Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Mặc Giao
macgiao@shaw.ca
Bài Viết Của
Mặc Giao
Tương quan trách nhiệm của người giáo dân đối với Quốc Gia và Giáo Hội
Những sai lạc trong tiểu thuyết " Tha Da Vinci Code"
NHỮNG SAI LẠC TRONG TIỂU THUYẾT " THA DA VINCI CODE"

Viết từ Canada

Những người ham đọc sách trên toàn thế giới hẳn không thể không biết tới hiện tượng THE DA VINCI CODE, cuốn tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Dan Brown, xuất bản năm 2003, cho tới nay đã bán được 17 triệu cuốn, được dịch ra nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Trung Hoa và Đại Hàn. Tại Canada, cuốn tiểu thuyết này đã được xếp hạng “best seller” suốt 80 tuần qua. Bản dịch tiếng Pháp được nhà xuất bản Lattès ở Paris phát hành cũng đứng đầu bảng bán chạy liên tiếp 50 tuần và còn tiếp tục. Một cuốn sách “ăn theo”, Code Da Vinci: l’enquête do Marie France Etchegoin và Frédéric Lenoir viết, cũng lên hạng “best seller” tại Pháp. Hollywood sẽ quay một cuốn phim dựa theo tác phẩm này vào tháng 5 năm nay với đạo diễn Ron Howard và tài tử Tom Hanks.  Chắc chắn tiểu thuyết THE DA VINCI CODE phải có gì lạ và hấp dẫn mới khiến người ta say mê như vậy. Nhưng phải nói ngay những cái lạ và hấp dẫn tác giả Dan Brown viết trong cuốn sách này đều là những điều sai lạc có tác dụng bôi xấu giáo hội Công Giáo, khiến những độc giả dễ tin có thể nghĩ lầm là giáo hội hành động như một tổ chức “mafia”. 

THE DA VINCI CODE có nghiã là “mật mã (hay ẩn số) của Da Vinci”. Leonardo Da Vinci là một họa sĩ, kiến trúc sư, nhà điêu khắc, nhà bác học nổi tiếng của Ý sống vào giữa thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 (1452-1519). Trong số những tác phẩm ông để lại cho hậu thế, có hai họa phẩm bất hủ: Nàng Mona Lisa (La Joconde) trưng bầy tại viện bảo tàng Louvre, Paris và The Last Supper (Bữa Tiệc Ly) được lưu giữ tại thánh đường Santa Maria delle Grazie, thành phố Milan, Y. Theo giả tưởng của tác giả Dan Brown, hai họa phẩm này gói ghém một tiết lộ nửa kín nửa hở của Leonardo Da Vinci. Hình nàng Mona Lisa với nụ cười bí hiểm ngầm ý cho biết nàng có một bí mật cần được khám phá. Họa phẩm The Last Supper có hình thánh Gioan trẻ ngồi phía tay mặt Chúa Giêsu được tưởng tượng đó là một người phụ nữ, không ai khác, chính là Marie Madeleine (Mary Magdalene), là “vợ” của Chúa Giêsu (!). Cũng theo nội dung tiểu thuyết, Leonardo Da Vinci là hội viên của hội kín “The Priory of Sion”. Hội được thành lập từ năm 1099 có mục đích bảo vệ một sự thật được giữ bí mật về đạo Công Giáo mà Giáo Hội đã cố tình làm sai lạc. Hội viên của hội này không có nhiều. Mỗi thời chỉ có ba hoặc bốn người, nhưng đều là những thiên tài hàng đầu của nhân loại về khoa học, nghệ thuật, âm nhạc, văn chương, trong số đó có Isaac Newton, Victor Hugo, Claude Debussy, Jean Cocteau v. v... 

Câu chuyện khởi đi với vụ ám sát Jacques Saumière, quản thủ viện bảo tàng Louvre, vào lúc 10 giờ 30 đêm, gần văn phòng làm việc của ông. Trong khi hấp hối, Jacques Saumière được sát thủ có tên là Silas cho biết ba người khác cùng là hội viên hội kín “The Priory of Sion” với ông đã bị giết cả rồi. Sát thủ bắt ông khai nơi dấu điều bí mật. Ông đã khai những chi tiết giả phù hợp với lời khai của ba người bạn đã chết, khiến tên sát thủ tin là thật. Trước khi chết, vì cảm thấy điều bí mật sẽ bị chôn dưới mộ sâu cùng với ông, không còn hội viên nào kế tục gìn giữ, ông vận dụng hơi tàn gọi điện thoại cho cô cháu ngoại Sophie Neveu, chuyên viên giải mã của sở cảnh sát hình sự Pháp, dặn Sophie phải liên lạc ngay với tiến sĩ Robert Langdon, giáo sư môn biểu tượng tôn giáo tại đại học Havard, đang có mặt tại Paris trong một chương trình diễn thuyết. Giáo sư Langdon cũng được đại úy cảnh sát Bezu Fache triệu tới hiện trường để điều tra vì Saumière trước khi chết có hẹn gặp giáo sư Langdon. Tại hiện trường ở hành lang viện bảo tàng Louvre, Sophie Neveu đã gặp Langdon và tìm cách qua mặt đại úy Fache để cùng Langdon tìm hiểu những lời trăn trối của Saumière. Đó là những chỉ dẫn để tìm ra chiếc hộp đựng bản đồ vẽ nơi cất dấu sự bí mật đã được giữ kín từ 16 thế kỷ qua. 

Bí mật đó là gì? Có người cho là chén thánh (chalice), chiếc ly mà Chúa Giêsu dùng uống rượu trong bữa tiệc ly. Thật ra đó là xương thánh của Marie Madeleine. Nếu tìm ra được thánh tích này (được gọi là Holy Grail) thì sẽ có bằng cớ chứng minh cho niềm tin nguyên thủy của giáo hội sơ khai. Theo những giả tưởng trong tiểu thuyết, giáo hội lúc ban đầu rất coi trọng vai trò thiêng liêng của phụ nữ. Marie Madeleine là biểu tượng của vai trò đó. Bằng chứng là Bà được Chúa Giêsu chọn làm người phối ngẫu, được ngồi bên tay mặt Chúa trong bữa tiệc ly. Hai người có con với nhau và hậu duệ của họ đã có thời làm vua nước Pháp và vẫn tồn tại tới ngày nay. Vào thế kỷ thứ 4, Hoàng đế La Mã Constantine quyết định dùng Thiên Chúa Giáo để thống nhất toàn đế quốc. Ông đã triệu tập công đồng Nicaea năm 325. Công đồng này đã hủy bỏ từ 50 đến 80 cuốn thánh kinh viết về Chúa Giêsu và giáo hội sơ khai, chỉ giữ lại bốn thánh kinh như ta có hiện nay. Lý do là bốn thánh kinh này đề cao Chúa Giêsu là ngôi Hai Thiên Chúa, không thể có đời sống lứa đôi nam nữ như một người thường. Cũng từ đó, giá trị và vai trò của phụ nữ bị cho xuống cấp. Chính Marie Madeleine còn bị gán là một phụ nữ mãi dâm ăn năn trở lại. Mục đích chính là để cho hàng giáo phẩm có cớ loại bỏ hết phụ nữ trong các vai trò chỉ huy và tế tự, chỉ còn toàn nam giới giữ độc quyền và độc tôn trong giáo hội. Vì thế, hôi kín “Priory of Sion” mới ra đời để bảo vệ sự thật của hội thánh. Họ phải tuyệt đối giữ bí mật danh tánh hội viên vì giáo hội luôn luôn tìm cách thanh toán những hội viên này để bảo đảm cho sự dối trá không bị tiết lộ. Giáo hội cũng tung người và phương tiện tìm kiếm thánh tích và những bằng cớ bí mật để phá hủy. Đó là lý do gây nên cái chết của Jacques Saumière, hội viên cuối cùng của “Priory of Sion”. 

Chuyện kể tiếp về cuộc chạy đua trong vòng 24 tiếng đồng hồ để tìm thánh tích giữa cặp Neveu-Langdon, cảnh sát hình sự Pháp, học giả triệu phú người Anh Sir Leigh Teabing và sát thủ Silas. Trong bóng tối có giám mục Manuel Aringarosa, bề trên tổng quyền của tu hội Opus Dei, người vừa đến lâu đài Castel Gandolfo lãnh 20 triệu Euro bằng tín ngân (bond) của Ngân hàng Vatican, không biết để xử dụng vào việc gì. Một chi tiết dễ sợ được kể trong chuyện: sát thủ Silas là một thầy tu, đệ tử ruột của giám mục Manuel Aringarosa, sẵn sàng hạ sát bất cứ ai để phi tang, phi chứng, kể cả một nữ tu đã mở cửa cho Silas vào nhà thờ Saint Sulpice. Silas tự nguyện làm mọi sự, kể cả hy sinh mạng sống mình vì “đại nghiã”. Bình thường, Silas là một thầy khổ tu, quen hành xác bằng cách đánh tội và buộc quanh thân mình sợi dây lưng kim loại có gắn móc sắt cào da rạch thịt để đền tội, nhất là sau mỗi lần phạm tội giết người. 

Mọi phe liên hệ đều đánh hơi thấy đây là thời điểm quyết định để tìm ra bằng chứng của sự thật. Phe thì muốn công bố sự thật, phe thì muốn ém nhẹm, có phe chỉ muốn chiếm bằng chứng để bán lại với giá cao. Vì vậy, cuộc chạy đua và tranh cướp diễn ra rất gắt gao và tàn nhẫn. Khởi đầu từ viện bảo tàng Louvre, qua trụ sở chi nhánh của ngân hàng Zurich gần tháp Eiffel, đến château de Villette gần Versailles của Sir Leigh Teabing. Lúc cùng đường, và cũng theo sự chỉ dẫn của bản đồ bí mật do cặp Neveu-Langdon tìm được, ông học giả triệu phú người Anh Leigh Teabing lấy máy bay riêng từ phi trường Bourget để cùng với cặp Neveu-Langdon trốn sang Anh. Dĩ nhiên, cảnh sát Pháp, giám mục Aringarosa, sát thủ Silas và những người khác cũng đuổi theo bén gót. Cuộc tìm kiếm ở bên Anh khởi sự tại Temple Church và Westminster Abbey ở Luân Đôn, rồi tới Rosslyn Chapel ở mãi tận Edingburgh, Scotland. Trước khi đến địa điểm chót này, đã có nhiều xác chết, trong đó có cả Silas, Leigh Teabing. Giám mục Aringarosa cũng bị thương. 

Khi tìm kiếm tại Rosslyn Chapel, Sophie Neveu nhớ ra đã được ông ngoại dẫn đến nhà thờ này khi cô còn bé. Ông ngoại đã chỉ cho cô trần nhà thờ nơi có ghi những “code” để giải mã cách tìm kiếm một điều bí mật. Cô nghĩ cô đã đến đúng chỗ muốn tìm. Tại đây, cặp Neveu-Langdon cũng gặp một hướng dẫn viên trẻ tuổi, dễ thương mà Sophie Neveu cảm thấy rất thân quen. Khi hỏi chuyện, anh ta cho biết cha mẹ anh chết vì tai nạn khi anh còn nhỏ. Bà ngoại đưa anh về đây nuôi . Hiện anh vẫn ở với bà tại khu nhà  kế bên nằm trong khuôn viên nhà thờ. Sophie Neveu đòi đến thăm bà. Anh thanh niên sẵng lòng hướng dẫn và giới thiệu cô với bà anh. Khi đến phòng gặp bà cụ, Sophie thấy trên tường có treo khung hình chân dung ông ngoại của cô. Ngay lúc cô vừa mở miệng thắc mắc thì bà cụ đã trả lời cô trong nước mắt rằng chính bà là vợ của ông Jacques Saumière và cũng là bà ngoại của cô, người thanh niên hướng dẫn viên chính là em ruột của cô. Trong tai nạn giết chết cha mẹ cô, người ta đã tưởng bà và em trai cô cùng chết mất xác. Thật ra hôm đó bà đưa em trai cô đi xe riêng nên thoát nạn. Sau vụ này, ông bà cô quyết định hy sinh sống xa nhau, để bà ở riêng nuôi em cô, giữ gìn giòng máu của cha cô, vì hai chị em cô chính là giòng hậu duệ chính truyền của Giêsu và Madeleine. Lúc đó Sophie Neveu mới ngộ ra rằng ông ngoại cô đã tìm cách chỉ dẫn cho cô tìm tới đây để hiểu sự thật. Sự thật là không có thánh tích nào của Marie Madeleine còn tồn tại, “Holy Grail” là chính cô bằng xương bằng thịt, mang mầm giống của Madeleine. Thánh tích chỉ có trong niềm tin, trong tinh thần, không bao giờ có thể trưng bầy ra trước mắt người đời (Holy Grail should never be unveiled. It exists only in spirit). Sau khi mất ông ngoại, sau 24 giờ chạy trốn và tìm kiếm, Sophie Neveu đã tìm được nhiều thứ: sự thật về giòng dõi gia đình, bà ngoại và em trai, nhất là người bạn trai Robert Langdon có thể trở thành bạn tình.

 

Tiểu thuyết THE DA VINCI CODE đã thu hút người đọc chẳng những vì cốt truyện éo le mà còn vì những lý do sau:

- Truyện được viết dưới dạng trinh thám, nhiều tình tiết hồi hộp, bất ngờ, thắt mở rất khéo léo, khiến độc giả theo dõi say mê.

- Là tiểu thuyết giả tưởng nhưng các nhân vật và sự kiện lịch sử được kể lại rất chính xác, những nơi chốn xảy ra sự việc là những nơi có thật, được mô tả tỉ mỉ khiến người đọc có cảm tưởng tác giả diễn tả việc thật, người thật. Sau khi thấy tác phẩm được tiêu thụ mạnh, tác giả tung ra một ấn bản khác có đầy đủ hình ảnh các địa điểm và kiến trúc được nói đến trong tác phẩm (Special Illustrated Edition). Thí dụ khi nói tới tháp Eiffel là có hình tháp Eiffel, khi tả lúc sát thủ Silas tìm thánh tích trong nhà thờ Saint Sulpice thì có hình chi tiết chụp lằn kim khí ngăn giữa nền đá dẫn tới bệ của cây trụ (obelisk), nơi chứa thánh tích theo lời khai giả của Saumière v. v...

- Rất nhiều người đọc truyện tưởng tượng mà cứ tin là chuyện thật. Tác giả không có một lời cảnh báo nào về tính cách giả tưởng của câu chuyện. Ngược lại, tác giả còn cố tình mập mờ dùng những tên người và việc có thật để nhào nặn họ trong tiểu thuyết của ông. Thí dụ khi lấy tên Saumière đặt cho nhân vật quản thủ viện bảo tàng bị ám sát, tác giả đã cố tình dùng tên của linh mục Bérenger Saumière đã chết từ năm 1917 và được chôn tại một làng nhỏ của nước Pháp, Rennes-le-Château. Nhiều độc giả nghĩ rằng có sự liên hệ nào đó giữa nhân vật trong truyện với linh mục này. Họ kéo đến nghiã địa thăm mộ, nậy từng hòn đá đem về làm kỷ niệm, khiến ông xã trưởng phải cho dời mộ linh mục Saumière đi nơi khác. Ngay tên học giả người Anh trong truyện, Leigh Teabing, cũng lấy từ tên hai tác giả có thật ngoài đời: Richard Leigh và Michael Baigent (Teabing gồm các chữ lấy từ tên Baigent được sắp xếp lại thứ tự, theo kiểu chơi chữ  anagram). Tệ hơn nữa, Dan Brown còn lấy những chi tiết độc quyền trong tác phẩm Holy Blood, Holy Grail của hai tác giả này để đem vào tiểu thuyết của mình, khiến hai tác giả đã phát đơn kiện Dan Brown về tội đạo văn vào tháng 10 năm 2004. 

Tiến sĩ Brian Bethune chuyên khảo về lịch sử thời Trung Cổ, đã viết một bài có tựa đề “Cracking The Da Vinci Code” trong tạp chí MACLEAN’S (một tuần san của Canada tương tự như TIME của Mỹ) số ra ngày 20-12-2004 để vạch trần những sai lạc của tiểu thuyết THE DA VINCI CODE. Chúng tôi xin tóm lược một số điều như sau:

- Không có một bằng chứng lịch sử hay truyền thuyết nào có thể chứng minh Giêsu và Marie Madeleine là một cặp phối ngẫu. Chắc chắn có nhiều phụ nữ là môn đồ của Chúa Giêsu và vai trò của thánh nữ Marie Madeleine trong giáo hội sơ khai có thể tích cực hơn sau khi Chúa chịu chết. Nếu có những tông đồ nam giới, tại sao không thể có những tông đồ nữ giới? Nhưng từ đó để kết luận Giêsu và Madeleine là vợ chồng là một tưởng tượng qúa xa và đầy gian ý.

- Nói rằng các tín hữu trước công đồng Nicaea năm 325 chỉ tin Đức Giêsu là một con người hữu sinh hữu tử như mọi người là hoàn toàn sai sự thật. Niềm Tin Đức Giêsu có bản tính Thiên Chúa đã có từ trước công đồng Nicaea. Vì thế các giám mục nghị phụ trong công đồng này mới thảo luận đề tài Đức Giêsu vừa là người vừa là Thiên Chúa như thế nào? Có một số nghị phụ cho rằng bản tính thần thiêng của Đức Giêsu có thể khác với Chúa Cha. Nhưng tuyệt đại đa số các nghị phụ đã biểu quyết điều được tuyên xưng trong kinh Tin Kính, còn được gọi là Nicene Creed vì từ công đồng này mà ra: “Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha”.

- Nụ cười bí hiểm của nàng Mona Lisa trong bức họa chẳng ẩn chứa một bí mật nào khác ngoài bí mật nàng là một phụ nữ đồng tính luyến ái, có thể ái nam ái nữ vừa thể lý vừa tâm lý. Họa sĩ vẽ ra nàng, Leonardo Da Vinci, là một người đồng tính luyến ái.

- Khi suy đoán rằng hình người bên phải Chúa trong bức họa Bữa Tiệc Ly là một phụ nữ, không phải thánh Gioan vì người này có tóc dài và không có râu, tác giả Dan Brown đã tự mâu thuẫn vì Chúa Giêsu trong hình cũng có tóc dài như đàn bà. Ông Gioan không có râu, được ngồi ngay bên cạnh Chúa vì ông là người trẻ nhất, được Chúa cưng nhất. Nếu họa sĩ vẽ mặt ông hơi giống phụ nữ chỉ là vì Leonardo Da Vinci ưa thích có những chàng thanh niên trẻ đẹp vây quanh, cả trong đời thường lẫn trong họa phẩm.

- Việc hủy bỏ 80 thánh kinh để chỉ giữ lại 4 là một suy đoán không có căn cứ lịch sử. Bốn thánh kinh chúng ta hiện dùng là những cuốn được tin cậy nhất, kính trọng nhất ngay từ thời giáo hội sơ khai, trước công đồng Nicaea. Con số 80 hay 50 chỉ là những con số giả định về những sách có liên quan tới thời Chúa Giêsu.

- Dan Brown viết rằng thời Inquisition, giáo hội Công Giáo đã giết 5 triệu phụ nữ, trong đó có những nữ học gỉa, nữ tế, bà đỡ, phụ nữ yêu thiên nhiên, phụ nữ đi hái lá thơm..., tất cả bị gán cho tội phù thủy và bị đưa lên dàn hỏa. Con số 5 triệu là một sự phóng đại qúa mức. Theo các học giả Âu châu thời nay, chỉ có khoảng 110,000 vụ án và chỉ có  trên 50,000 người bị kết án, trong đó một phần tư là đàn ông. Dĩ nhiên 50,000 nạn nhân   cũng đã là qúa nhiều. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phải lên tiếng xin lỗi. Mặt khác, không phải toàn thể nạn nhân đều bị xử bởi tòa án dị giáo. Tại Đức, khoảng giữa thế kỷ 16 và 17, có 26,000 người bị xử bởi tòa án đời, đa số do sự khiếu nại của hàng xóm, vừa Công Giáo vừa Tin Lành .

- Khi viết về tu hội Opus Dei, tác giả Dan Brown đã mô tả tu hội này như một cánh tay bí mật của Tòa Thánh Vatican để thực hiện những âm mưu đen tối, trong đó có cả việc giết người. Sát thủ Silas là một thầy tu của tu hội, đệ tử trung thành của giám mục bề trên tổng quyền Manuel Aringarosa, người đã từ New York đi Roma lãnh 20 triệu Euro để thực hiện một công tác đặc biệt. Người đọc được cho hiểu ngầm là công tác này có liên quan đến việc tìm thánh tích. Phải tìm bằng được dù có phải giết nhiều người. Nếu phải mua thì tung tiền mua bằng mọi giá. Thủ tiêu những người biết chuyện. Tìm cho ra và tiêu hủy bằng chứng để điều bí mật đời đời không bị tiết lộ. Dàn nhân viên chìm của giám mục Aringarosa gồm toàn những người ở những vị trí then chốt bất ngờ: ngoài Silas còn có giám đốc ngân hàng Zurich tại Paris, đại úy Bezu Fache và cả tài xế của học giả Leigh Teabing. Sự thật, Opus Dei không phải là một gian đảng tàn ác như thế. Tu hội này được thành lập năm 1928 tại Tây Ban Nha và hiện nay có 1,100 linh mục phục vụ trên khắp thế giới. Vị sáng lập tu hội là linh mục Josemaría Escrivá, đã được phong chân phước, người đã viết tác phẩm THE WAY gồm 999 điều suy niệm về việc thực hiện những công việc của Thiên Chúa trong cuộc đời. Opus Dei có nghiã là “công việc của Thiên Chúa” (The work of God). Sở dĩ tác giả Dan Brown nhắm vào Opus Dei để bêu xấu là vì tu hội này có khuynh hướng bảo thủ, có sự trung kiên cao độ trong việc phụng sự Thiên Chúa, Giáo Hội và Giáo Hoàng.

 Tiến sĩ Brian Bethune còn đưa ra nhiều lập luận giá trị khác trong bài báo để bẻ gãy những điều gian trá trong tiểu thuyết THE DA VINCI CODE, nhưng tôi xin ngưng kể thêm để chúng ta cùng xét xem tác giả Don Brown nhắm những mục tiêu gì khi viết tác phẩm này? Dựng chuyện giật gân để bán sách? Điều đó đúng, nhưng nếu chỉ có thế thì cũng không có gì đáng quan tâm. Điều trầm trọng hơn là suốt trong tác phẩm, tác giả Dan Brown đã liên tục cho người đọc thấy, khi kín khi hở, những điều vô cùng xấu xa của giáo hội Công Giáo: nào bẻ cong tín lý, nào độc ác giết người hàng triệu, giáo hội thì được tổ chức và hoạt động trên căn bản tiền bạc và uy quyền tuyệt đối, không từ nan bất cứ một hành động phi pháp và tàn ác nào, có cánh tay dài đụng tới mọi nơi, mọi lãnh vực. Nếu người đọc ngây thơ tin những điều này thì không còn tin giáo hội là một hội thánh, có sứ mạng rao giảng lời Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Như vậy, mục tiêu của Dan Brown là xử dụng kỹ thuật thông tin xuyên tạc (misinformation) để làm cho người ta ghét đạo Công Giáo, khuyến khích người ta bỏ đạo hoặc không vào đạo. Tác phẩm của Dan Brown là một mũi dùi xung kích của phong trào bài Công Giáo tại các xứ Tây Âu. Nó được hỗ trợ bởi những người tự nhận thuộc phe tiến bộ, chê giáo hội Công Giáo bảo thủ, trọng cơ chế và quyền lực, không dân chủ, không cho phụ nữ làm linh mục, cấm phá thai, cấm ly dị, không chấp nhận đồng tính luyến ái. Bản thân Dan Brown là người theo đạo Tin Lành nên không nói gì đến đạo Tin lành, cũng như không hề nhắc tới Chính Thống giáo trong cuốn truyện của ông. 

Phải công nhận Dan Brown là một cây viết có tài, nghiên cứu tài liệu kỹ lưỡng và có nhiều tưởng tượng để dựa trên cái thật làm thành cái giả. Điều nguy hiểm là người đọc lấy giả làm thật, “lộng giả thành chân”. Khi 17 triệu cuốn sách được bán ra sẽ có mấy chục triệu người đọc và bị đầu độc, trong đó có rất nhiều người trẻ. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải làm gì để giải độc và giúp nhau giữ vững đức tin? Bài viết này xin được coi như một đóng góp nhỏ để giãi bầy sự thật với những độc giả trẻ cả tin và còn cần hiểu biết thêm về giáo lý và giáo hội để có một đức tin vững vàng, không dễ bị chao đảo trước những luận điệu dối trá nhưng đầy sức thuyết phục.

Tác giả: Mặc Giao
   dunglac@gmail.com