Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Hoàng Sỹ Quý, SJ.
Bài Viết Của
Hoàng Sỹ Quý, SJ.
Từ Bi Phật giáo với Đức Ái Ki-tô giáo
Khỉ thành Người: không do tiến hóa - Monkey becomes Man?
Một gợi ý về văn hóa Việt và sống đạo
Có thể đối thoại với anh em Hồi giáo?
Cứu độ ngoài hành tinh và trong các tôn giáo
Cảm Tính
Xã hội tính với tôn giáo và phong hóa
Chủ thể và Nội Tâm
Với Khoa Học Mới Cần Đổi Mới Nhiều Quan Niệm Triết-Thần
Xã Hội Với Tôn Giáo và Văn Hóa
Đạo Làm Người
CẢM TÍNH

Tri thức chỉ soi đường vào cuộc sống, còn sống cốt yếu là ở cảm tính (affectivity), nó biểu hiện bằng ham muốn và ghét ưa.

Thực ra ngay việc soi đường cũng thuộc về cảm nhận (feeling) trước tiên, nó luôn đi trước lí tính, và đây là cảm giác thuận hay nghịch một cách mơ hồ, do va chạm sơ nguyên của xác thể với thực tại bao quanh, ở đó chưa có phân rõ giữa chủ thể và đối tượng. Để rồi khi sự phân biệt rõ lên vời ý niệm tỏ sàng, thì cũng không phải là ý tưởng lạnh lẽo kia nó kích hoạt cuộc sống và tác động vào quyết định của đâu. Lại nữa, tri thức lý tính chỉ là tri giác nó không thể thiếu cảm giác, và suy luận nó không thể thiếu di sản của cảm giác là ảnh hưởng tâm lý. Thêm vào đấy, cảm tính không chỉ cảm (sentir), mà còn cảm lại (ressentir) cái cảm đó. Cái cảm trên chỉ là ngoại cảm (như của cây cỏ) về tính hợp hay không hợp của một đối tượng được tiếp xúc, dành cho cảm lại (ressentir) sự đánh giá nội tâm bằng ưa thích hay ghét chống. Và thế là cuộc sống nhộn lên từ bên trong để nổ ra bên ngoài khi hành động bắt đầu. Lại trong và sau hành động, còn có cảm giác hạnh phúc khi mọi cái thuận dòng, hoặc đau khổ khi dòng ấy bị cản, và lo lắng khi mờ mịt tương lai.

Vâng, cuộc sống chỉ sống động lên với cảm, và đây là một trong những yếu tố căn bản nó phân biệt con người với robot. Quả thế, máy tính có thể định nghĩa rất nhanh, nhưng cảm nhận về nó thì không thể.

Cảm tính: một sống nghiệm ở thân thể

Thật ra, thì tri thức cũng thuộc cuộc sống, nhưng nó không khởi động cuộc sống ấy. Cuộc sống luôn bắt đầu với cái còn trong tranh tối tranh sáng của tiền niệm lí (pré-conceptuel) nó thuộc cảm giác và cảm nhận, để rồi sáng rõ lên trong ý thức lí tính khi mặc nhiên tôi nhìn trở lại cái Tôi đang sống đó cùng với những thụ nhận và ngoại tác. Nhờ thế tôi hiểu rằng: sống là chính cái Tôi đang sống ở thân thể, đang vui hay buồn và tỏ hiện ra nơi thân thể, để rồi hành động cũng với thân thể nốt. Bởi thế, hiện tượng luận nói: đây là sống nghiệm thân thể (le corps vécu), nhưng đúng hơn, là sống nghiệm nơi thân thể và cùng với thân thể. Bởi lẽ không chỉ có thân thể, mà còn cái hơn là thân thể, và đây là tâm hồn, dù thân thể không thể thiếu như một nền móng quan trọng của tâm hệ (le psyché) chúng ta.

Cảm nhận luôn đi trước niệm lí, khi mà hành động đi sau tri thức và quyết định. Có điều ý thức về cái Tôi hành động thì chậm hơn hành động tí ti, bởi lẽ Thấy đấy cũng là Thụ đấy do phản chấn từ ngoài và đổi thay bên trong, như hiện tượng luận phân tích.

- 'Tôi thấy rằng Tôi đã thấy....'

Người ta luôn sống và hành động trong quan hệ với vật và người xung quanh qua môi giới của thân thể. Thân thể giúp tôi mở vào thế giới của sự vật như công cụ (outil), và của con người trong quan hệ tình cảm. Mở do cả Thụ lẫn Tác. Thụ trước hết là trong nhận thức. Tôi chỉ nhận thức về thế giới qua các giác quan nó thấy nhờ thụ tác, trước khi lý trí vào cuộc để hoàn thiện cái 'thấy' này. Tuy lý trí tri giác đấy, nhưng nó tri giác nhờ giác quan, nhờ cả ảnh tượng của ký ức. Để rồi cùng với cảm nhận và tri giác nói trên, còn có cảm xúc ưa hay ghét, cũng thuộc thụ cảm.

Nếu trong nhận thức, thế giới có mặt với tôi nhiều hơn là tôi có mặt với nó, thì trong hành động tất cả ngược lại. Ở mỗi giai đoạn của hành động, không chỉ có bên ngoài thụ tiếp tác động của tôi, mà chính tôi cũng thụ tiếp do phản chấn của tiếp xúc cùng với đổi thay được ghi nhận ở cả đôi bên.

Trong cuộc sống và hành động, tôi luôn cảm thấy mình cần đến xung quanh, do đó ý thức về giới hạn và thiếu thốn. Lại vì cả mình và xung quanh đều luôn biến dịch nên tôi còn ý thức về tính mong manh của tất cả. Cái xung quanh mà tôi thấy và cần tới không chỉ là những gì đơn độc của lúc này và ở đây, mà cả những gì cứ vươn xa hơn bất tận thành môi trường và hậu trường của chúng. Nhất là để mỗi cái có ý nghĩa trước mắt tôi, thì không thể nó không quy về và chiếu in trên những gì lớn rộng, như 'hình trên phông' (figure sur fond), để đến lượt chính tấm phông này cũng 'hình trên phông' phải chiếu in trên những tấm phông khác phía sau, lớn rộng và sâu xa hơn. Và đây là không gian không biên và chiều sâu không đáy của 'ý nghĩa hóa' (signification).

Thế giới mở ra với tôi, mà tôi cần đến, là thế giới của công cụ và quan hệ. Vâng, để sống tôi cần rất nhiều thứ. Nhất nữa để sống như một người, tôi không thể sống một mình. Có điều tuỳ tính cách tâm hồn là ti tiện hay cao quý, mà thế giới kia sẽ biến đổi mà sắc và hình dáng. Vâng, đối với kẻ ham lợi và vị kỷ, thì dù người khác cũng chỉ là công cụ như thức ăn và cái xe, và quan hệ cũng chỉ là đường đi cho danh lợi. Trái lại, với một tâm hồn giàu lòng nhân ái, thì dù cỏ cây hay cầm thú cũng được 'người hóa' để thành bạn, thành anh em.

Người khác khi ấy sẽ cần cho y trong quan hệ hiến dâng (oblatif), trong khi với phần đông, quan hệ chỉ là quan hệ đồng hành không thể thiếu được. Quả thật, con người không thể sống cho ra người và tiến bộ nếu không đồng hành với nhau, nhờ đó mới có truyền thống và giáo dục, mới có văn hóa và ngôn ngữ. Vâng, cần có truyền thống để kinh nghiệm và kiến thức không mất đi, mà chất chồng mãi, để phát minh mới từ đó mọc ra sẽ nhờ đó mà tiến cao hơn nữa, khỏi phải làm lại cả từ đầu. Sở dĩ những gì tìm ra có thể truyền lại và phổ biến được, là nhờ có ngôn ngữ và giáo dục cùng với sự thẩm thấu tự nhiên của văn hóa. Ngôn ngữ sẽ bội tăng ý nghĩa khi nó không chỉ là công cụ thông tin, mà còn là xe chở tình cảm với sự góp sức của cả vòng tay và ánh mắt. Và khi ấy, càng rõ không chỉ có sống nghiệm thân thể, má sống nghiệm vượt trên thân thể: sống nghiệm tâm hồn!

Cảm tính: một sống nghiệm thời gian

Với E.Kant, cảm trường có hai cái khuôn đúc sẵn, cũng là hai mô thức thuần tuý (pure form): không gian thuộc ngoại cảm và thời gian thuộc nội cảm. Gọi mô thức ấy là thuần tuý, bởi lẽ đối tượng của kinh nghiệm đâu phải là không gian hay thời gian, mà chỉ là các hiện tượng được chớp bắt từng cái rải rác và riêng rẽ. Để rồi nếu chúng được nối lại thành trương độ và thời lượng, thì đó là do cảm khiếu nó đúc chung  vào khuôn riêng của mình, khuôn của ngoại cảm khiếu để nối các độ lớn thành trương độ, khuôn của nội cảm khiếu để nối các hiện tượng trước sau trong một dòng chảy nó vươn từ quá khứ qua hiện tại mà hướng về tương lai.

Nói cho đúng ra, chẳng có gì được chớp bắt về quá khứ hay tương lai, mà chỉ duy nhất ở cái tích tắc của hiện tại này thôi. Mà cái hiện tại rút cuộc cũng chỉ là điểm giằng co giữa cái hết rồi (mà ấn tượng còn để vết trong ký ức) và cái chưa đến (1) (do sự căng hướng của hiện sinh về Có-tới theo nhận xét của Heidegger).

Đây chỉ là khuôn hay quy luật, nhưng xét về mặt hiện tượng luận, thì đây cũng là cảm nghiệm đồng thời về sự tồn tục và tiếp nối của cái Tôi nó đang nghĩ tưởng, đang vui hay đang buồn, sự tiếp nối giữa những khoảnh khắc của vui buồn ấy. Ý thức về cái Tôi đang hiện hữu, cũng là đang hướng cãng về tương lai, hay thực ra, về Cái gì và Thế nào cho Sống-tới đây, khiến cho hiện hữu luôn là hiện hữu-trong-bận-tâm (souci) theo chú giải của Heidegger, hoặc Muốn-sống theo phân tích của Augustin.

Chính nhờ cảm nhận về sự tồn tại của tôi giữa sự tiếp nối của những hiện tượng nội tâm, mà tôi cũng cảm nhận luôn về cả thời gian bên ngoài, khi mà sống với tôi là sống với công cụ (outils) bên ngoài, và thực tại bên ngoài ấy cũng được kinh nghiệm trong tôi, bên những kinh nghiệm về tôi, để tất cả được trải dài trên dòng thời gian nó đo cuộc sống của tôi:

Thời gian không chỉ đo cuộc sống tôi, mà còn bị đo bởi cuộc sống ấy, bởi đây là sống tự tôi. Chính vì thế mà thời gian không chỉ là thời gian suông, mà thời gian của lịch sử. Bởi lẽ hành vi và hiện tượng tự có sử tính.

Cảm tính: ham muốn và sướng khổ

Cảm tính bao hàm Cảm (xúc) và Nhận (thức). Mà cảm nhận chính là thụ cảm (affecté). Thụ cảm hay cảm ấn (affect) (2) biểu hiện ở cảm xúc, tình cảm và đam mê. Tình cảm (như tình mẹ yêu con) thì thường hằng, nhưng chỉ lộ ra từng lúc thành cảm xúc, còn thì tiềm ẩn. Riêng đam mê là tình cảm quá mạnh nó chiếm lĩnh toàn cuộc sống của anh.

Dù đây là tình cảm, đam mê hay cảm xúc, chúng cũng do ham muốn mà có. Mà ham muốn thì sinh ra từ bản năng (tồn sinh và truyền sinh). Có điều nơi con người, không chỉ có bản năng, mà còn sinh ra phản-ham muốn đối với cái đi nghịch chiều khuynh hướng bản năng (như sựchết). Bởi thế, cảm xúc và tình cảm không đơn cực, mà phản cực thành hướng tâm và ly tâm, thành ưa và ghét.

Sự hướng tâm hay ly tâm ấy không chỉ biểu hiện máy móc như ở các chức năng thực vật chúng hút về phía cái gì chúng cần và đẩy xa cái gì làm hại chúng. Hướng tâm và ly tâm thường được tôi cảm nhận thành tình cảm yêu và ghét nói chung (3), thành thất tình xét theo hoàn cảnh: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, cụ. Thất tình là phản ứng nó đánh giá trước về cái đối diện, để rồi sau đó mới có cân nhắc và quyết định về hành động ứng phó. Vâng, thất tình chính là cảm lại (ressentir) về cảm nhận ly tâm và hướng tâm ban đầu. Để rồi đến lượt thất tình sẽ dẫn vào một Cảm lại thường hằng hơn: cảm nhận thành trạng thái của khổ đau hay hạnh phúc.

Những 'cảm lại' (le ressentir) hay tình cảm không chỉ làm công tác đánh giá các cảm nhận, mà còn nhuốm màu hạ lưu hay cao thượng nữa. Và đây là do tương quan với những tiêu chuẩn khác, với những gì lớn hơn là bản năng tồn sinh hay truyền sinh chúng được tính cách hóa khi ấy bằng tính từ 'hạ đẳng', vâng, bản năng hạ đẳng. Tôi muốn nói đến Chiều cao con người, nói đến những khuynh hướng bản tính mà tôi thấy có thể gọi là Bản năng tinh thần: lòng yêu cái đẹp qua năng khiếu thẩm mỹ, lòng yêu sự thiện qua cảm thức thiện ác, lòng hướng về cõi linh qua cảm thức tục thiêng, và sự hướng chân qua khả năng đánh giá sai đúng của lý trí.

Nếu là bản năng thân xác, thì sinh ra nó đã vậy, đã mạnh rồi. Chứ 'bản năng tinh thần' chỉ tiềm tàng nơi đứa bé thôi. Để rồi, với lý trí chẳng hạn, nó phải 'khốn nhi học chi' mới biết tri thức, nghĩa là khẳng quyết cái gì có thực. Vâng, tinh thần bản chất là chủ động, nên tự do, tự quyết định về mình, khiến cho khuynh hướng tinh thần phải được chính tinh thần vun tưới mới lộ ra và lớn mạnh lên.

Bởi lẽ chỉ tinh thần mới làm nên chiều cao con người, nên sống theo bản năng tinh thần là cao thượng, sống theo bản năng thể xác là hạ trọc. Vâng, cảm xúc và tình cảm sẽ được nghiệm thấy là thiêng liêng nơi những con người dám xả thân vì nước, dám hy sinh danh lợi để theo đuổi một sự nghiệp nghệ thuật hay tư tưởng.

Hai loại bản năng nói lên khá rõ, rằng con người vừa là thể xác, vừa là tinh thần. Là thể xác, nên ngay cả cảm xúc thiêng liêng nơi tôi cũng là Thụ cảm, khiến dù yêu cũng là 'thương' khi tim nghe nhoi nhói, và lòng thấy nao nao. Là tinh thần, nên con người phải chủ động trong chính sự thụ động của mình bằng cách thăng hoa ham muốn, bằng cách khai triển những bản năng tinh thần chúng là hướng mỹ, hướng thiện, hướng chân, hướng thiêng. Để được vậy, con người phải đấu tranh với chính mình, đấu tranh để gạn đục khơi trong, để tật xấu yếu đi và đức tính mạnh hẳn, nhờ đó tâm hồn ngày them thanh thoát, định an và cao quý.

Làm thế cũng là tìm ý nghĩa cho cuộc sống. Vâng, không chỉ có cuộc sống, mà còn ý nghĩa của cuộc sống, và ý nghĩa ấy nằm ở mục đích (4) sống của tôi. Không phải mục đích gần, mà mục đích xa, để đích ấy càng xa, sâu, thì ý nghĩa càng lớn, khiến cuộc đời tôi càng đáng sống hơn gấp bội. Ý nghĩa ấy, như trên đã nói, người ta tìm ở những đỉnh cao mà bản nãng tinh thần hướng về, và đây là sự đẹp, sự thực, sự thiện vá sự thiêng. Với Platon, thì sự đẹp ở trên sự thực, còn sự hảo thiện thì đứng trên tất cả.

Cảm tính và vô thức

Nếu cảm tính đặt cơ sở trên ham muốn, thì ham muốn nơi con người khi gặp trắc trở có thể gây cho dòng cảm xúc tính một tắc nghẹn nó chấn động đến nền móng vô thức. Nhất là khi trắc trở gặp ở tuổi ấu thơ. Bởi lẽ với con vật chỉ sinh lý là quan trọng, chứ với con ngừơi, vì đời sống nội tâm đã rất phát triển, nên tâm lý quan trọng ít là không kém.

Hãy lấy một trường hợp dễ hiểu: Thành thai trong lòng mẹ,để sinh ra rồi lại nương nhờ sữa mẹ và lòng mẹ mà sống, đứa bé có cảm giác mẹ là một với mình. Nhưng sự xuất hiện của người cha xen vào giữa, và có khi cả một đứa em hay anh chị nhỏ, sẽ khiến nó nổi cơn ghen. Nó cần phải thắng được cơn ghen đó để nhận ra mình riêng và mẹ riêng, mỗi bên có cuộc sống và quan hệ cũng riêng luôn. Và đây là trường dạy vào đời, dạy chấp nhận kẻ khác là khác với mình, và hai bên liên hệ với nhau.

Nếu bé là con trai thì vấn đề sẽ gay go hơn, bởi đây không chỉ là mặc cảm tự kỷ Narcisme, mà mặc cảm giết cha Oedipe, cũng là kinh nghiệm đầu của phân giới. Đứa bé cần phải vượt được mặc cảm này, cũng là vượt khỏi ham muốn người mẹ (désir de la mère), hay nói cho đúng hơn, ham muốn nữ tính nơi người mẹ, để mở vào quan hệ nam nữ tự do mai sau. Chứ nếu không thì ám ảnh kéo dài và tật thương khó tránh. (5)

Tâm bệnh thường phát sinh ở tuổi ấu thơ, nhưng sự ủ bệnh có thể kéo dài từ hàng chục năm trước khi bệnh gặp cơ hội sẽ phát tác. Vâng, ở tuổi ấu thơ, đứa bé thật yếu ớt về mặt tâm lý cũng y như sinh lý, nên khi bị kẹt giữa hai làn đạn của xung động từ trong ra và cấm cản từ ngoài vào, thì nếu cái Tôi tâm lý đứng giữa không đủ sức đương đầu, ức chế sẽ khiến xung động dội ngược vào tận vô thức để tiềm phục đấy như một virus đáng sợ, một con quỷ thâm hiểm mà khi hiện hình sẽ đội lốt trắng thành đen, tròn thành méo, như một thứ âm bản của thực tại vậy, hầu đánh lừa cặp mắt của ý thức. Vâng, con đường biểu nghĩa của xung động vô thức là một con đường quanh co, y như trong mê cung, má chỉ những chuyên gia phân tâm học, bằng học vấn và kinh nghiệm,  bằng điều tra và phân tích, họa may mới phân giải nổi.

Đứa trẻ thơ nói trên có thể là một cá nhân hay cả một chủng tộc, thậm chí toàn giống người, và đây là vô thức tập thể. Vô thức tập thể cũng có gốc ở tuổi ấu thơ (tức nguyên thuỷ) của tập thể hay dòng tộc ấy. Có điều vô thức tập thể không phát sinh từ một ức chế tâm lý; nhưng từ kinh nghiệm bao đời của người nguyên thuỷ chúng cấm đọng thành các nguyên tiêu (arkhé-tupos), mà hiện thể thường hằng là các huyền thoại, còn hiện thể bất thường thì diễn ra trong các 'đại mộng' chúng giúp giải trình các vấn đề hóc búa lớn của hôm nay; thường là của chung một xã hội.

Dù vô thức cá nhân hay tập thể, chúng luôn là động năng cảm tính và dòng chảy ngầm của tưởng trường (l'imaginaire)

Chú thích

(1) Augustin, Confessions, ch.XI

(2) Affect tâm lý học, chứ không phải Affect phân tâm học quen được dịch là cảm xạ.

(3) Chúng đi đôi với cảm giác dễ chịu hay khó chịu khi tiếp cận đối tượng.

(4) Dưới con người, thì lý do luôn nằm ở phía trước, nơi nguyên nhân. Vâng, nguyên nhân tương xứng là giải thích cho các hiện tượng tự nhiên. Chứ ở con người, thì cái nó giải thích cho hành động và cuộc sống của anh là cái nằm phía sau, nơi mục đích: vì mục đích gì anh lại làm thế? Hay: sống như vậy thì sống để làm gì?

(5) Về phần con gái đối với mẹ cũng vậy, cùng một mặc cảm Oedipe.

Tác giả: Hoàng Sỹ Quý, SJ.
   dunglac@gmail.com