Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Hoàng Sỹ Quý, SJ.
Bài Viết Của
Hoàng Sỹ Quý, SJ.
Từ Bi Phật giáo với Đức Ái Ki-tô giáo
Khỉ thành Người: không do tiến hóa - Monkey becomes Man?
Một gợi ý về văn hóa Việt và sống đạo
Có thể đối thoại với anh em Hồi giáo?
Cứu độ ngoài hành tinh và trong các tôn giáo
Cảm Tính
Xã hội tính với tôn giáo và phong hóa
Chủ thể và Nội Tâm
Với Khoa Học Mới Cần Đổi Mới Nhiều Quan Niệm Triết-Thần
Xã Hội Với Tôn Giáo và Văn Hóa
Đạo Làm Người
CỨU ĐỘ NGOÀI HÀNH TINH VÀ TRONG CÁC TÔN GIÁO

By Hoành Sơn Hoàng Sỹ Quý

LTS: Đây là bài nghiên cứu tư tưởng mới mẻ về tôn giáo và tâm linh, xin quí độc giả đọc với tinh thần cởi mở.

Những vấn đề đặt ra và đặt thêm ra

“Không có cứu độ ngoài đức Kytô”, đó là niềm tin nguyên thủy của Kytô-giáo. Nguyên tắc ấy rồi sẽ đẻ ra hệ luận sau:”Không có cứu độ ngoài Giáo hội”. Thế nhưng Kytô-giáo hôm nay, ngoài Công giáo ra, còn không thiếu những giáo hội khác; lại những người được gọi “ly giáo” bây giờ đâu có trách nhiệm về sự chia rẽ do cha ông trước đây gây nên? Nhìn xa hơn, như hôm nay càng thấy rõ, thế giới này không thể không là một thế giới đa nguyên, đa nguyên cả về mặt tôn giáo, “đa” suốt cho tới ngày thế mạt, chắc thế. Mà thế thì đâu là sự cứu vớt do Chúa Kytô, vốn dĩ phổ quát, đối với anh em bên ngoài, đối với môi trường xã hội cho sống đạo là chính tôn giáo của họ đây?

Thêm vào những khó khăn trên, một khó khăn mới, lớn hơn, mà những viễn giới thiên văn vừa đặt ra cho cứu độ học: NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH, mà các tiểu thuyết và phim ảnh đang gây dần quan tâm và ý thức. Vâng, sự sống có thể xuất hiện bất cứ đâu đủ điều kiện, ở hành tinh nào đó thuộc thái dương hệ khác, và nếu đủ thời gian, nếu thời tiết thuận lợi, sự sống ấy ắt phải tiến hóa kỳ cho tới con người.

Gọi “con người” chỉ ở chỗ họ có cơ thể như động vật, mà cơ thể ấy lại được hoạt hóa bởi một thần khí, dù tinh thần và cơ thể kia có gì khác với chúng ta, với ba bốn mắt, năm sáu tay, bảy tám giác quan chả hạn.

Vấn đề đặt ra khi ấy cho thần học sẽ là, nếu có nhiều chủng, loại người như thế, thì làm sao cứu độ Kytô-giáo có thể xuyên không gian, thời gian và huyết thống để đến với họ được? Mà liệu họ có cùng một định mệnh siêu nhiên, cùng một nguyên tội với chúng ta không, để chia sẻ với chúng ta cùng một kế hoạch cứu vớt? Riêng về phần đức Kytô, liệu Ngài có khả năng vươn dài “cánh tay bồ tát”, vươn rất dài, tới những thế giới xa xôi ấy, tới những người không quen biết và không cùng một tổ sinh ra ? Hay là Lời phải nhập thể nhiều lần, cho mỗi hành tinh một lần?

Như thế, ngoài hai vấn đề cũ của Công giáo là Đại kết và Đối thoại tôn giáo, một câu hỏi mới nay đặt ra, nóng hổi: Cứu độ ngoài hành tinh nếu có thì phải diễn ra cách nào? Một hay nhiều kế hoạch cứu độ, một hay nhiều lịch sử cứu độ?

Dưới đây, sau khi trình bày mọi khía cạnh của vấn đề, tôi xin thử một giải đáp. Giải đáp này dựa trên nguyên tắc của một Tổng thế quan (hay cách nhìn mọi vũ trụ thống nhất trong tạo thế dưới một Tổng thế giới, với một Tổng thể các chủng, loại người). Nhờ đấy mới có thể kết luận về một Cứu độ và một Tổng kế hoạch cứu độ xuyên không gian và thời gian, xuyên luôn huyết thống nữa. Nhưng trước hết, phải xác định khả thể về một tình trạng Đa chủng, loại của con người.

Khả thể về tình trạng Đa nhân chủng

Từ ít lâu nay, cả khoa học lẫn phim truyện giả tưởng đều hướng về người ngoài hành tinh. Mà thật ra, ngay trong giải Ngân hà chúng ta với 30 tỷ vì sao, không thể thiếu những hệ mặt trời giống với hệ mặt trời này, với những hành tinh đủ điều kiện cho sự sống phát sinh và tồn tại. Riêng trong hệ mặt trời của chúng ta, ngoài trái đất, xem ra không đâu hiện còn sự sống. Thế nhưng có lẽ sự sống từng đã có trên sao Hỏa, qua dấu tích như của những lòng hồ và sông, cùng với lớp băng dưới lòng đất.

Như khoa học cho thấy, các chất tiền thân của sự sống không thiếu gì giữa các vì sao, đặc biệt ở nhân các sao chổi, và đây là acide cyanhydrique và formaldehyde. Trận mưa những chất này xuống một hành tinh, quanh miệng một núi lửa đang hoạt động mạnh với biến động thời tiết cũng rất mạnh, thì với cơn bão điện từ diễn ra khi ấy, nếu gặp môi trường thủy nhiệt, sẽ có những sinh vật đơn bào được sinh ra tư các tiền acid amin nói trên. Nên có sự sống ngoài hành tinh là điều xem như chắc chắn. Có điều, để sự sống tiến hóa xa hơn, thì phải đủ thời gian và thời tiết thuận lợi. Chứ nếu không, sự sống ấy sẽ sớm kết thúc như trên sao Hỏa. Và như thế, “Người ngoài hành tinh” là điều mơ tưởng hơn là khả dĩ. Thế nhưng biết đâu. . ., và do đó thần học vẫn phải đón đầu bằng cách suy tư về những hệ quả do đó đối với cứu độ học.

Vâng, chỉ cần hệ thần kinh phát triển cao, hẳn sẽ có “bước nhảy vọt”nó cho ra đời một thứ động vật có nội tâm, cũng là có trí khôn và ý chí tự do. Vâng, đã từ động vật mà phát triển thành người, thì con người ấy không thể không dựa vào cơ thể như nền tảng thứ nhất dù để tri thức và quyết định. Cho nên, giống như chúng ta, con người ấy phải từ kinh nghiệm giác cảm mà tiến tới hiểu biết và suy tư. Do đó, tri thức đây là cái biết lý tinh (rationnel), chứ không phải trực tri của tinh thần thuần túy. Có điều, cũng như các bậc đại hiền của trái đất, Têrêsa Avila trong Công giáo và một số vi trong Ấn giáo, đã tiến được xa hơn về phía tinh thần bằng những cảm nghiệm samâdhi (đại định) siêu ý niệm, thì người ngoài hành tinh có thể đạt tới cách “trực tri” huyền bí ấy “tự nhiên” hơn chúng ta. Còn về giác tính, thì biết đâu họ có thêm giác quan lạ kỳ, lại thần giao cách cảm (télépathie) và thần ý cách tác (télékinésie) một cách dễ dàng và phổ biến.

Nhiều nhà vật lý thiên văn còn tưởng tượng ra những Bigbang và Bigcrunch liên tiếp, do đó những vũ trụ nối đuôi nhau xuất hiện “trong thời gian”, thậm chí những vũ trụ song song rất khác nhau về cơ cấu, với cả liên khối (continuum) (tạm gọi không gian) mươi lăm chiều chả hạn, khiến cho con người ở đấy, ít là về mặt thể xác, gần như không có gì giống chúng ta. Nếu đúng thế, thì làm sao có thể trao đổi giữa đôi bên, làm sao còn những liên hệ tự nhiên, để qua đó có liên hệ siêu nhiên, trong cứu độ.

Trước khi đưa ra cách giải quyết của chúng ta, hãy tìm xem xưa nay trong Hội thánh, người ta đã nghĩ về vấn đề trên, hay những vấn đề giống thế, như thế nào.

Lịch sử cứu độ học liên quan đến người ngoài hành tinh

Từ lâu trước khi khoa học viễn tưởng hướng trí tưởng (tượng) ra bên ngoài hành tinh, thì người ngoài hành tinh đã được thần học chiếu cố đến, bởi có liên quan tới tính phổ quát của nguyên tội và của vai trò đấng Cứu thế. Vâng, cứu độ ngoài hành tinh đã được bàn đến rất sớm, gần như vào lúc khai sinh Kytô-giáo, ít là từ Origène.

Origène (185-254), như hầu hết trí giả của những thế kỷ đầu Kytô-giáo, đều mang “huyết thống” (triết lý) Platon, với cái nhìn nhị nguyên về con người : Con người xác riêng, thần riêng, và xác là ngục tù của tinh thần ấy. Cũng như Socrate và Platon, Origène cho rằng trí tuệ có trước con người, hằng ức tỷ trí tuệ khi ấy phiêu hốt giữa khoảng không. Các trí tuệ nói trên, bắt đầu rất thanh khiết, sẽ thoái hóa mà bị giáng cấp ở những thang bậc khác nhau: bậc thiên thần và hạ thần (daimôn, démon) với thân xác nhẹ nhàng, phiêu phưởng, bậc tinh đẩu (vốn có trí tuệ) và con người với xác thô, cảm năng và tri thức. Giữa các trí tuệ ấy, chỉ duy một trí tuệ, trí tuệ trung tâm, đã giữ mãi được sự thuần khiết ban sơ, để Logos sau này kết hợp với khi nhập thể, thành Yềsu Nazareth đấng Cứu thế. Chính vì trí tuệ đức Kytô, vừa thuộc loài trí tuệ, lại trí tuệ trung tâm, nên thành nền tảng cứu độ và nguồn ân sủng cho mọi thứ trí tuệ dù trong thể xác hay không, nghĩa là cho cả các thần nữa. Như thế, cứu độ Kytô-tính có tính phổ quát hoàn toàn. Thiên thần còn được cứu, huống nữa những chủng người khác nếu có. Bởi lẽ Origène không lấy huyết thống (thân xác) làm gốc, mà lấy trí tuệ vốn dĩ đã thành Loài trước khi có xác thân.

Thay vì đặt sự thống nhất ở siêu thế giới các trí tuệ, như Aristote trở về với thế giới vật chất, thánh Tôma Aquinô (thế kỷ XIII) tìm sự thống nhất ở ngay chính vũ trụ này. Theo ông, Hóa công là bậc đại trí, lại nghệ sỹ nữa. Là bậc đại trí, nên vũ trụ do Ngài làm phải nhất thống thành một khối thôi. Là nghệ sỹ, nên công trình của Ngài, cũng là thế giới của chúng ta, phải rất mực hài hòa giữa các thành phần làm nên nó, nghĩa là cũng chỉ làm nên một thế giới. Mà thật ra, Thiên Chúa đâu cần nhiều thế giới làm gì, khi mà giữa thế giới ấy, Ngài chỉ nhìn thấy con người thôi: Vâng, một thụ tạo thông minh, lại được ân sủng động chạm tới, chả hơn là cả mớ những hệ tinh cầu vô tri gom lại hay sao?

Tuy không chấp nhận đa thế giới, học thuyết Tôma vẫn ngỏ cửa cho khả thể về nhiều loài thụ tạo thông minh. Và nếu có nhiều loài thụ tạo thông minh có xác, thì cũng có thể diễn ra nhiều chương trình cứu độ. Theo Tôma, một nhập thể đâu vét cạn nổi quyền năng của một đấng là nguồn vô tận của những hiển thể và tiềm thể. Nghĩa là, đã thành con người Yêsu Nadareth rồi, Lời vẫn còn dư sức làm những cuộc nhập thể khác.

Guillaume de Vaurouillon (thế kỷ XV) dòng Phan sinh lại chủ trương nhiều thế giới. Có điều chỉ trái đất mới tội lỗi, nên cũng chỉ loài người ở đây mới cần đến ơn cứu độ. Mà giả như thế giới khác cũng tội lỗi, thì dù chỉ sinh ra ở trái đất, Chúa Yêsu vẫn có thể làm Kytô cho những thế giới ấy.

Joseph Pohle (1852-1922) cũng chấp nhận khả hữu về người ngoài hành tinh, nhưng cho rằng họ sống hạnh phúc trong tình trạng thuần tự nhiên, có khi cả với ân sủng nữa. Giả như họ cần cứu vớt, thì ngoài nhập thể và cứu chuộc ra, Thiên Chúa còn cách khác để tha tội.

Riêng nhà thần học nổi nang nhất của thế kỷ XX, Karl Rahner, thì đề ra hai nguyên tắc:

- Chỉ có một lịch sử cứu độ

- Không có trạng thái thuần tự nhiên, nghĩa là trạng thái bên ngoài cầu trường ân sủng; mà nếu đã có ân sủng, thì ân sủng ấy chỉ có thể là ân sủng đức Kytô.

Có điều cũng như Tôma, Rahner chấp nhận khả năng về nhiều nhập thể của cùng một Ngôi Lời.

Sau khi đã trình bày sơ lược các ý kiến cứu độ học liên quan đến người ngoài hành tinh, tôi xin phép đưa ra một số nhận định, và sau đó, cách giải quyết sơ thảo, nên còn nhiều khiếm khuyết, của tôi.

A. MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH

Nhận định 1: Dám mở rộng hết mức tầm nhìn

Lý thuyết, dù là lý thuyết thần học cũng phải biến đổi với thông tin, kinh nghiệm và văn hóa. Vào thời giáo phụ, biên giới địa cầu gần như bị đồng hóa với biên giới của đế quốc La mã, khiến cho, khi Tin mừng được loan khắp đế quốc, thì cao trào truyền giáo của ba thế kỷ trước cũng khựng lại, và ngưởi ta đi tìm Nước Trời ở nội tâm, nghĩa là đi tu.

Kịp đến thời Christophe Colomb, trước tin đồn về một “tân thế giới” được khám phá, nhiều Kytô-hữu đã hoảng, kêu là “tin nhảm”, bởi lẽ một thế giới khác, cùng với nó là một chủng người khác, sao có thể đi đôi với niềm tin về một tội nguyên tổ, về cứu độ do một Tân Ađam? Để rồi hôm nay, với ý nghĩ về “Người ngoài hành tinh” ngày càng tăng cường độ ám ảnh, thì mối lo xưa lại trở về cho đức tin nặng về phòng thủ của chúng ta.

Dĩ nhiên là suy tư thần học phải dựa vào mạc khải, nhưng nếu mạc khải là từ Thiên Chúa, thì mạc khải ấy cũng phản chiếu từ trí óc kẻ tiếp thu, do đó vào khuôn trong các phạm trù và tập quán chúng chi phối tri thức của trí óc ấy. Và thế là sự siêu giới hạn của Lời Thiên Chúa lại bị giới hạn bởi lời con người, khiền cho lời con người này luôn phải được vượt qua (cũng là vượt qua các lớp khung giáo dục của ngôn sứ, các tấm kính phản chiếu văn hóa của mỗi thời và mỗi vùng trời) để người ta có thể gặp đúng Lời Chúa –nói cho đúng hơn, tiến gần hơn về phía Lời Chúa –, và do đó ngày càng phát hiện các chiều kích mới, các khả nghĩa mới của Lời. Vâng, Chúa luôn nói với tôi trong lịch sử, nhưng Lời Chúa vẫn vượt lịch sử, nên siêu ngôn từ và siêu ý niệm. Khiến cho, vào thời đại “thiên văn” hôm nay, viễn giới của suy tư thần học cũng phải siêu hành tinh luôn. Thậm chí siêu cả vũ trụ này nếu quả có nhiều vũ trụ, như một số nhà khoa học nghĩ. Thật ra, ngay vào thời đầu Hội thánh, Origène đã có cái nhìn siêu hành tinh như thế đấy. Và ngay trước Origène, viễn giới ấy cũng đã tiềm tàng trong tâm trí Phaolô:

–“ . . .nơi Ngài [Lời} muôn vật (ta panta) được tạo thành trên trời (en tois ouranois) dưới đất, hữu hình và vô hình, dẫu là Dũng lực thần thiêng hay Quyền lực thượng giới. . .Ngài cũng là đầu của thân thể, tức đầu của Hội thánh [đức Kytô]. . .để trong tất cả Ngài đứng đầu. Vì Thiên Chúa đã muốn nơi Ngài có tất cả sự viên mãn (plêrôma). . .Nhờ máu Ngài đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã mang lại bình an cho mọi loài dưới đất (ta epi tês gês) cũng như mọi loài trên trời (ta en tois ouranois).” ( Col.1.16-20)

Chẳng những tất cả được hưởng sự bình an từ đức Kytô, mà kế hoạch của Thiên Chúa còn là “thu hồi tất cả dưới quyền một thủ lãnh là đức Kytô, cả những gì trên trời lẫn dưới đất” (Eph.1.10).

Muôn loài muôn vật trên trời dưới đất được tạo thành, cố nhiên do Lời; mà nay được hòa bình do máu, cố nhiên máu của đức Kytô. Lại cũng được thu hồi trong đức Kytô nữa. Mà muôn loài muôn vật trên trời ấy chẳng những là thiên thần, mà còn là Dũng lực và Quyền lực, tức các tinh đẩu trong vũ trụ, vốn cũng được Hy lạp thời ấy coi là có trí tuệ. Vậy TRỜI nói trên không chỉ là thiên đường, mà còn là vũ trụ (phía trên) luôn. Cứu độ học Phaolô như thế cũng có tầm mở hoàn vũ (cosmic) như Origène sau đó. Vâng, vai trò của đức Kytô là đối với toàn thụ tạo giới, cả trong sáng tạo lẫn trong cứu chuộc. và điều ấy nổi hiện rất rõ trong Phaolô ở hai đoạn văn trên cũng như trong Yoan ở Tiền ngôn Phúc âm (1.1-18). Với độ mở lớn đến thế, thì lo gì “cánh tay bồ tát” của đức Kytô không vươn tới người ngoài hành tinh được!

Nhận định 2: Đa thế giới và đa chủng người

Với tầm nhìn xa hơn của kính thiên văn và qua tính toán, người ta ước lượng có hằng tỷ thiên hà, và trong mỗi thiên hà hằng tỷ ngôi sao. Nhiều sao đến vậy thì hỏi thiếu gì hệ mặt trời, để rồi trong những hệ này thiếu gì hành tinh đủ điều kiện cho sự sống phát triển, giống như trái đất. Và cũng như trên trái đất, nếu sự sống tồn tại tới ba bốn tỷ năm và thời tiết thuận lợi, thì hẳn có giống người xuất hiện.

Thêm vào đấy, nếu có những Bigbang và Bigcrunch nối tiếp nhau, thì cũng nối tiếp nhau những vũ trụ được sinh ra từ đó, và trong những vũ trụ ấy, những giống người. Các nhà vật lý thiên văn còn hình dung những vũ trụ song hành, có thể rất khác nhau về cấu trúc, không phải chỉ bốn chiều không gian-thời gian, mà nhiều gấp mấy nữa. Mà như thế thì giống người ở đó sẽ vô cùng khác lạ, lại cũng không liên lạc gì được với chúng ta, trừ phi có cách chuyển đổi từ hệ liên khối (continuum) bốn chiều sang muời chiều chả hạn, và ngược lại.

Thật ra, nếu nói đến chủng người, thì đâu cứ phải ra ngoài trái đất mới gặp người khác chủng.

Ngay trên mặt đất, ít nhất để bắt đầu phải có hai thủy tổ nam và nữ cho đủ một cặp chứ. Nếu không thì phải nghĩ đến chuyện người nữ thứ nhất phồi hợp với một tinh tinh để sinh ra những con người tiếp theo, nếu có thể.

Vào thời Kha luân bố, người ta còn phát hiện những tộc người ở cách xa Á-Âu-Phi-Úc châu chúng ta bằng những đại dương quá rộng, gần nửa vòng địa cầu, khiền cho chỉ vào thời của tàu biển (và la bàn nữa), người ta mới có khả năng tiếp cận thôi. Phải chăng sự tách rời các lục địa đã phân ly cùng một giống người? Xin nhớ, các lục địa chỉ di chuyển với vận tốc mấy phân mét mỗi năm, nên khi bắt đầu có giống người (cách đây nhiều lắm là I triệu năm), thì châu Mỹ với lục địa cũ chỉ gần nhau hơn bây giờ khoảng 100km là cùng. Hay dân Tân thế giới là người Bắc Á châu đã bằng đường bộ từ cựu lục địa di cư sang vào thời băng hà phủ kín Bắc cực, cách đây 20.000 - 30.000 năm? Bắt đầu, người ta đoán là người Mông cổ, nhưng sau thấy không phải.

Thật ra, dù người da đỏ có là giống người khác chúng ta cũng chẳng sao. Vì theo thuyết tiến hóa của De Vries, thì mỗi giống có nhiều tổ. Vâng, theo Hugo de Vries (1848-1935), trong tiến hóa vĩ mô, khoảng 1/1000 cá thể mỗi chủng loại, vào cùng một thời kỳ nào đó dù từ nhiều vùng khác nhau, sẽ làm một cú nhảy vọt ngoạn mục để chuyển đổi hẳn sang một giống loại mới (trong khi 999/1000 cá thể kia ở lại vĩnh viễn trong giống loại cũ), và sự chuyển hóa này là bền vững, chứ không như trong tiến hóa vi mô của Mendel. Thế nghĩa là không chỉ một con tinh tinh biến thành người, mà nhiều con cơ.

Thật ra, dù có nhiều chủng người trên mặt đất, thì tất cả cũng chỉ làm nên MỘT LOÀI NGƯỜI trong con mắt của đấng là Thiên Chúa và Cha, cái Loài người vốn là đích nhắm duy nhất trong yêu thương của Ngài khi tạo thế; cũng như Thế giới nói chung, dù do nhiều vũ trụ làm thành, vẫn chỉ làm nên Một tác phẩm dưới bàn tay của bậc Siêu nghệ sỹ là Ngài.

Nhận định 3: Tội và cứu độ xuyên chủng

Nếu có nhiều chủng người, dù trên mặt đất hay trong không gian, thì phải hiểu thế nào về Tội tổ tông đây? Từ lâu nay, để giải quyết vấn đề, có thần học gia phân nguyên tội thành hai thứ tội: (a)Tội nguyên xưa (péché des origines) nói về nguồn gốc đầu tiên của tội, và Nguyên tội (péché originel) được coi như hậu quả , cũng là trạng thái tội lỗi phổ biến và cái mầm xấu mà mọi người đều mang khi sinh ra. Xem ra thần học hôm nay chỉ chú ý đến mặt thứ hai này của nguyên tội, một thứ tội chung, Tội viết hoa số ít hay Hamartia dưới ngòi bút thánh Phaolô, tội mà mọi người góp phần làm nên, nhen nhúm ngay từ thuở ban đầu, tội như thái độ căn bản là phủ nhận Thiên Chúa, nó được biểu hiện cụ thể ở mỗi tội mỗi người trong cuộc sống. Chính đây mới là cái mà Cựu ước thực sự muốn nói đến, ngay cả Phaolô trong Tân ước cũng vậy khi ngài gọi nó là “mầu nhiệm của sự bất chính (anomia)” (2 Thess.2.7).

Nếu hiểu nguyên tội như tình trạng tội lỗi phổ biến và thái độ căn bản chung là phủ nhận Thiên chúa, thì mọi chủng người, dù trong hay ngoài hành tinh đều có thể mắc như nhau. Chính vì bản chất vừa tự do (do tinh thần) nên có trách nhiệm, vừa biến đổi (do vật chất) và dễ hay đổi nên khó lường trước, mà con người không thể tự mình ở mãi trong tình trạng lương chính, nhất là cho mọi cá thể. Vâng, về ứng xử của con người, cá nhân và nhất là tập thể, người ta chỉ có thể đo lường trước bằng tính xác xuất, nghĩa là có tốt thì cũng có xấu, phân biệt chỉ là ở tỷ lệ tốt nhiều hơn xấu, hay xấu nhiều hơn tốt thôi, không nhất định trăm phần trăm được.

Thế có nghĩa là, rồi người ta cũng phạm tội. Và nếu hướng đi của người ngoài hành tinh nghiêng về thiện hơn, thì ít hay nhiều họ vẫn cần đến ơn tha thứ và sự cứu vớt. Chúng ta cứ xem người da đỏ Mỹ châu thế kỷ XVI thì rõ. Họ cũng ích kỷ và tàn bạo không thua gì những người da trắng đến đàn áp họ. Và đây chính là điều mà tác giả thánh vịnh than thở khi kêu lên: ”Tôi đã sinh ra trong tội lỗi!” (c.7). Cả Phaolô cũng thấy thế khi trình bày sự cứu độ phổ cập do một Ađam mới (Rom.5.12tt.).

Vả nữa, dù người ngoài hành tinh không phạm tội, thì dưới cái nhìn sâu xa của những người như Teilhard de Chardin, họ vẫn cần điểm Omêga của thụ tạo giới là Con Thiên Chúa thành người, để nơi Ngài là Ân sủng viết hoa,mọi người trở thành con Thiên Chúa hết.

Nhận định 4: Chỉ có một nhập thể do Lời, tức một Kytô

Loài người dù đa chủng hay bị chia cách bởi không gian (với nhiều hành tinh,nhiều vũ trụ song song) hoặc thời gian (với những vũ trụ nối tiếp), thì trong con mắt Thiên Chúa, họ cũng chỉ làm nên Một loài người trong Một tổng thế giới. Và do đó cũng chỉ có một kế hoạch và lịch sử cứu độ. Mà giả như có một chủng người nào không phạm tội nên không cần cứu vớt, thì họ vẫn cần ân sủng của Con Thiên Chúa thành người để nên con Thiên Chúa cùng với chúng ta.Thế nhưng thử hỏi có cần mỗi Tân Ađam cho mỗi chủng người, nghĩa là nhiều nhập thể? Và để nhập thể thì bản (ngôi) vị nào trong ba cũng được?

Augustin, rồi Tôma theo ông, cho rằng Ngôi Lời mà nhập thể thì chỉ là điều thích hợp thôi, chứ không nhất thiết phải thế. Còn Rahner lại coi chỉ Lời mới nhập thể được:

“Trong hành vi tạo thế của mình, Thiên Chúa đã tư tưởng thụ tạo thành một thứ văn phạm mà qua đó Ngài có thể diễn đạt chính mình. . .Nhìn từ góc độ ấy, ta mới hiểu ra phải là Lời Thiên Chúa mới thành người được, và chỉ Ngài mới có thể thành người thôi.”

Ừ thì một mình Ngôi Con, nhưng nhập thể mấy lần? Thánh Tôma và Rahner sau ông cho rằng một nhập thể không thể vét cạn quyền năng của một vị Thiên Chúa; nghĩa là nhập thể rồi, Lời vẫn còn khả năng nhập thể tiếp.

Nhưng giả thiết đã có nhiều nhập thể như vậy xảy ra rồi, thì thử hình dung xem, nếu các đấng Kytô ấy họp lại với nhau, dù dưới trần thế hay trên Trời sau khi đã phục sinh, thì “họ” (các Kytô) sẽ xưng hô với nhau thế nào đây? Chả lẽ Kytô A xưng Tôi và gọi “người đối diện” là Các anh hay sao? Và do đó nào có gì khác giữa các ngài với các avatâra (những hình thức giáng trần của thượng thần Vishnu trong Ấn giáo), avatâra mà chúng ta vẫn coi như chiếc áo khoác của Vishnu, ngài đã thành khỉ, rùa, thành ông hoàng Râma, thành chàng chăn bò Krishna, v.v. . .?

Quả là, nếu nhìn từ góc độ sức mạnh (pháp lực thần thông), thì một nhập thể không thể vét cạn năng lực của một toàn năng Thiên Chúa. Nhưng vấn đề đâu chỉ là năng lực thiên tính, mà còn là tính Bản vị (hypostatic) hay Chính mình của nhập thể. Vâng, Lời đã nhập thể theo chủ vị (sujet, personne), kata hupostasin, nghĩa là đưa chính mình và hết mình vào con người Yêsu Nazareth, để con người ấy, và chỉ riêng con người ấy, thành Con Cha, “lẫn lộn” với Lời. Nghĩa là trước đây thì Lời xưng Con với Cha, còn từ đây thì nơi con người Yêsu Ngài xưng Con hết mình với Cha, xưng Tôi hết mình với mọi thụ tạo. Vâng, chính nơi con người Yêsu, và chỉ nơi con người Yêsu đó, một cách duy nhất (unique) và vĩnh viễn! Nghĩa là không thể còn tiếng Tôi nào của Ngài xướng lên nơi một Kytô thứ hai, Tôi đấy mà cũng Anh, tức Không-Tôi luôn. Vâng, không phải như Quan Thánh xưng Tôi để “thánh phán” nơi những người lên đồng, ngài chỉ dùng miệng họ như những chiếc loa, những công cụ không hồn, thế thôi.

Thế nhưng, đức Yêsu của trái đất nhỏ xíu này mà làm Đầu cho mọi loài người của mọi vũ trụ bao la kia được ư? Quả là “cóc ngồi đáy giếng” như Hội thánh thời Galilê đã coi hành tinh lớn đến nỗi không thể không là trung tâm thế giới?

Quả hành tinh chúng ta không phải trung tâm của thế giới vật chất thật, nhưng Thiên Chúa đã chọn nó để sinh ra, khiến dù bé thế mà nó vẫn thành trung tâm thiêng liêng của hoàn vũ cũng như điểm tập trung của lịch sử cứu độ. Vâng, cũng như Thiên Chúa đã không chọn một nước lớn như Nga, một dân đông như Tàu để gửi gấm Lời hứa và chuẩn bị cứu thế, mà lại chọn Israel!

Quả thật Thiên Chúa đã ưu đãi hành tinh chúng ta và ưu đãi một số nhỏ người của hành tinh này, những người sinh sau đức Kytô và có may mắn được gọi vào Vương quốc Chúa: “Giữa những kẻ sinh ra từ người phụ nữ [sinh tự nhiên], thì không ai lớn hơn Yoan [Tiền hô], nhưng kẻ nhỏ nhứt trong Nước Trời lại lớn hơn ông ta.” (Mt.11.11)

Bởi chỉ kẻ sinh sau Yoan mới có khả năng tiếp nhận Tin mừng, hay mạc khải do Con từ lòng Cha mang tới (Yo.1.18; Mt.11.27), mạc khải mà tự nhiên không ai hiểu nổi, nên càng không ai có thể tưởng tượng ra. Mà phải hiểu Tin mừng hay mạc khải ấy thì mới sống theo được, nhờ đó nên thánh cao. Ấy là chưa nói đến những huyền tích Kytô-giáo chúng tác động mạnh và không sai chạy, giúp người ta có sức để bay cao, bởi ngày càng dấn sâu vào mầu nhiệm Chúa Kytô, nhờ đó kết hợp mật thiết với Ba ngôi Thiên Chúa!

Vâng, nào phải chỉ người ngoài hành tinh mới thiệt thòi như vậy, mà ngay trên trái đất này, hằng tỷ tỷ người cũng may mắn không hơn. Và đây là những người sống trước Kytô kỷ nguyên, cùng với những người tuy sinh ra sau đó nhưng chưa có dịp tiếp cận Tin mừng hay chưa được thách đố bằng một thúc động (motion) Thánh Thần để ý thức và chọn lựa. Vâng, với thiện chí mà sống theo lương tri trong những điều kiện sử tính của mình, ai nấy đều có thể được cứu trong chúa Kytô, nhưng sự cứu độ ấy vẫn thiếu một cái gì đó để người ta đạt (đủ) khổ người của công dân Nước Chúa (Mt.11.11).

Nhận định 5: Mạc khải và cứu độ xuyên hành tinh, xuyên tôn giáo

Dù biết bao thế giới, thì giữa những thế giới ấy, Thiên Chúa cũng chỉ nhìn thấy con người; và dù biết bao chủng người, nơi các chủng người ấy Thiên Chúa là Cha cũng chỉ nhìn thấy một Loài người, một Bầy con, mà vì yêu thương Ngài muốn tập hợp dưới cùng một Đầu là Con Ngài thành người. Và do đó, chỉ cần một đức Kytô Con trưởng, trung tâm của một kế hoạch cứu độ duy nhứt.

Vâng, không thể có nhiều nhập thể, mà cũng không cần mỗi nhập thể cho mỗi chủng người, mỗi hành tinh. Trước kia, Phaolô đã liên kết loài người với cùng một tổ Ađam, để có thể gọi Chúa Yêsu là Tân Ađam cho cùng một loài người và chủng người ấy. Nhưng cái liên hệ huyết thống kia không còn cần thiết khi mà loài người khá rõ là không cùng một tổ. Vâng, Thiên Chúa đâu có trọng huyết thống đến nỗi nối buộc Lời hứa với dòng máu Abraham, khi mà với mấy cục đá, Ngài có thể làm thành những con cháu Abraham (Mt.3.9). Mà quả thật trong chuyến Vượt Ai cập, nhiều dân khác đã gia nhập khiến Israel đâu còn thuần chủng. Để rồi sau đó, Chúa Yêsu cũng gạt bỏ công nhân cũ của vườn nho mà đưa người tứ xứ vô (Mt.12.9). Chính Chúa Yêsu cũng đâu thuộc huyết thống Đavit để có thể kéo dài vĩnh viễn triều đại Đavit theo lời sấm Nathan (2 Sam.7.16; Tđcv.13.23). Nước Ngài là siêu nhiên, nên không bị trói buộc bởi tự nhiên, và không thuộc thế gian này!

Thế nghĩa là sự cứu độ do Chúa Kytô không bị ràng buộc bởi huyết thống tự nhiên, mà nối buộc với loài người nói chung, dù họ thuộc bất cứ chủng nào. Sự cứu độ ấy cũng có tính hoàn vũ, nghĩa là mở rộng cho mọi người thuộc mọi thời, mọi thế giới. Chính nhờ thần học các tôn giáo, qua hướng mở của Vatican II, mà chúng ta có được tầm nhìn rộng đó, để thấy rằng, dù với nguyên tắc “Không có cứu độ ngoài đức Kytô” và hệ luận của nó “ Không có cứu độ ngoài Hội thánh”, sự cứu độ ấy vẫn không bị hạn chế, mà trái lại xuyên qua được vỏ cứng của hình thức để đạt tới những độ sâu huyền nhiệm.

Vâng, nếu nguời ngoài tôn giáo được cứu, và được cứu trong chính tôn giáo của họ, dù tôn giáo ấy hướng về đức Phật hay Krishna thay vì Chúa Kytô, thì sao người ngoài địa cầu lại không thể được cứu bởi đức Kytô, cứu trong tôn giáo và những điều kiện hiểu biết của riêng họ? Vâng,dù ở những thế giới mà chúng ta chưa biết đến ấy, người ngoài hành tinh chưa thể nghe nói đến đức Kytô, nhưng họ vẫn được cuốn hút ngầm bởi điểm Omêga (trong ngôn ngữ Teilhard) là Chúa Yêsu nơi định mệnh siêu nhiên, bản năng hướng thiện, hướng thiêng và hướng chân mà họ có chung với chúng ta, để như loài người mọi nơi, họ vẫn có những tin tưởng, những hệ đạo lý và tôn giáo, và biết đâu, những mạc khải siêu nhiên kiểu chuẩn bị như của con cháu Abraham xưa.

Và như thế, giải đáp cho cứu độ của họ cũng cùng loại với giải đáp cho các tôn giáo nói chung. Và bổn phận loan tin mừng cho họ, đối với chúng ta cũng thế. Vâng, khi mà chúng ta bắt đầu nhận được tín hiệu từ họ!

B. CỨU ĐỘ NGOÀI HÀNH TINH VÀ TRONG CÁC TÔN GIÁO DIỄN RA THEO CÁCH NÀO

Vì kế hoạch cứu độ trong Chúa Kytô huớng về toàn loài người, nên để được cứu vớt, mỗi người phải được nối kết với đức Kytô. Nhưng nối kết bằng cách nào đây khi chưa được thông tin về đức Kytô, chưa được thách đố bởi một thúc động (motion) siêu nhiên để phải nhận hay từ chối, và cũng không qua dấu hiệu bên ngoài có tác dụng dứt khoát bên trong (huyền tích) để “thông thương” với thế giới thiêng liêng?

Nếu quả không có những yếu tố bên ngoài ấy, hẳn phải có một cái gì có thể thay thế ở bên trong. Mà thực ra thì phải vậy, khi mà chính các sứ đồ như Phêrô cũng đâu chịu Phép rửa, khi mà những tổ phụ như Abraham đâu có biết đến Tin mừng. Vâng, dòng chảy thì phải có nhưng dòng chảy ngầm cũng đủ.

Dòng chảy ngầm này có thể được gợi ý từ triết học siêu nghiệm của Emmanuel Kant, từ tâm lý học chiều sâu của Sigmund Freud và Karl Gustave Jung, tất cả thuộc thế kỷ XIX. Và với tôi, cả từ huyền nghiệm học của Ấn giáo, Phật giáo và Kytô-giáo nữa. Đặc biệt trong Kytô-giáo với các bậc thầy thuộc thế kỷ XVI là Têrêsa Avila, Yoan Thánh giá, Y-nhã Loyola.

Dòng chảy ngầm

Triết học siêu nghiệm Kant truy tìm những điều kiện (giấu ẩn) ở chủ thể cho tri thức lý tính (ratiionnel) thành khả dĩ, những điều kiện ấy phải có sẵn trước khi có tri thức, nên gọi là tiên thiên (a priori), siêu nghiệm (transcendantal). Điều kiện tiên thiên của tri thức, đó là những phạm trù và quy luật, mà kinh nghiệm phải vào khuôn trong đó để quy nhất thành hiện tượng (phénomène) hay dữ kiện giác-thức, và rồi những hiện tượng này cũng phải vào khuôn trong đó để quy nhất thành đối tượng lý-thức.

Từ những điều kiện cho sự khả dĩ của tri thức tự nhiên ấy, nhóm Maréchal, rồi Karl Rahner, suy diễn sang những điều kiện cho sự khả dĩ của đức tin. Theo Rahner, ân sủng chẳng qua là chính Thiên Chúa ở chỗ Ngài tự thông ban mình cho hồn. Của sự thông ban và tiếp nhận này, Rahner chú ý đến mặt tri thức, và đây là mạc khải và đức tin bên trong.

Để dễ hiểu, Rahner khởi đi với loại tri thức hoàn thiện trong cuộc sồng vinh phúc thiên giới, mà ở đó với hồn, đối tượng tri thức không còn là ý tưởng (hay mô thức khả tri, forme intelligible), mà là chính Thiên Chúa trực tiếp, bằng yếu tính của Ngài. Vâng, chính sự hiện diện của Thiên Chúa với trí năng hồn, như một thứ nguyên nhân á mô thức (cause quasi-formelle), sẽ biệt định trí năng trong tri thức. Nơi chính mình (Ngài), Thiên Chúa vẫn hiển định bằng một thứ hiển định (actus, entelekheia) hằng tại và vô biên, nhưng nơi trí năng con người, Ngài lại hiển định bằng một hiển định hữu hạn, hợp với tiềm thể (potentia) hữu hạn của trí năng đã được nâng lên cấp siêu nhiên. Về phía Thiên Chúa, thì đây là một mạc khải trực tiếp về bản tính và bản thân (nature et personne); còn về phía hồn, thì đây là thứ tri thức trực tiếp và toàn hiển của “diện đôi diện” (1Cor.13.12).

Thứ mạc khải và tri thức vinh phúc ấy, xét về bản tính, là một với mạc khải và đức tin thiên phú trong tình trạng ân sủng giữa cuộc sống này, bởi lẽ đây là “nước vọt tới Hằng sinh” (Yo.4.14). Vâng, là một xét về bản tính, dù khác xét về cấp độ. Chính vì thế, từ tri thức vinh phúc nói trên, người ta có thể suy ngược về mạc khải và tri thức đức tin tại thế. Nghĩa là ở đây, trong ân sủng, Thiên Chúa hiển hiện với bề sâu trí năng tôi như một nguyên nhân á mô thức nó biệt định trí năng tôi trong tri thức đức tin thiên phú (infuse). Sự biệt định ấy chẳng những nâng cấp và soi sáng trí năng ở bề sâu vô thức, mà còn thành động năng (dynamisme) để tác động vào các hành vi tin hữu niệm của tôi, để tăng cường cho nó và siêu nhiên hóa nó. Để rồi chính nó, bởi đã thành một với đức tin thiên phú, cũng làm phát triển đức tin này, và qua đó, phát triển chính ân sủng. Vậy để hành vi tin kia thành tuyệt đối (absolu) và siêu nhiên như thế, thì phải có những điều kiện tiên thiên cho khả thể của nó, và đây là mạc khải và tri thức thiên phú nói trên.

Đến đây thì ta đã hiểu rằng, không chỉ có mặt nổi của hành vi tin, mà còn có mặt chìm, mặt siêu vô thức của nó, và đây mới là nền tảng, cốt lõi. Và chúng ta sẽ nhận ra, một người dù chưa tuyên xưng đức Kytô bằng hành vi tin hữu niệm, vẫn có thể nối kết với Chúa ở bề sâu vô thức, do đó sống trong ân sủng của Chúa. Giáo hội từ muôn xưa, vẫn nhìn nhận khả năng được cứu vớt của người ngoài Kytô-giáo. Mà để được cứu vớt, thì phải có ân sủng Chúa Kytô. Mà đã có ân sủng, thì cũng có Tín-Vọng-Ái luôn, nghĩa là biết và nương cậy vào đức Kytô; và nơi đức Kytô, biết và nương cậy vào Cha, vào Thánh Thần. Và đây là mặt chìm của vấn đề mà nay ta phải nhìn nhận.

Thiên Chúa muốn cứu mọi người và cứu trong Chúa Kytô, nên mọi người, trong điều kiện sử tính của mình, phải có khả năng được cứu, nghĩa là ngay trong thế gian này được sống trong ân sủng Chúa. Mà như thế, hẳn là chỉ cần họ sống theo lương tri trong chính điều kiện sống cá nhân và xã hội của mình, nghĩa là bằng đạo lý truyền thống và tôn giáo của mình, dù với những đúng và chưa đúng của chúng. Nếu không quá nghiêng về tri thức theo Phưong Tây, mà quan tâm hơn đến sống nghiệm, ta sẽ phải kết luận rằng : Việc sống theo lương tri nói trên tự nó dẫn đến một gặp gỡ. Và sự có mặt của Chúa với hồn khiến hồn cũng có mặt đấy với Chúa trong nương cậy và yêu thương. Mà nếu hồn không ý thức, thì điều ấy ắt đã diễn ra trong vô thức.

Để rồi nếu một chân sư Phật, Ấn gíáo giác ngộ, nghĩa là huyền nghiệm, mà huyền nghiệm ấy siêu nhiên thật, thì trong kinh nghiệm samâdhi bậc ba hay bốn siêu niệm, cái mà họ gặp chỉ có thể là Chúa Kytô và Thiên Chúa Ba ngôi, dù họ gọi theo niềm tin riêng rằng đó là Phật, là Cái ấy (Tat). Còn như nếu huyền nghiệm ở một cấp độ thấp hơn, có trí hiểu, trí nhớ và trí tưởng tượng làm màn hình phản chiếu, thì cái hiện trên màn hình kia lại là những ý tưởng và hình ảnh quen thuộc trong các tôn giáo riêng của họ.

Quả thật, dưới mặt nổi của dòng nuớc cứu độ gợn sóng, vẫn có mặt chìm yên lặng cũng của dòng nước ấy, yên lặng và vô hình với cặp mắt người. Mà mặt chìm ấy mới là cốt lõi và quan trọng. Có điều, với triết lý Ấn giáo và Phật giáo, chỉ cái chìm mới có thực bằng cái thực tuyệt đối, chứ cái nổi chỉ là tạm thời, là nâma-rupa hay sắc-tướng thôi.

Kytô-giáo là đạo của cả hai mặt, bởi Kytô-giáo là tôn giáo huyền tích: Đấng vô hình đã thành hữu hình trong lịch sử để chuyển lịch sử theo hướng cánh chung, với đức Kytô vùa là trung tâm vừa là điểm Omêga chung tất. Nhờ thế mà cứu độ Kytô-giáo cần đến việc tuyên xưng chung một niềm tin, cần đến dấu hiệu bên ngoài để tác động cách vô hình, cần đến cơ chế để bảo vệ huyền thân.

Có điều cái mặt chìm của con đường cứu độ ít được quảng diễn và nhấn vào, khiến người ta tưởng Kytô-giáo chỉ mạnh về mặt nổi, nhất là mặt tổ chức, chứ huyền nhiệm (mystique) thì không có gì. Vấn đề của chúng ta là phải tìm ra mối liên quan giữa hai mặt chìm và nổi, cả hai mặt cùng quan trọng đối với Kytô-giáo chúng ta.

Vai trò của mặt nổi

Trên kia, chúng ta đã trình bày tầm quan trọng của mặt chìm trong kế hoạch cứu độ. Và mặt chìm ấy phân biệt với mặt nổi, đến nỗi xem như nó không cần đến mặt nổi kia. Vâng, nếu người không biết Chúa Kytô nhưng sống theo lương tri của mình vẫn có thể sống ân sủng Chúa, và nếu Thánh Thần của Chúa có thể hành động trong các tôn giáo bạn để hướng dẫn họ trên đường về, thì đâu còn cần đến mặt nổi của Kytô-giáo cùng với Tin mừng và việc truyền bá Tin mừng?

Thế nhưng nếu nhìn vào cách làm của Thiên Chúa trong lịch sử, hẳn sẽ thấy mặt nổi thật sự cần và rất cần. Ngài đã chẳng vất vả chuẩn bị một Dân riêng và chuẩn bị Dân này bằng sấm ngôn của biết bao ngôn sứ, để rồi khi thời gian viên mãn (plerôma tôn kairôn), đã phái chính Lời giáng trần, để Lời chìm (vô hình) thành nổi, và mặt nổi này chứa hết mặt chìm kia, khiến cho “Ai thấy Thầy là thấy đấng sai Thầy”, cả hai mặt cùng cần cho nhau trong một cứu độ đầy đủ, trọn vẹn và nòng cốt. Trọn vẹn và hoàn hảo đến nỗi kẻ bé nhất trong Nước Trời cũng còn lớn hơn kẻ lớn nhất do người phụ nữ sinh ra là Yoan Tiền hô (Luc.7.28). Nòng cốt đến nỗi dù ai đó được cứu không do mặt nổi, thì vẫn được cứu do Chúa Kytô, bằng hành vi lịch sử chịu chết và sống lại của Ngài, đồng thời được cứu trong và qua Giáo hội hành hương với cả hai mặt huyền nhiệm và sử tính của nó, dù sự liên kết giữa hai mặt thì không ai thấy cả. Và đây cũng là điều Redemptoris missio tái khẳng định:

–“Với những người ấy [những người được giáo dục trong các truyền thống tôn giáo khác], sự cứu độ do Chúa Kytô tới được là nhờ vào sức mạnh của một ân sủng, ân sủng ấy vẫn liên kết với Giáo hội một cách huyền nhiệm, dù không đưa họ vào Giáo hội ở mặt hình thức (formellement). . . Ân sủng nói trên từ Chúa Kytô mà đến,nó là kết quả của việc Chúa hy sinh và nó được chuyển ban bởi Chúa Thánh Thần. . .”(số 10)

Vả lại, con người vốn hành động với lý trí soi sáng và ý chí (được soi sáng) quyết định, con người ấy, để sống đạo cao sâu và chắc chắn, phải cần đến những chân lý mà chỉ có Con sống trong lòng Cha mới mang đến khải mạc bên ngoài cho ta được (Yo.1.18).

Do đó vai trò của loan Tin mừng bên ngoài

Chính vì thế và vì lòng biết ơn đối với tình Cha yêu thương, vì sự sung mãn hai mặt của cứu độ, vì lợi ích đầy đủ của hết thảy, mà chúng ta phải nói về Chúa Kytô và Tin mừng cho cả các anh em Ấn, Phật, Hồi giáo, và mai ngày, biết đâu, cho các hành tinh xa xôi. Không phải đây là chinh phục, là việc làm của kẻ cả muốn bố thí, bởi lẽ có đạo đâu phải do công của chúng ta (RM,s.11). Kẻ được hưởng trước có nợ phải trả, là giúp cho người chưa biết để họ cũng được như mình, thế thôi.

Cần loan Tin mừng, không phải cho các cá nhân tách khỏi môi trường sống xã hội và văn hóa của họ. Mà còn loan Tin mừng cho chính văn hóa và tôn giáo địa phương, giúp các nền văn hóa ấy thành nhân bản hơn, và các tôn giáo ấy gần lại với chân lý mạc khải.

Thật ra, thì tác động qua lại giữa hai bên, Tin mừng và văn hóa, đã có từ lâu. Từ ngoài vô, đó là triết lý Hy lạp như chỗ dựa để khởi động những suy tư thần học thứ nhất. Đó là đường lối tu và nhiều cách tu đã từ Ấn xâm nhập, nhất là tại vùng núi Athos. Và gần đây, còn tinh thần bao dung, bất bạo động, hiếu sinh đang chiếm lĩnh một “thị phần” ngày càng lớn trong văn hóa toàn cầu.

Còn từ trong ra, đó là những giá trị Tin mừng độc đáo như trong Bài giảng trên núi nó đã ghi dấu cuộc sống và hành động của một Mahâtma Gandhi, để từ Gandhi tỏa sáng năm châu. Đó là, từ vài thế kỷ nay, sự phổ biến ý thức về con người như một bản vị bất khả thay thế qua nền văn học và tư tưởng Kytô-giáo Phương Tây, ý thức đã khai sinh cho bản Tuyên ngôn nhân quyền và các phong trào đòi tự do và bình đẳng.

Thêm vào đấy, xem ra cứu độ như một động năng siêu nhiên tiềm ẩn đang biến đổi một số tôn giáo lớn từ bên trong. Ấn giáo thì, từ hai ngàn năm nay, đã mơ vọng những Thượng Chúa nhập thể, hay Avatâra, qua đó thổi bùng lên ngọn lửa sùng mộ bhakti, trong khi cũng nhu cầu sùng mộ ấy lại sinh ra trong Phật giáo những Bồ tát hay đức Phật vô lượng từ bi trong một thứ thân xác nhẹ nhàng phiêu hốt, dùng để gần gũi với con người.

Thánh Thần hoạt động thế nào trong các tôn giáo

Ngày xưa trong Công giáo, người ta nghĩ người ngoài có thể được cứu, nhưng bất chấp tôn giáo của họ. Ngày nay tiến bộ hơn, giáo quyền bắt đầu nhìn nhận, rằng họ được cứu trong (và bằng) tôn giáo ấy. Vâng, con người sống trong xã hội như cá trong nước, mà tôn giáo là môi trường xã hội cần thiết cho sống đạo, thậm chí cho tiến đức nói chung. Nên để cứu mọi người, Thánh Thần không thể không hoạt động trong các tôn giáo. Theo đức Yoan-Phaolô II, hoat động này bội tăng sức mạnh từ khi Lời nhập thể đã hoàn thành sứ mệnh cứu chuộc (EA).

Thế nhưng người ta sẽ nghĩ gì về những khiếm khuyết lớn nếu có trong một vài tôn giáo, đặc biệt trong những tín ngưỡng bán khai. Vâng, làm sao ThánhThần có thể có mặt ở những “hố đen” như thế? Mà quả thật, tín ngưỡng cổ thời hay bán khai luôn đi đôi với quá nhiều mê tín dị đoan, thậm chí tập tục hủ bại như thánh dâm và sát tế người. Không ai lại không biết rằng, cái xấu càng xấu bội tăng khi nó được thần thiêng hóa, như “thánh lễ đen” chả hạn. Mà ở điều xấu, thì dù thuộc cá nhân hay xã hội, chỉ Satan là có mặt thôi.

Nhưng nếu ở đấy có Satan, thì bên cạnh Satan, chả lẽ thần lành không muốn hiện diện để xóa bỏ ảnh hưởng của nó? Thế rồi, bên cạnh những điểm đen nói trên, chả lẽ không có những điểm sáng trong các tín ngưỡng hay tôn giáo ấy. Mà ở điểm sáng, thì nhất định Thánh Thần phải có mặt để khiến nó ngày càng trong sáng hơn, đồng thời phát triển về phía Chúa Kytô, thậm chí theo hướng của Tin mừng.

Các tín ngưỡng thái cổ thường do đóng góp của nhiều người, của chung một xã hội mà thành. Để rồi nó sẽ tiến hóa, như con người vẫn tiến hóa. Và đây là tiến từ bộc phát về phía hợp lý, có hệ thống và tổ chức hơn. Nhất là từ đa thần về phía độc thần, từ tà mị về phía chân, thiện, mỹ, từ lễ nghi bên ngoài về phía huyền nghiệm bên trong. Và như thế cũng là từ tín ngưỡng thồ sơ về phía tôn giáo đúng nghĩa, ở cả chiều sâu và bề cao của nó.

Trong thời đại văn minh, tôn giáo thường do một người hay một nhóm người thiết lập. Người ấy có thể trải qua một kinh nghiệm sâu xa dị thường, nay muốn truyền lại con đường tiến tới đó cho đệ tử. Người ấy cũng có thể là kẻ lợi dụng sự cả tin của nhiều người để bằng một tân giáo phái chả hạn, kiến tạo cho mình một uy quyền, một danh vọng và nhiều tiền của.

Những tôn giáo dù có nguồn gốc chẳng mấy tốt đẹp kia, nếu tồn tại lâu và trở nên đông đúc, lại được hướng dẫn bởi hàng lãnh đạo mới khá tốt, thì vì lợi ích thiêng liêng của cộng đồng, Thánh Thần nhất định phải vào cuộc để cải hóa chúng thành môi trường cứu độ, trong đó nghi lễ có thể thành á huyền tích thông ban ân sủng, và phương pháp nhập định thành con đường dẫn tới gặp gỡ bán ý thức, không phải chỉ với Thiên Chúa duy nhất, mà với Thiên Chúa Ba ngôi trong Chúa Kytô. Dĩ nhiên là con đường thiếu bề nổi Kytô-giáo này sẽ gập ghềnh, hiểm trở đấy, lại không hoàn hảo bởi thiếu một chiều kích.

Thánh Thần hoạt động trong các tôn giáo với mục đích phổ cập cứu độ, nhưng theo phương hướng nào?

Theo tôi nghĩ, Thánh Thần muốn biến tôn giáo ấy thành một thứ Á Cựu ước, giống như Do thái giáo vậy. Nghĩa là để chuẩn bị họ cho Tin mừng, trong khi vẫn dành cho các cá nhân (chưa biết Chúa) trong đó một cứu độ như đã làm đối với các tổ phụ Isrặl.

Thành Á Cựu ước, phải chăng các tôn giáo rồi sẽ tự chuyển thành Tân ước? Chỉ biết rằng dân Do thái cũng như ngoại dân, ai muốn bước vào Tân ước, hồi xưa đều phải được rửa nhân danh Chúa Kytô, và như thế, giữa Cựu ước và Tân ước vẫn có một bất liên tục. Vào Tân ước không phải là từ bỏ Cựu ước, nhưng từ đó qua đây vẫn còn một con đò, đò ngang (nên hai bên gần gũi), chứ không phải đò dọc. Và Kytô-giáo cần làm thế với các tôn giáo bạn. Như chúng ta vẫn sử dụng kinh thánh Cựu Ước để chuẩn bị cho Tin mừng, thì bây giờ cũng nên làm thế đối với kinh thư Ấn, Phật, Khổng. . . Và đưa một số nghi thức hay nghi lễ của họ vào phụng vụ để những khát mong Á Cựu Ước thể hiện trong đó đạt tới đích nhắm của chúng nơi Chúa Kytô. Nhất là mang những kinh nghiệm và kỹ thuật tu luyện của Ấn, Phật giáo vô tìm gặp đấng “interior intimo meo” (sâu hơn là chỗ tuyệt sâu của tôi).

Có điều, như chúng ta thấy, nếu Do thái giáo trên nguyên tắc phải là đường dẫn tới Kytô-giáo, thì trong thực hành, phần lớn Dân cũ đã từ chối Chúa Yêsu. Phải, tôn giáo do cơ chế và biết bao yếu tố phàm trần dính theo, có thể là những lực cản khó vượt qua được.

Tác giả: Hoàng Sỹ Quý, SJ.
   dunglac@gmail.com