Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Hoàng Đình Hiếu
Bài Viết Của
Hoàng Đình Hiếu
Ba mươi năm lịch sử người Công giáo giáo phận Vinh dưới ngòi bút của linh mục Trương Bá Cần
Ai nỡ nhằm chỗ eo mà thắt !
TÀI LIỆU SỬ: NGƯỜI VÀNG NGỬA MẶT

 

                                                                       Hoàng Đình Hìếu

            Phùng Khắc Khoan (1528-1613) tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai, Mai Nham Tử,    người Kẻ Bùng, làng Phùng Xá (nay là xã Phùng Thôn), huyện Thạch Thất, trấn Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Hà Tây. Tương truyền ông là anh em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, tinh thông cả nho học lẫn thuật số nên người đời thường gọi ông là Trạng Bùng..

            Biết họ Mạc tiếm ngôi vua Lê (1527), ông là một nho sinh không chịu đi thi dưới     triều Mạc mà theo sĩ phu vào Tây Đô, Thanh Hóa, tham gia phong trào trung hưng, phò Lê chống Mạc, thi đỗ Hương cống, được Trịnh Kiểm giữ lại trong quân lữ, cho tham dự việc cơ mật, lãnh chức Lễ khoa cấp sự trung. Năm 1557, Phùng Khắc Khoan đỗ đầu khoa thi hương ở Thanh Hóa, năm 1580, đời vua Lê Thế Tông, ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ. Năm 1592, khi nhà Lê trở về Thăng Long (Đông Đô), Phùng Khắc Khoan là hàng công thần triều Lê, được phong Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, làm quan đến chức Hồng lô tự khanh. Liên tiếp trong hai năm 1596 và 1597, ông là chánh sứ sang Yên Kinh (nhà Minh) lo việc cầu phong cho vua Lê. Trở về, ông được thăng Tả thị lang  Bộ Lại, tước Mai Quận công.

 

1. Hai bài biểu: Họ Mạc cướp ngôi nhà hậu Lê năm 1527, ngoài việc đối phó với phong trào trung hưng, phò Lê chống Mạc của Nguyễn Kim, Mạc Đăng Dung (1527-1529) phải lo đút lót quan lại nhà Minh ở vùng biên giới, như Mao Bá Ôn, Cừu Loan…mãi đến đời Mạc Phúc Hải (1541-1546), mới được Yên Kinh nhận biểu xin hàng. Trong lúc đó nhà Lê, trước sau đã phái ba sứ bộ đi vận động ngoại giao, tố cáo việc họ Mạc cướp ngôi, đồng thời xin Yên Kinh phong vương cho nhà Lê nối ngôi chính thống. Mặt trận ngoại giao nầy khá gay cấn và đã để lại trong lịch sử nhiều câu chuyện liên quan đến danh dự quốc gia. Để tìm hiểu sự kiện lịch sử nầy, nay thử đọc lại nội dung các bài biểu của hai sứ bộ họ Mạc và nhà Lê.

a. Bài biểu của họ Mạc: Năm 1440, Mạc Đăng Dung sai cháu là Mạc Văn Minh, có tiểu đầu mục là Hà Tam Tỉnh cùng 28 người khác mang hàng biểu sang Yên Kinh cầu phong. Lời biểu nói: “Thần là tiểu nhân ở xa, trí thức chưa được mở mang. Nhưng mỗi khi núp ở phương Nam, trông về trời Bắc, thấy trời quang đất tĩnh, biển nặng sông trong, biết là Trung Quốc đã có thánh nhân. Huống chi oai hung của nhà vưa đã vang động khắp thiên hạ, và lòng nhân huệ của nhà vua lại như khí hòa mùa xuân, tấc lòng vừa mừng vừa sợ, không thể nói lên hết được. Thần nghĩ: Dòng họ Lê là quốc vương của thần trước, vận nước đã suy, ngày càng chìm đắm. Đến khi quan trị lên nối ngôi, coi việc nước chưa được mấy ngày, thì lại bị bệnh chết. Trong khi thảng thốt, tạm theo tục rợ, giao việc nước cho thần. Thần lại giao cho con là Đăng Doanh. Chưa kịp thỉnh mệnh tâu lên, thực đã tự chuyên phạm tội”

            “ Tuy cửa khuyết cách xa muôn dặm, khôn nỗi tỏ bày, nhưng tội lớn tày trời, thế nào giấu nổi. Năm Gia Tĩnh thứ 17 (1538), cha con thần đã sai bọn Nguyễn Văn Thái dâng biểu xin hàng và xin xét xử, thật do tấm lòng trung thành, không dám man trá. Nhưng lòng thành chưa tỏ được nên không động được thánh tâm. Vì vậy thần rất lấy làm lo sợ, không lúc nào yên. Ngày 25 tháng giêng năm Gia Tĩnh thứ 19, chẳng may Đăng Doanh bị bệnh chết, người trong nước theo thói quen, muốn đem Phúc Hải là con trưởng Đăng Doanh lập lên thay quyền, trông coi dân chúng. Thần sợ cái lối tự tiện truyền ngôi trước đây đã là trái nghĩa, nay nếu lại theo lời xin của dân chúng, thì tội càng thêm nặng, gỡ sao cho khỏi được? Vì vậy, thần và Phúc Hải một lòng cung kính, đợi mệnh triều đình. Vừa rồi đại tướng sang đánh, khi quân vừa tới bờ cõi nước thần thì thần như con lợn trong chuồng, đâu đủ sức để chống lại. May đưọc xem tờ hịch hỏi tội ở trước cửa quan môn, mới biết lòng nhân từ thực không bờ bến, khiến phải vuốt ngực rỏ nước mắt. Thần trộm nghĩ, riêng thần là kẻ có tội, còn nhân dân thì có tội gì? Bệ hạ không nỡ lấy tội của một kẻ tôi hèn mà giết hại dân chúng; thần cũng may nhờ được dân chúng mà còn giữ được hơi tàn. Thần tuy ở trong nước, nhưng vẫn hướng về phương Bắc mà tung hô, nên ngày 3 tháng 11 năm Gia Tĩnh thứ 19 (1540) thần đem bọn tiểu mục Nguyễn Thạch Quế, Nguyễn Thế Khanh, bọn kỳ lão Lê Thuyên, Nguyễn Tổng và bọn sĩ nhân Nguyễn Kinh Tế, Dương Huy Nhất, Bùi Chí Vĩnh đợi ở cửa Nam Quan, tự trói mà ra ngoài cõi, đến doanh đại tướng cúi đầu tỏ lòng trung để xin hàng…”

            Còn như đất đai và nhân dân thì đều là của thiên triều, chỉ xin thể lòng dân rợ, để được tiện sự khu xử. Cho thần được nội thuộc xưng phiên, hằng năm lĩnh lịch nhất thống để ban bố cho trong nước đều theo chính sóc, thực là đại hạnh phúc cho thần. Tuy rằng nước thần trước đây. từ đời họ Đinh, họ Trần, họ Lê, theo nhau xưng vương đặt niên hiệu, sau khi ăn năn tự biết là không nên, thần đã từng nghiêm khắc khuyên răn người trong nước trừ bỏ niên hiệu để đợi mệnh, đâu dám noi theo thói cũ để gấp tội trời tru. Còn việc quan thú Khâm Châu thuộc Quảng Đông tâu rằng bốn động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc hai đô Nhu Tích và Chiêm Lãng là đất cũ của Khâm Châu, Quảng Đông, nếu quả thực như lời ấy, thì đó là cái lỗi mạo nhận của họ Lê trước, nay thần xin giao trả lại, để thuộc về Khâm Châu”.

            “Còn như người mà Trịnh Duy Liễu xưng là Lê Ninh, thì theo như người trong nước thần nói với nhau, người ta cho là con Nguyễn Kim. Dòng dõi họ Lê quả không còn ai, cho nên ở quốc đô thần đã đặt nơi hương hoả để giữ tế tự cho họ Lê. Nay tỉnh Vân Nam lại cho Lê Ninh là con cháu họ Lê, hiện ở Lão Qua, mà tâu lên bệ hạ, thì thần đâu dám biện bạch. Chỉ xim đem 7 châu Quảng Lăng và các trại Hồng Y cùng một vài nơi phụ cận để cắt cho làm  đất quảng hạt, thuộc về Vân Nam. Kính xin phái một vài viên sứ thần sang bản xứ hỏi khắp các dân kỳ cựu, nếu còn có ai là con cháu họ Lê thì thần sẽ đem nhân dân đón về và trả tất cả đất đai, không những chỉ cắt giao những địa phương nói trên mà thôì. Nếu quà thật như lời truyền của người nước thần thì cũng xin thương đến sinh linh, cho được có nơi thống thuộc”.

            “Còn như các cống phẩm năm trước cờn thiếu phải kể ra để bổ sung, và cống phẩm năm sau phải cống thì thần không dám nói đến, vì còn đương ở trong vòng tội, chỉ mong khỏi tội, còn sợ không được. Thần lại muốn chiếu theo việc cũ, đúc người vàng bạc thế thân, muốn dâng lên ngay, lại sợ đường đột. Chỉ xin đem tình thật tâu lên xin hàng để chờ xét xử, và xin được tạm dùng ấn tín của triều đình đã ban bản quốc từ trước, ấn tín nầy thần giữ gìn cẩn thận, không dám tự tìện đem dùng. Nhưng nếu không có nó thì không lấy gì làm bằng chứng. Kính mong rủ lòng xét cho”.1

            b. Bài biểu của nhà Lê: Trưởng phái bộ do vua Lê Trang Tông(1533-1548) sai đi Yên Kinh đầu tiên là Trịnh Duy Liễu, nhưng do đường biển xa xôi, lâu ngày không nghe tin tức, nên năm 1536 lại sai Trịnh Viên đi đường bộ qua ngã Vân Nam hội khám với quan nhà Minh là Đào Phượng Nghi kể tội họ Mạc cướp ngôi. Kịp khi Trịnh Duy Liễu tới Yên Kinh năm 1537, trình bày sự việc, nhà Minh mới bàn đến việc nên ra quân đi hỏi tội họ Mạc theo lời yêu cầu của nhà Lê. Các tướng nhà Minh như Mao Bá Ôn, Cừu Loan, Uông Văn Thịnh có chuẩn bị quân binh, nhưng thật sự chưa có một cuộc đụng độ quân sự nào xảy ra. Bởi vì sau chiến thắng quyết định của Lê Lợi năm 1428, nhà Minh rất dè dặt, nếu không muốn nói là khiếp sợ khi phải đương đầu với quân binh Đại Việt. Có lẽ nắm được ưu thế nầy, nên trong việc tranh chấp với họ Mạc, nhà Lê đã tận dụng khả năng ngoại giao. Người đứng ra thực hiện sách lược nầy là quan Hộ bộ Thượng thư Phùng Khắc Khoan. Ngoài mưu trí của một sứ giả 70 tuổi, Phùng Khắc Khoan còn có tài văn chương lỗi lạc. Ông đã dùng văn thơ nói khéo lời hay thuyết phục được vua Minh và cả sứ bộ Triều Tiên có mặt trong thời gian ông tạm trú ở Yên Kinh.

            Bài biểu do Phùng Khắc Khoan trình lên vua nhà Minh có nội dung như sau: “Thần Lê Đàm [Lê Thế Tông, 1573-1599], cháu xa của thần Lê Lợi, Quốc vương trước của nước An Nam cùng bọn tiểu mục là thần Trịnh Tùng, kỳ mục Hoàng Đình Ái, quan mục là Bùi Bỉnh Uyên, kính tâu về việc giãi lòng trung thành, xin ơn trời tha tội. Thần xem đấng vương giả lấy 6 cõi làm một nhà, lấy tứ di làm phiên trấn kẻ nào không cống hiến thì đánh dẹp, kẻ nào đến chầu phục thì vỗ về, là cốt lấy đại thống nhất để tỏ đại hiếu sinh vậy. Bọn thần ở cõi xa hẻo lánh, còn rất ngu tối quê mùa, chỉ mong được thấm nhuần thánh giáo nên lâu nay vẫn ngưỡng mộ hoàng thân…”

            “Cúi xin Đại hoàng đế thương nước lưu ly, theo lòng dân suy tôn, ban cho danh hiệu, có chút quyền hành, có thể nộp cống làm phiên thần, đời đời nội thuộc, không những là nguyện vọng đời đời của họ Lê mà cũng là nhân dân cả nước. Nhờ đức sinh thành của Hoàng đế ơn ấy lồng lộng như trời. Vì các lẽ đó xin làm bản tâu, sai thần là Phùng Khắc Khoan mang đi” .2

           

2. Một yêu cầu: Cả hai bài biểu như đã thấy, với ngôn ngữ ngoại giao, dù nhún nhường khiêm hạ cách nào, mục đích cuối cùng vẫn là xin nhà Minh phong vương cho vua mình để có danh vị chính thống đối với thần dân trong nước cũng như đối với các quốc gia lân bang. Nhưng Mạc Đăng Dung đã dốc cạn chén hổ nhục mà không được hưởng kết quả, vì ông đã chết ngày 22 tháng 8 năm tân sửu, 1541, trước khi các tướng lãnh nhà Minh làm xong bản tâu trình về triều đình Yên Kinh. Người mang chức Đô Thống Sứ ty, hàng nhị phẩm do nhà Minh ban cho họ Mạc là Mạc Phúc Hải (1541-1546).

             Đến lượt nhà Lê, ròng rã hơn 60 năm trời, với sứ bộ Trịnh Viên bị chận lại ở Vân Nam, sứ bộ Trịnh Duy Liễu bị giam lỏng ở Yên Kinh,3 và kể cả khi họ Mạc đã bị đánh bật ra khỏi Thăng Long (1592), liên tiếp hai lần trong năm 1596 và 1597, Phùng Khắc Khoan vẫn phải đi cầu phong cho vua Lê. Tuy nhiên, với phong thái của một sứ giả có tài, Phùng Khắc Khoan đã xoay đổi được thái độ của các quan trong triều đình Yên Kinh cũng như hoàng đế nhà Minh.

            Nguyên nội dung bài biểu do Phùng Khắc Khoan thảo ra, đã không có những lời lẽ gì làm tổn hại đến quốc thể cũng như danh dự của vua Lê. Người ta nói, nhà Lê đã yêu cầu quân Minh sang đánh họ Mạc. Thật ra đó chỉ là một cách đàn em (Đại Việt) kể tội với đàn anh (Trung Hoa) chuyện họ Mạc cướp ngôi nhà hậu Lê. Quả thật, lần nầy nhà Minh không dám đơn phương cất quân sang đánh họ Mạc, tức đánh Đại Việt. Tương truyền, nhà Minh đã sai sứ sang nước ta để hội ý về việc đánh họ Mạc, nhưng trong tấm vóc trưng ra cho vua Lê chỉ thấy viết hai chữ Thanh Thủy. Cả triều đình không ai hiểu nhà Minh muốn nói gi. Phùng Khắc Khoan được mời giải thích. Suy nghĩ một lúc, ông nói: “Họ muốn quân lính triều đình ta đến tháng 12 này cất quân, cùng họ lên đánh họ Mạc còn lén lút ở miền biên giới”. Vua ngạc nhiên hỏi: “ Thanh Thủy là nước trong xanh, sao lại hiểu ra như vậy? Phùng Khắc Khoan thong thả tâu rằng: “Nhà Minh muốn thử tài của người nước Nam ta, nên chỉ viết có vậy. Chữ Thanh là do ghép 3 chữ Thập, Nhị, Nguyệt mà thành. Thập nhị nguyệt là tháng 12. Chữ Thủy là do ghép hai chữ Vũ và Tốt, nghĩa là ra quân”.

            Sau khi nhận tờ biểu của Phùng Khắc Khoan, nhà Minh chỉ thuận phong cho vua Lê chức Đồng Thống, chứ chưa chịu phong Quốc vương, nên Phùng Khắc Khoan đã tâu lên: “Chủ của thần họ Lê là dòng dõi An Nam Quốc Vương, giận nghịch thần họ Mạc cướp ngôi, không nhịn được mối thù nghìn năm, mới nằm gai nếm mật, lo thu phục lại cơ nghiệp của tổ tông để nói gót tổ tông. Họ Mạc kia vốn là bề tôi của họ Lê nước Nam, giết vua cướp ngôi, là người có tội mà lại nhằm cầu lấy chức Đồng thống. Nay chủ của thần không có tội như họ Mạc mà phải nhận chức như họ Mạc là nghĩa làm sao?”.

            Vua Minh trả lời: “Chủ của ngươi tuy không ví như họ Mạc, nhưng vì mới lấy lại được nước, sợ lòng người chưa yên, hãy cứ nhận đi, sau nầy gia phong vương tước cũng không muộn gì. Ngươi nên kính theo, chớ có từ chối” 4. Phùng Khắc Khoan bèn nhận rồi ra về. Vua Minh có tặng ông một đồng tiền vàng Vạn Lịch Thông Bảo nhưng về đến công quán, ông đã quẳng ngay đồng tiền ấy. Một sứ thần sợ hãi, vội nhặt lên rồi cất đi. Yêu cầu của sứ bộ Phùng Khắc Khoan là xin phong vương cho vua Lê, tuy chưa đạt nhưng đã làm cho vua quan triều đình nhà Minh phải coi vua Lê là chính thống, không còn lấy lý do gì khác để giúp họ Mạc nữa. Bước kế tiếp là Phùng Khắc Khoan đã đấu lý để bỏ lệ cống người vàng cúi đầu.

 

3. Người vàng ngửa mặt: Theo tác giả Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (HCLC) thì trong chuyến đi sứ xin phong vương cho vua Lê, Phùng Khắc Khoan còn đấu lý để xin hủy bỏ lệ cống người vàng cúi mặt  do họ Mạc bày ra trước đó. HCLC thuật rằng: “Khi đã đến Yên Kinh, Lễ bộ đường [nhà Minh] trách về việc người vàng ta đem cống không theo mẫu cũ làm người cúi đầu, nên ngăn cản không cho sứ vào chầu. Ông [Phùng Khắc Khoan] cãi lại; “Nhà Mạc cướp ngôi, danh nghĩa là nghịch, nhà Lê khôi phục lại, danh nghĩa là thuận. Nhà Mạc dâng người vàng cúi đầu thay mình là may lắm. Còn như nhà Lê bao đời làm công thần, thì kiểu người vàng ngửa mặt, bao đời còn đó. Nay lại bắt theo như lệ họ Mạc thì lấy gì để khuyến khích chiêu an và trừng phạt?”. Việc đến tai vua Minh, cuối cùng lại theo thể thức cũ của nhà Lê.” (dẫn theo Nguyễn Thế Long).

            Khi chưa công nhận và phong vương cho vua Lê, thì sứ giả Phùng Khắc Khoa chưa có chính danh, nghĩa là triều đình nhà Minh không phải tiếp đón ông như các sứ giả khác. Đó là một khó khăn lớn mà Phùng Khắc Khoa phải tự phấn đấu để tranh thủ giới quan lại nhà Minh lúc bấy giờ. Nhờ sở trường văn chương, Phùng Khắc Khoan trở thành người bạn văn chương với quan thượng thư Bộ Lại tên là Trương Vị, một Đại học sĩ dạy Thái tử trong triều đình nhà Minh. Ông cũng là bạn văn chương với sứ thần Triều Tiên là Lý Toại Quang, đến nỗi quan sứ giả nầy đã đọc thơ của Phùng Khắc Khoan, phủ chính và viết lời tựa khi Phùng Khắc Khoan hoàn thành tập thơ gồm 30 bài thơ chúc mừng lễ khánh nhật đại thọ 80 của vua Minh. Qua trung gian Thượng thư Trương Vị, vua Minh đã đọc tập thơ của Phùng Khắc Khoan, vui thích và có lời phê rằng: “Hiền tài hà địa vô chi. Trẫm lãm thi tập, cụ khiến Phùng Khắc Khoan chi trung khổn, thủ khả thâm gia quốc mỹ, tức mệnh hạ khắc bản ban thần thiên hạ”.5[Nghĩa là:Hiền tài đất nào cũng có, Trẫm xem thi tập, thấy rõ Phùng Khắc Khoan là người trung hậu, thật đáng ngợi khen, mệnh lệnh khắc bản in ngay để ban hành trong thiên hạ].

            Chuyện ngoại giao với Trung quốc xưa và nay, hỏi mấy ai đã làm được như Phùng Khắc Khoan?

            Để nói về mình, Phùng Khắc Khoan có để lại bài thơ “Đinh dậu phụng sứ thuật hoài”(Năm đinh dậu, nỗi lòng khi đi sứ) do Trần Lê Sáng dịch như sau:

Bảy mươi là kế tuổi già nua,

Dáng chẳng bằng ai dám kém thua.

Xe ngựa xôn xao đoàn sứ bộ,

Công khanh trang trọng lớp chào đưa.

Uy vua thế nước nhờ giao thiệp,

Nói khéo lời hay học chẳng vừa.

Công trạng kết minh đành gắng gỏi,

Bạn bè được mất một mình lo.

Chú thích:1. Nguyễn Thế Long, Chuyện đi sứ-Tiếp sứ thời xưa, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2001, tt 205-208

                       2. Sđd. tr 219   3. Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1998, tt 109-110. CM, Sđ, 221

                  5. Đại Việt Sử Ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tt 196-197.

 

 

Tác giả: Hoàng Đình Hiếu
   dunglac@gmail.com