nhà vương

Trong huyên nầy có một...

9. Yoshiharu Tsuboi, L’Empire Vietnamien face à la France et à la Chine, L’Harmattan, Paris, 1987, pp 159-191.

Tác giả: Hoàng Đình Hiếu
   dunglac@gmail.com