Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Mặc Giao
macgiao@shaw.ca
Bài Viết Của
Mặc Giao
Tương quan trách nhiệm của người giáo dân đối với Quốc Gia và Giáo Hội
Những sai lạc trong tiểu thuyết " Tha Da Vinci Code"
TƯƠNG QUAN TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN ĐỐI VỚI QUỐC GIA VÀ GIÁO HỘI

Làm công dân của nước nào thì phải theo luật lệ của nước ấy. Làm hội viên của một tổ chức nào thì phải chấp nhận chủ trương, đường lối của tổ chức ấy. Nếu chúng ta muốn làm công dân của Nước Trời thì phải theo luật của Nước Trời, muốn là thành phần của Giáo Hội thì phải tuân theo luật lệ và giáo huấn của Giáo Hội. Đó là bổn phận và trách nhiệm của mỗi phần tử khi muốn đứng trong, muốn thuộc về một tập thể nào. Nếu tách chữ “TRÁCH NHIỆM” ra để tìm hiểu cho rõ nghiã, ta thấy đó là ý thức về những việc phải làm, hoặc do luật lệ, bổn phận, hoặc do lương tâm thúc đẩy. 

Vì trách nhiệm đi liền với bổn phận và lương tâm, nên nhiều khi có những xung đột cần phải giải quyết. Lương tâm nói ở đây là lương tâm Công Giáo, là lương tâm của người Kitô hữu, ngoài việc dựa trên “tính bản thiện”, còn phải được soi sáng bởi đức tin và giáo lý Công Giáo. Vì vậy, khi luật lệ của một quốc gia thế trần ấn định những điều trái với lương tâm Công Giáo, như cho phép phá thai, hôn nhân đồng tính…, chúng ta chẳng những không được theo mà còn có trách nhiệm lên tiếng phản đối. Hơn nữa, còn phải có những hành động trong vòng hợp pháp nhằm thay đổi những luật lệ đó. Như vậy, trách nhiệm không chỉ thuộc phạm vi ý thức, mà còn đòi hỏi hành động.

 

I – TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN NHƯ MỘT THÀNH PHẦN CỦA GIÁO HỘI

Khi nói tới những thành phần của Giáo Hội, chúng ta thường phân biệt giáo sĩ và giáo dân. Hai thành phần này nhiều khi được coi như hai giai cấp hay hai loại công dân (Nước Trời) khác nhau, vì thế có những trách nhiệm khác nhau. Giáo sĩ là tông đồ, là ngôn sứ, là người đại diện Chúa Kitô, còn được gọi là một “Kitô khác” (Alter Christus). Do đó, giáo sĩ nắm mọi quyền bính trong Giáo Hội, từ quyền tế lễ, dậy dỗ, đến quyền quản trị cộng đoàn. Tại những nước chậm tiến, trong đó có Việt Nam, nhiều giáo sĩ còn chỉ thị cho giáo dân về lập trường chính trị: đấu tranh cho cái gì, như thế nào, bỏ phiếu cho ai? Trong khi đó giáo dân chỉ có “trách nhiệm” vâng lời, làm theo lệnh của giáo sĩ, vì đã tin tưởng và phó thác hết mọi sự cho giáo sĩ. Phó thác luôn cả sự suy nghĩ, nên đầu óc trống trơn, trở nên thụ động, thui chột mọi sáng kiến, chỉ biết làm những gì “cha bảo”. Quan niệm này dẫn tới tình trạng ù lì, chậm tiến của Giáo Hội, tạo thái độ gia trưởng, chuyên quyền cho một số giáo sĩ, nhất là làm cho giáo dân không ý thức được trách nhiệm của mình trong Giáo Hội. 

Vai trò và trách nhiệm của giáo dân đã được Công Đồng Vatican II xác nhận một cách rõ ràng trong Chương IV của Hiến Chế về Tín Lý Lumen Gentium. Hiến Chế đã nói lên địa vị của giáo dân trong Hội Thánh. Đó là nhờ bí tích rửa tội, giáo dân trở nên “Dân Thiên Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ” (LG, IV, 31. LM Ngô Tôn Huấn dịch). Giáo dân không chiếm địa vị của giáo sĩ trong vai trò tư tế và ngôn sứ, vì giáo dân làm việc này “theo cách thức của họ”. Trong khi linh mục tế lễ mỗi ngày trên bàn thờ để thay mặt Chúa Kitô dâng lễ hy sinh và tạ ơn lên Thiên Chúa thì giáo dân dâng tiến cuộc đời mình với những gánh nặng và hạnh phúc, những niềm vui nỗi buồn, những việc hy sinh và bác ái, những tâm tư và cả những yếu đuối lên bàn thánh để cùng hiệp dâng. Đó là của lễ, là tham dự vào việc tư tế. Trong khi linh mục được huấn luyện và có sứ mệnh rao giảng Lời Chúa theo cách diễn giải chính thức của Giáo Hội, dưới sự soi sáng của Thánh Linh, thì giáo dân chứng minh lời Chúa bằng hành động, bằng việc chu toàn bổn phận trong gia đình, ngoài xã hội, dùng gương sáng và cả Lời Chúa để đưa những người khác về với Chúa. Đó cũng là làm ngôn sứ, nhưng bằng một cách khác. 

Hiến Chế Lumen Gentium còn đi xa hơn nữa khi nói rằng giáo dân cũng có thiên chức linh mục, tuy khác với giáo sĩ, nhưng cả hai bổ túc cho nhau: “Thiên chức linh mục chung của giáo dân và thiên chức linh mục thừa tác của hàng giáo phẩm, mặc dầu khác biệt nhau về bản chất, không về thứ bậc, được Chúa ban cho thiên chức này hỗ trợ thiên chức kia, bởi vì cả hai, mỗi chức tùy theo cách thức của mình, đều tham dự vào chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô” (LG, IV, 10. Nguyễn Học Tập dịch). 

Hiến Chế cũng vạch rõ rằng chủ chăn không phải được Chúa giao hết mọi việc trong tay, nhưng phải biết huy động giáo dân, chia sẻ phần vụ với họ để cùng nhau hợp tác lo việc chung: “Các chủ chăn không phải là người được Chúa Giêsu thiết lập nên để nhận lãnh một mình tất cả trọng trách của sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội đối với trần gian, mà bổn phận cao cả của các vị là chăn giắt các tín hữu nhận biết phận vụ và ân sủng của họ, để tất cả có thể đồng thuận hợp tác nhau vào công việc chung, mỗi người tùy theo khả năng của mình” (LG, IV, 30. Nguyễn Học Tập dịch).  

Những giáo huấn trên dẫn đến một kết luận tự nhiên đòi hỏi các giáo sĩ  “phải công nhận và đề cao phẩm cách của người giáo dân trong Giáo Hội. Phải sẵn lòng xử dụng lời khuyên thận trọng của giáo dân. Phải tin cẩn giao cho giáo dân những nhiệm vụ phục vụ Giáo Hội, cho giáo dân sự tự do và môi trường để hành động. Xa hơn nữa, phải khuyến khích giáo dân thực hiện những công việc theo sáng kiến riêng của họ” (LG, IV, 37. Mặc Giao dịch). 

Như vậy ta thấy giáo dân cũng có vai trò tích cực và chủ động trong Giáo Hội, không thua gì giáo sĩ. Chỉ khác nhau là mỗi người thi hành trách nhiệm “theo cách của mình”.

 

II – ĐỐI TƯỢNG CỦA TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN

Khi nói tới trách nhiệm, người ta thường nêu vấn đề trách nhiệm với ai, với cái gì, điều gì? Nói cách khác là đối tượng của trách nhiệm. Đa số người Công Giáo Việt Nam từ trước tới nay thường quan niệm họ chỉ có trách nhiệm đối với giáo xứ của mình, xa hơn tí nữa là với giáo phận. Giáo Hội hoàn vũ thì xa xôi qúa. Chỉ cần biết tới Đức Giáo Hoàng và nghe lời Ngài là đủ. Ngoài ra không cần biết tới trách nhiệm nào khác. Việc quốc gia, xã hội đã có người khác lo. Mình thấp cổ bé miệng nói ai nghe. Một lá phiếu của mình trong cuộc bầu cử đâu có thay đổi được kết qủa. Đi bầu làm gì cho mất công. Những người này quên rằng không có nước Mỹ làm sao có Giáo Hội Hoa Kỳ, không có nước Việt làm sao có Giáo Hội Việt Nam? Giáo Hội Mỹ được tự do vì sống trong một nước tự do. Giáo Hội Việt Nam bị nhiều phen cấm cách vì bị sống dưới những chế độ bạo ngược, chuyên chế. Không thể tách một giáo hội địa phương ra khỏi quốc gia liên hệ. Sự thịnh suy của một quốc gia, việc thi hành những chính sách của một chính quyền có ảnh hưởng trực tiếp tới giáo hội địa phương, cũng như ảnh hưởng tới cá nhân mỗi công dân tín hữu. Do đó, người tín hữu không thể bỏ qua trách nhiệm đối với quốc gia. Ngoài những hệ qủa trực tiếp và gián tiếp đối với bản thân, việc thiếu trách nhiệm cũng là một lỗi về phương diện tinh thần. 

Trách nhiệm đối với Giáo Hội được người giáo dân chấp nhận dễ dàng hơn. Tuy nhiên không thiếu những người chỉ biết lo đọc kinh, cầu nguyện, giữ đạo cho riêng mình, cho những người trong gia đình mình. Ngoài ra không cần biết việc gì khác. Không gia nhập đoàn thể, không sinh hoạt cộng đoàn, không tham gia các việc chung, lâu lâu góp tí tiền để “mua Nước Trời” và cho thế là đủ. Có thể nói cộng đoàn nào cũng đều có không ít những giáo dân với thái độ thụ động mang tính cá nhân chủ nghiã như vậy. Họ chỉ biết rút ra từ cộng đoàn những ích lợi tinh thần và thiêng liêng cho riêng họ. Họ không sống đúng vai trò một phần tử của cộng đoàn, nhất là không biết hợp tác với anh chị em để cùng chung sức thi hành sứ vụ tông đồ. Vì vậy, việc cần thiết là phải gây ý thức cho giáo dân về trách nhiệm của họ đối với Giáo Hội nói chung, nhất là đối với giáo hội địa phương nơi họ đang cư ngụ. 

Là người công giáo Việt Nam sinh sống ở hải ngoại, chúng ta còn phải có trách nhiệm đối với Giáo Hội và quê hươngViệt Nam. Chúng ta được sinh ra và lớn lên từ một giòng giống có bốn ngàn năm văn hóa, được thừa hưởng đức tin của cha ông có cội rễ từ 470 năm lịch sử của Giáo Hội Việt Nam, thừa hưởng thành qủa máu đào tử đạo của hàng trăm ngàn tiền nhân. Chúng ta không thể nghoảnh mặt làm ngơ đối với tình trạng và những nhu cầu của Giáo Hội và đất nước Việt Nam hiện nay.

 

III – NHỮNG TRÁCH NHIỆM CỤ THỂ PHẢI THI HÀNH

1/ Đối với quốc gia nơi đang sinh sống

Đóng thuế và tôn trọng luật lệ mới chỉ là thi hành bổn phận công dân một cách tiêu cực. Người giáo dân còn phải tích cực đóng góp vào việc cải tiến xã hội theo tinh thần Kitô giáo. Chúng ta không thể lúc nào cũng làm công việc tông đồ truyền giáo bằng cách giảng đạo, giảng Phúc Âm và lôi kéo những người chung quanh đến thánh đường rửa tội. Cách giảng đạo thường xuyên là làm gương sáng và tham gia các công việc xã hội và chính trị theo nguyên tắc của Thánh Kinh và các giáo huấn của Giáo Hội. Làm chính trị không nhất thiết phải là đảng viên một đảng phái hay ra ứng cử một chức vụ công quyền. Tranh đấu cho công thiện, công ích, tranh đấu chống nghèo đói, chống bất công xã hội, chống sa đọa luân lý là một hình thức làm chính trị trên đại thể. Vì làm chính trị là gì nếu không phải là tổ chức, quản trị và thay đổi một xã hội cho trở nên tốt đẹp hơn? Nếu những người công dân Công Giáo không làm thì những người khác sẽ làm, nhưng theo cách thức của họ. Muốn cải tổ xã hội thì phải hoạt động ngay trong lòng xã hội.  

Để khuyến khích giáo dân tham gia sinh hoạt chính trị, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, ngày 18/6/2004, đã ra tuyên cáo “Người Công Giáo Trong Đời sống Chính Trị”  (Catholics in Political Life), trong đó các ngài đã khẳng định: “Như Hội Đồng chúng tôi đã nhấn mạnh trong công bố về Quyền Công Dân Của Các Tín Hữu, người Công Giáo đem những xác tín luân lý vào đời sống công không đe dọa nền dân chủ hoặc đa nguyên, nhưng làm phong phú cho những giá trị đó và cho quốc gia. Sự phân quyền giữa giáo hội và quốc gia không đòi hỏi sự phân chia giữa đức tin và hành động công cộng, giữa những nguyên tắc luân lý và những lựa chọn chính trị, nhưng bảo vệ quyền của các tín hữu và các nhóm tôn giáo để họ thực hành đức tin và hành động theo những giá trị của họ trong sinh hoạt công” (1). Mục tiêu của việc tranh đấu chính trị trong giai đoạn này đã được các ngài đề ra: “Sự sống và nhân phẩm của con người, hôn nhân và gia đình, chiến tranh và hòa bình, những nhu cầu của người nghèo và những đòi hỏi của công lý” (2). 

Lên tiếng lương tâm, chất vấn, đòi hỏi, ứng cử, và nhất là bầu cử là những hình thức tham gia cụ thể vào sinh hoạt chính trị. Mỗi lá phiếu đều quan trọng vì có thể quyết định sự thắng bại của một cá nhân hay một chính đảng đại diện cho một lập trường, một chính sách. Nhiều lá phiếu sẽ tạo thành một sức mạnh có thể gây áp lực để đòi hỏi việc thay đổi hay áp dụng những biện pháp phù hợp với đức tin Công Giáo.

 

2/ Đối với quốc gia gốc

Cuống rốn không thể cắt lìa, nên chúng ta không thể thờ ơ, phủi tay trách nhiệm trước tình trạng chậm tiến, bất công, luân lý suy đồi, nhân quyền bị vi phạm mà đồng bào ruột thịt tại quê hương Việt Nam đang phải chịu đựng. Trách nhiệm đối với quê cha đất tổ không đòi hỏi chúng ta phải tranh đấu bằng võ lực, nhưng bằng những phương cách mà công dân của bất cứ quốc gia văn minh nào đều có thể làm. Đó là đánh động dư luận về những vi phạm nhân quyền, lên tiếng bảo vệ những người bị đàn áp, tạo áp lực chính trị, ngoại giao và kinh tế trên nhà cầm quyền chuyên chế để họ phải chùn tay, nới lỏng những biện pháp áp bức. Muốn tạo những áp lực loại trên, chúng ta phải có sức mạnh. Sức mạnh có từ đâu? Thưa, từ sự dấn thân của chúng ta trong đời sống xã hội và chính trị tại quốc gia nơi chúng ta sinh sống. Chỉ khi nào chúng ta được nể trọng, có những lá phiếu của một khối cử tri đoàn kết, lúc đó tiếng nói của chúng ta mới được lắng nghe và những yêu cầu của chúng ta mới được đáp ứng. 

Chúng ta đừng nghĩ rằng những hình thức tranh đấu bất bạo động như trên là vô ích, không thể làm thay đổi tình hình của đất nước. Nếu không có những đấu tranh liên tục và áp lực quốc tế, tình trạng nhân quyền tại Việt Nam chắc còn thê thảm hơn nhiều, vì nhà cầm quyền thấy mình có thể tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm, không sợ ai tố cáo và can thiệp. Mặt khác, người ở trong nước, một khi không thấy có sự yểm trợ và bênh đỡ nào từ bên ngoài, cũng sẽ thất vọng và buông xuôi, mất nỗ lực đấu tranh.

 

Chúng ta cũng đừng nghĩ rằng đấu tranh như thế là công việc của những tổ chức đời, những đoàn thể chính trị. Chúng ta hãy nhớ trách nhiệm “ngôn sứ” của người giáo dân phải nói lên sự thật, tố cáo sự ác, “đem ánh sáng vào nơi tối tăm, đem chân lý vào chốn lỗi lầm”. Chính các đức giám mục Việt Nam đã lên tiếng một cách mạnh mẽ trong thư chung gửi nhà cầm quyền Hà Nội sau hội nghị của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam vào tháng 10/2002. Trong phần đầu đòi xóa giảm những khuyết tật hiện hữu của xã hội, các ngài đã viết: “Cơ chế xin-cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền mà nhà nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân dưới dạng những cái phép, đồng thời biến nhà nước từ một tổ chức có chức năng phục vụ công ích trở thành một chủ nhân ông nắm các quyền tự do của người dân và ban phát các phép tự do lại cho họ thường theo sự tùy tiện chủ quan hơn là theo những tiêu chuẩn khách quan”. Trong phần hai về phát huy những giá trị nhân bản, các đức giám mục đã thẳng thắn đòi hỏi chính quyền phải “tạo điều kiện cho các cá nhân và tập thể công dân sử dụng các quyền của con người. Trong các quyền đó, phải kể đến quyền bình đẳng, quyền và bổn phận chu cấp cho các nhu cầu vật chất, tinh thần và tâm linh của cuộc sống con người, gia đình và tập thể, quyền sáng kiến và tham gia các hoạt động phát triển xã hội, thăng tiến con người và gia đình, cả việc củng cố nền tảng pháp lý của cộng đoàn chính trị trong một quốc gia.

“Dành cho mình độc quyền hay một quyền hành qúa lớn trong các lãnh vực của đời sống gia đình và xã hội, đó là con đường dẫn đến chuyên chế và độc tài, quan liêu và bao cấp, áp bức và bất công, là những tệ nạn làm tha hóa con người…” (3). 

Các đức giám mục không làm chính trị, nhưng đã mạnh mẽ đặt vấn đề với nhà cầm quyền về những tệ trạng xã hội và chính trị, đòi hỏi những cải tiến để phục vụ con người. Con người cụ thể trong nhãn giới của các vị là công dân Việt Nam, trong đó có giáo dân Việt Nam.

 

3/ Đối với Giáo Hội nói chung

Chúng ta sống trong và xây dựng Giáo Hội hoàn vũ bằng cách sống với và xây dựng giáo hội địa phương. Giáo hội địa phương là giáo phận, nhưng gần gũi nhất, cụ thể nhất là giáo xứ nơi mình cư ngụ, bất kể là giáo xứ Việt Nam có tư cách thể nhân, hay một cộng đoàn Việt Nam nằm trong một giáo xứ địa phương, hoặc một giáo xứ của người bản địa mà chúng ta gia nhập. Đây là nơi chúng ta được giảng dậy Lời Chúa, được lãnh các phép bí tích, được dự các lễ nghi thờ phượng, được nhận thân tình nồng ấm của những người đồng đạo. Chúng ta phải có trách nhiệm đóng góp, xây dựng, tham gia các sinh hoạt với anh chị em trong giáo xứ. Đây là nhà, là gia đình thiêng liêng của chúng ta. Chúng ta không thể đóng vai khách khi vui thì ghé, khi buồn thì đi chỗ khác. Nếu mỗi gia đình là một bến bình an và hạnh phúc cho mọi phần tử của gia đình thì mỗi giáo xứ cũng phải là một bến đỗ cho giáo dân cắm neo, phục hồi sức lực, tiếp tế lương thực thiêng liêng trước khi ra khơi vào đời để tranh đấu. Vậy phải có tâm tình “thuộc về” và gắn bó với một giáo xứ, đơn vị căn bản của Giáo Hội. Như thế mới có sự hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ. 

4/ Đối với Giáo Hội mẹ Việt Nam

Vì liên hệ huyết thống, vì tình liên đới giữa những người anh em cùng một đức tin, con cùng một Cha, chúng ta phải có trách nhiệm giúp đỡ Giáo Hội Việt Nam đang trong cơn khó khăn. Chúng ta đừng thấy có nhiều nhà thờ được tu bổ hay xây cất thêm, giáo dân tham dự đông đảo các lễ nghi, nhiều giám mục, linh mục và nữ tu được xuất ngoại mà tưởng rằng Giáo Hội Việt Nam đang được tự do và thịnh vượng. Phải công nhận rằng tình trạng hiện nay đã khá hơn nhiều so với thời bao cấp, ngăn sông cấm chợ, nhưng Giáo Hội chỉ được tự do bề ngoài, mọi quyết định quan trọng liên quan đến việc quản trị nội bộ của Giáo Hội đều nằm trong quyền quyết định của nhà nước cộng sản. Từ việc bổ nhiệm và thuyên chuyển các giám mục, đến việc tuyển sinh vào các chủng viện, phong chức và thuyên chuyển các linh mục, nhà nước đều kiểm soát và can thiệp một cách tích cực. Nếu không có sự đồng ý của họ thì Đức Giáo Hoàng cũng bó tay, nhiều giáo phận vẫn trống tòa không có giám mục, các đức giám mục cũng bị tê liệt, không thể điều khiển giáo phận của mình theo ý muốn. Ấy là chưa kể nạn cướp đất như đã từng xảy ra tại Dòng Chúa Cứu Thế (Hà Nội), Dòng Thiên An (Huế), thánh địa La Vang… và vụ phá nhà thờ tại Bac Liêu mới đây. Giáo Hội còn bị hạn chế ngặt nghèo ngay việc ra bản thông tin nội bộ. Ngày 26/7/2001, nhà nước cho phép Giáo Hội ra một tờ thông tin sau 8 năm xin phép và chờ đợi, nhưng với những điều kiện rất khắt khe: 2 tháng ra một kỳ, dưới sự giám sát của giám mục Nguyễn Sơn Lâm, không được qúa 50 trang, mỗi kỳ chỉ được in 100 ấn bản. Như vậy 8 triệu giáo dân được chia 100 tờ thông tin, trung bình cứ 80,000 người thì có một tờ để đọc chung! Pháp lệnh tôn giáo và tín ngưỡng được Ban Thường Vụ Quốc Hội thông qua ngày 18/6/2004 và sẽ có hiệu lực từ 15/11/2004, có nội dung kiểm soát chặc chẽ các sinh hoạt tôn giáo như buộc các giáo hội phải có giấy phép hoạt động, không được truyền đạo trên internet, không được sinh hoạt tôn giáo tại tư gia, không được thi hành mục vụ trong nhà tù v.v…  

Nhà nước cộng sản cho tự do tôn giáo bề ngoài, nhưng xiết chặt mọi đường dây bên trong. Vì vậy chúng ta phải giúp đỡ và tranh đấu cho Giáo Hội tại quê nhà.

Giúp đỡ vật chất: Cần giúp đúng chỗ, tránh phí phạm và phô trương. Nhắm trọng tâm giúp đỡ vào những vùng xa, sâu, nghèo. Không cần giúp việc xây cất những công trình tráng lệ không cần thiết, làm cớ ganh ghét cho đồng bào không Công Giáo. Đừng quên rằng đạo Chúa dậy đức khiêm nhường và khó nghèo. Lúc hoàn tất công cuộc cứu độ loài người, Thầy Chí Thánh chỉ có một manh khố và bị treo trên thập giá.

Giúp đỡ tinh thần: cần hơn. Giúp đỡ bằng lời cầu nguyện, nâng đỡ tinh thần, vận động và tranh đấu cho quyền tự do quản trị nội bộ của Giáo Hội, tự do truyền bá đức tin, tự do thiết lập và điều hành các cơ sở giáo dục, văn hóa, xã hội, được trả lại đất đai và các cơ sở bị chiếm giữ, cho giáo dân cơ hội được tham gia việc xây dựng đất nước, cải tiến xã hội, nhất là phục hồi luân lý, đạo đức để tạo điều kiện phát triển lành mạnh cho những thế hệ đang đến. 

Chính Đức đương kim Giáo Hoàng đã nhìn thấy những vấn đề và những khó khăn của Giáo Hội Việt Nam. Trong buổi tiếp các giám mục Việt Nam về Rôma viếng mộ các Thánh Tông Đồ ngày 22/01/2002, Đức Thánh Cha đã đọc một bài diễn từ đầy ý nghiã, tuy nói với các giám mục, nhưng thực sự muốn bắn tiếng cho nhà cầm quyền Việt Nam. Ngài nói: “Giáo Hội mong muốn cộng đồng chính trị hoàn toàn tôn trọng sự độc lập và tự chủ của Giáo Hội. Tài sản qúy giá, tự do tôn giáo… vừa dành cho những cá nhân vừa dành cho những cộng đồng tôn giáo. Đối với cá nhân, tự do tôn giáo bảo đảm quyền tuyên xưng và tự do thực hành tôn giáo của mình, quyền được tiếp nhận một nền giáo dục dựa trên những nguyên lý của đức tin, quyền theo đuổi ơn kêu gọi tu trì và quyền có những hành động riêng tư, công cộng biểu lộ ra ngoài mối liên hệ trong kết hợp họ với Thiên Chúa và với anh em họ. Đối với những cộng đồng tôn giáo, tự do tôn giáo bảo đảm những quyền căn bản như quyền điều hành cộng đồng cách tự chủ, quyền cử hành lễ nghi công cộng mà không bị hạn chế; quyền công khai giảng dậy đức tin và làm chứng cho đức tin bằng lời nói và chữ viết; quyền nâng đỡ những tín đồ trong nếp sống tôn giáo; quyền tuyển chọn, đào tạo, bổ nhiệm và thuyên chuyển các chức sắc tôn giáo; quyền biểu lộ sức mạnh đặc biệt của học thuyết xã hội của mình; quyền khuyến khích những sáng kiến trong lãnh vực giáo dục, văn hóa, bác ái và xã hội…” (4). 

Chính Đức Thánh Cha đã lên tiếng. Chúng ta có trách nhiệm phải giúp anh em đồng hương và đồng đạo ở trong nước đòi lại được những quyền căn bản và tự nhiên của mình như Đức Thánh Cha đã nêu trên.

 

KẾT LUẬN

Việc tôn trọng quyền lợi và địa vị của giáo dân trong Giáo Hội đã được đặt ra một cách nghiêm chỉnh và đã được Công Đồng Vatican II nhìn nhận. Đa số giáo dân không còn chấp nhận vai trò khiêm tốn của những kẻ được dậy dỗ (enseignés), tức là học trò ngoan ngoãn chỉ biết nhắm mắt vâng lời những vị thầy dậy (enseignants) đầy quyền uy. Dĩ nhiên chúng ta phải phân biệt chức năng giảng dậy lời Chúa với thái độ cái gì cũng biết, câu hỏi nào cũng có trả lời, việc gì cũng có thẩm quyền. Trong khi đòi quyền, nhiều người lại không biết tới những trách nhiệm mà người giáo dân phải thi hành đối với đất nước và Giáo Hội. Quyền lợi luôn luôn đi liền với trách nhiệm. Giáo Hội hiện diện giữa trần gian phải sống với thời đại và với những con người của thời đại, không thể đi phía sau hay đi bên lề. Thời đại chúng ta đang sống đòi hỏi Giáo Hội phải chia sẻ và đồng cảm với những vấn đề của thời đại. Do đó, Giáo Hội kêu gọi giáo dân hãy ý thức trách nhiệm của mình, tích cực dấn thân vào những sinh hoạt chẳng những trong Giáo Hội mà còn ở giữa lòng xã hội. Thái độ đóng cửa rút cầu, chỉ biết lo giữ đạo cho riêng mình, không cần biết tới chuyện ngoài đời, phải được cáo chung. Bây giờ là lúc người giáo dân phải ngụp lặn với đời để cải thiện và thánh hóa cuộc đời, đồng thời cũng nhờ đó mà bảo vệ đức tin và những nguyên tắc tín lý và luân lý của Giáo Hội mình. Đặc biệt người giáo dân Việt Nam sinh sống ở nước ngoài còn có nhiều trách nhiệm hơn, vì còn thêm gánh nặng của Giáo Hội mẹ và quê hương Việt Nam. Chúng ta không từ nhiệm trước trách nhiệm. Nhưng muốn lo tròn thì phải có quyết tâm và ơn Chúa. Chúng ta sẽ chẳng làm được việc gì nếu không tự coi mình như một công cụ hèn mọn trong bàn tay của Thiên Chúa. Hãy là công cụ hữu hiệu và ở trong tình trạng sẵn sàng để được Người xử dụng. 

________________________________ 

“As our conference has insisted in Faithful Citizenship, Catholics who bring their moral convictions into public life do not threaten democracy or pluralism but enrich them and the nation. The separation of church and state does not require division between belief and public action, between moral principles and political choices, but protect the rights of believers and religious groups to practice their faith and act on their values in public life"”

“Human life and dignity, marriage and family, war and peace, the needs of the poor and the demands of justice”.

Dịch và in trong “VAI TRÒ NGƯỜI TÍN HỮU CÔNG GIÁO ĐỐI VỚI GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI” – Tuyển tập các văn kiện Giáo Hội - các tr 79, 80, 81. Hoa Kỳ, Diễn Đàn Giáo Dân, 2004.

Sách vừa dẫn, các tr 73, 74.

Tác giả: Mặc Giao
   dunglac@gmail.com