Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Mặc Giao
macgiao@shaw.ca
Bài Viết Của
Mặc Giao
Tương quan trách nhiệm của người giáo dân đối với Quốc Gia và Giáo Hội
Những sai lạc trong tiểu thuyết " Tha Da Vinci Code"
KÍNH NHỚ TỔ TIÊN TRONG NGÀY TẾT

Làm người có tổ có tông
Như cây có cội như sông có nguồn.
                                          (Ca dao) 

Giờ giao thừa gần đến. Cả nhà tôi ngồi đợi trước bàn thờ đặt ở gian giữa với đèn nến sáng trưng, hương hoa thơm ngát. Khi chiếc đồng hồ qủa lắc điểm xong mười hai tiếng, bố tôi làm hiệu cho mọi người đứng dậy đọc kinh cầu nguyện cho “tiên nhân”. Dù ngay giữa những giây phút đầu năm, những lời nguyện não nùng của của kinh “Vực Sâu” vẫn vang lên tha thiết để cầu cho linh hồn những người đã ra đi trước được mau hưởng hạnh phúc thiên đàng. Không khí vừa trang nghiêm vừa đầm ấm, tưởng như người sống và người chết đang gặp gỡ nhau trong tâm tình thương yêu. Đó là những gì tôi còn nhớ lại kể từ khi còn thơ ấu. Việc đọc kinh cầu nguyên cho tiên nhân vào đúng lúc giao thừa vẫn được gia đình tôi luôn giữ cho tới khi đại gia đình phân tán thành nhiều mảnh nhỏ. Tuy nhiên mỗi tiểu gia đình về sau vẫn cố giữ tập tục tốt đẹp này. Có điều tôi cố thuyết phục mọi người nên thay từ “tiên nhân” bằng “tiền nhân”. Cả hai đều có nghiã là người đi trước, người đã ra đi. Nhưng khi đọc kinh tới chữ  “tiên nhân”, tôi hay bị chia trí vì nghĩ tới câu mắng yêu của mấy bà mẹ Bắc kỳ: “Tiên nhân bố nhà mày”. Chửi gì mà khôn thế! Toàn đem tổ tiên bên chồng ra mà chửi, không đụng gì tới tổ tiên nhà vợ. 

Nói cho vui vậy thôi, dùng chữ nào cũng được, miễn là để nhớ tới tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã qúa vãng. Nhớ trong lúc vui, nhớ trong lúc buồn, nhớ trong những giờ phút trọng đại nhất khi một chu kỳ mới của thời gian bắt đầu. Cái nhớ này nó sâu xa lắm. Chiều ba mươi nào bố tôi cũng có vẻ buồn. Hỏi bố thì bố trả lời rằng bố nhớ ông bà. Ngoài việc đọc kinh cầu nguyện, bố tôi và bác hai, sau bữa cỗ trưa mồng một, mặc áo dài trắng, vác cuốc lên vai, đi ra đồng để sửa sang phần mộ cho ông bà tôi. Phần mộ phải được làm sạch cỏ dại và đắp đất cho đầy đặn vì “Cao nấm ấm mồ” . Mồ cao mả đẹp chẳng những là biểu tượng của lòng hiếu kính mà còn là một ước nguyện cho con cháu được yên vui, phát đạt. Những đồng bào không theo đạo Công Giáo cũng đi sửa mộ người thân vào trước hay sau tết. Ngoài ra còn một dịp sửa mộ khác vào tháng Ba âm lịch được gọi là hội “đạp thanh” (dẵm trên cỏ) trong tiết thanh minh:

      Thanh minh trong tiết tháng Ba

       Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

                   (Kiều của Nguyễn Du) 

Khi tả sơ về tập tục kính nhớ tổ tiên của gia đình tôi, một gia đình theo đạo Công Giáo, tôi muốn chứng minh rằng người Việt Nam, dù theo đạo nào, cũng có lòng tôn kính và biết ơn tổ tiên. Mỹ tục này có nguồn rễ từ rất lâu đời, trước khi học thuyết Khổng Mạnh có ảnh hưởng trên văn hóa Việt Nam. Bằng chứng là những đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương, Đức Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh..., những anh hùng dựng nước của huyền sử và thần thoại đã được xây dựng từ bao đời không ai biết rõ và vẫn còn đứng sừng sững với thời gian. Những câu tục ngữ, ca dao được truyền từ đời nọ đến đời kia luôn nhắc nhở con cháu phải nhớ công ơn của tổ tiên và ăn ở làm sao cho xứng đáng với tiền nhân 

      Sống vì mồ mả, không sống vì cả bát cơm. 

      Uống nước nhớ nguồn. 

      Khôn ngoan nhờ ấm cha ông

      Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ. 

KÍNH TỔ: TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC HÀNH

Việc kính nhớ, nhiều khi là phụng thờ tổ tiên của người Việt chúng ta dựa trên quan niệm có sự liên lạc mật thiết giữa thế giới vô hình và thế giới hữu hình. Sự thờ cúng chính là môi trường gặp gỡ giữa người sống và vũ trụ thần linh. Nhà nghiên cứu phong tục và dân tộc học Toan Ánh nhận định rằng “Đối với người Việt Nam, chết chưa phải là chết hẳn, thể xác tuy chết nhưng linh hồn vẫn còn và hằng lui tới với gia đình. Thể xác tiêu tan nhưng linh hồn bất diệt... Sự tin tưởng vong hồn ông bà cha mẹ ngự trên giường thờ có ảnh hưởng nhiều đến hành động của người sống. Nhiều người vì sợ vong hồn cha mẹ buồn đã tránh những hành vi xấu xa, và đôi khi định làm một việc gì cũng suy tính kỹ lưỡng, xem công việc đó lúc sinh thời cha mẹ có chấp nhận hay không” (1). 

Vì thế, người sống coi người chết luôn luôn có mặt trong đời sống của mình và của gia đình mình dưới một dạng khác mà con mắt trần thịt không thể nhìn thấy. Do sự tin tưởng này, người sống có hai nhiệm vụ đối với người chết: 1/Báo cáo những việc vui buồn, tạ ơn, xin phù hộ. 2/Cầu nguyện cho linh hồn người qúa cố sớm được siêu thoát. 

Mỗi gia tộc lớn có từ đường đại tộc (còn gọi là nhà thờ: Mẫu đơn mọc cạnh nhà thờ. Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy nhau). Mỗi chi tộc lại có từ đường chi tộc. Mỗi gia đình có bàn thờ (hay giường thờ) gia tiên thờ cha mẹ, ông bà, cụ kỵ lên tới bốn đời. Cao hơn nữa thì thờ ở từ đường chi tộc hay gia tộc. Trên thực tế, bàn thờ gia tiên thờ hết mọi người qúa vãng trong giòng tộc, kể cả tổ tiên, ông chú bà cô, anh em họ hàng nội ngoại. Bàn thờ gia tiên được đặt nơi trang trọng nhất trong nhà, thường là gian chính giữa tại thôn quê hay phòng khách tại thành thị. Nếu không có hương khói hàng ngày thì mỗi dịp kỵ giỗ, lễ tết phải có cỗ và phẩm vật để cúng. Mỗi khi có biến cố dù tốt, dù xấu hay những thay đổi trong gia đình, như có người thi đỗ, thăng quan tiến chức, có người lìa trần, có thêm dâu rể mới, cháu chắt mới... đều phải làm lễ cáo gia tiên, để xin các cụ chứng giám, chia vui sẻ buồn, phù hộ và ban phước. Có nhiều người còn làm lễ bố cáo lứa lợn mới đẻ được mấy con và xin các cụ phù hộ cho lợn mẹ nhiều sữa, lợn con mau ăn chóng lớn, không bị dịch tễ, không bị chó tha ma bắt. Lời cầu nguyện này tuy ngây ngô nhưng chứng tỏ lòng tin và tâm tình gần gũi, thân mật giữa người sống và người chết. 

Từ chiều 30 mươi Tết, các gia đình đã dọn cỗ cúng, thắp nhang đèn để đón ông bà, cha mẹ đã khuất về ăn Tết với con cháu. Đúng giao thừa, gia trưởng, có vợ con cháu chắt vây quanh, chủ tọa và cử hành lễ tống cựu nghinh tân, bái lậy tiền nhân, mừng tuổi các cụ và mời các cụ hưởng lễ vật đầu xuân được dâng trên bàn thờ. Sáng mùng hai và sáng mùng ba cũng phải dâng cỗ mới có trà rượu như vậy. Người ta phải phụng dưỡng ông bà cha mẹ lúc chết như lúc sống, lúc mất cũng như lúc còn (Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn). 

Ngày mùng một, sau khi kính nhớ người qúa vãng, con cháu chúc tuổi ông bà cha mẹ còn sống, nhận những lời khuyên bảo và tiền mừng tuổi. Tiếp theo là chia nhau đi cúng tại các từ đường thuộc giòng họ, đi chúc tết các bậc ngang hàng với cha mẹ. Khi còn nhỏ, tôi được theo bố tôi đi mừng tuổi những người trên. Khi tới nhà muốn viếng thăm, bố tôi lấy một phong pháo ngắn từ trong chiếc tráp ngoài sơn then trong sơn điều do tôi khệ nệ ôm theo, treo pháo ở cổng và đốt. Tiếng pháo nổ vừa là lời chào mừng, vừa có ý nghiã đem vận may đến nhà, vừa thông báo cho người trong nhà biết có khách đến thăm để ra cổng đón. Vào tới trong nhà, bố tôi “sửa lễ” lấy ra từ trong tráp. Lễ vật thường giản dị, có trầu cau và vài phong bánh khảo, một thứ bánh ép bằng bột nếp rang, giữa có nhân ngọt bằng đậu xanh và mứt bí, tương tự như bánh in ở trong Nam. Khi tết ông tộc trưởng, người đứng đầu giòng họ, phải có thêm một món tiền nhỏ gọi là tiền kính tổ. Tiền này được dùng để làm giỗ chạp hay xin lễ cầu nguyện cho tiền nhân. Những lời chúc tụng được hai bên tuôn ra như nước chảy với đầy đủ vẻ văn hoa và khuôn sáo. Nào là “tăng phúc tăng thọ” cho người lớn tuổi, “phong đăng hòa cốc” cho người cầy cấy, nào là “phát tài sai lộc”, “nhất bản vạn lợi” cho người buôn bán, nào là “thăng quan tiến chức” cho người làm việc công, dù người được chúc chỉ là một thư ký tòa hành chánh (được gọi là “thông ký phán tòa sứ” cho oai). Người lớn chúc nhau xong, đến lượt trẻ con được tặng tiền mừng tuổi. Sau đó chúng chạy mất hút, bố mẹ tìm không ra khi muốn sai vặt. Họ hàng, bè bạn gặp nhau trong ba ngày tết không thể thiếu mục chè chén, ít thì trà mứt kèm theo ly rượu xuân, nhiều thì đủ bộ thịt mỡ dưa hành, thịt đông, bánh chưng, giò, nem, ninh, mọc với những chai rượu nổi tăm nấu bằng nếp cái. Truyện trò nổ như pháo ran. Những vần thơ hào sảng được ngâm lên và những chuyện tiếu lâm cười chảy nước mắt được kể giữa mâm rượu không có đàn bà và trẻ nít. Tết ngày xưa vừa mang tính ước lệ cổ truyền, vừa là dịp vui chơi và làm thắm đặm thêm tình họ hàng, làng xóm. 

Ngày mùng hai Tết được dành cho họ hàng bên ngoại

      Mùng một thì ở nhà cha

      Mùng hai nhà vợ, mùng ba nhà thầy.

Thời tôi còn bé, việc tết thầy là một bổn phận không thể thiếu. Tôi nhớ nhất thầy giáo dậy tôi lớp Ba, thời đó gọi là Cours Élémentaire vừa học tiếng Việt, vừa học tiếng Pháp, đôi khi còn thêm cả chữ Nho. Thầy rất nghiêm và đánh học trò rất đau. Ngoài những cái tát in hằn những ngón tay của thầy trên má, chúng tôi còn phải chịu những lằn roi mây trên lưng, trên mông, nhất là bị thầy dùng thước kẻ bằng gỗ lim đánh vào lòng bàn tay nếu tội nhẹ, vào mu bàn tay trên những khớp xương nếu tội nặng hơn, và trên năm đầu ngón tay chụm lại nếu tội nặng nhất. Tiết lạnh mùa đông làm những ngón tay bị cóng, nên khi bị đánh, nạn nhân cảm thấy vừa đau vừa buốt thấu xương. Vậy mà đến mùng ba tết, bố tôi sửa một khay lễ gồm một chục trứng gà và một chục cam sành bắt tôi bưng và dẫn đi tết thầy. Tại nhà thầy, sau những lời chúc tụng thường lệ, bố tôi cám ơn thầy về việc dạy dỗ tôi và xin thầy “có thương cháu thì cứ cho roi cho vọt, vì muốn tốt chữ thì phải dữ đòn”. Nghe vậy, tôi phát nổi da gà, chỉ sợ nhỡ thầy cảm vì cái lễ của bố tôi, chiều lòng bố tôi và “chiếu cố” tôi tận tình trong suốt năm học là kể như đời tôi tàn. Nhưng nghĩ lại câu “Không thầy đố mày làm nên” , tôi vẫn nhớ ơn thầy. 

Ngoài ngày tết, còn có ngày giỗ. Gia trưởng phải nhớ thuộc lòng hay phải ghi vào sổ ngày giỗ của từng người trong gia đình ít ra tới ông bà nội ngoại. Cỗ lớn cỗ bé không quan trọng, nhưng quên giỗ là phạm tội bất hiếu và bị chê cười: “bắt người bỏ giỗ, không bắt người cỗ bé”. Ngày giỗ là dịp tưởng nhớ người qúa vãng, cũng là dịp để cầu nguyện cho linh hồn họ được siêu sinh hay lên thiên đàng. Người theo đạo Phật thường lập đàn cầu siêu tại chùa, gửi vong người qúa cố ở chùa. Người Công Giáo thì đọc kinh cầu nguyện, hãm mình, làm việc lành, xin lễ cầu cho người thân chóng được rời luyện ngục để về thiên đàng. Nói chung, cả hai tôn giáo lớn này đều làm việc “độ vong” cho người ở cõi khác, tuy có những điểm giống nhau và những điểm khác nhau. 

VIỆC ĐỘ VONG TRONG PHẬT GIÁO VÀ THIÊN CHÚA GIÁO

Độ vong là giúp đỡ các linh hồn những người chết đang ở cõi đau khổ được thoát khỏi cõi này và siêu thăng về một cõi khác hạnh phúc hơn. Người theo đạo Phật tin rằng kiếp sống này không phải là duy nhất. Nó là hậu qủa của kiếp trước và là nhân của kiếp sau. Kiếp trước làm lành, kiếp này gặp lành; kiếp này ở dữ, kiếp sau gặp dữ. Đó là luật nhân qủa. Mỗi khi đổi kiếp, con người sẽ phải đầu thai vào một trong sáu cảnh giới gọi là lục đạo (sáu nẻo). Theo Kinh Duy Ca Mật thì lục đạo gồm có: Thiên (cảnh giới của loài thiên thần), Nhân (cảnh giới của loài người), Atula (cảnh giới của thiên thần xấu), Ngạ qủi, Súc sinh và Địa ngục. Trong lục đạo, chỉ có hai cảnh giới hữu hình mà con người có thể nhìn thấy, đó là Nhân và Súc sinh. Có giá trị hơn cả là hai cảnh giới Thiên và Nhân. Thiên đây không phải là thiên đàng mà là cảnh giới của thiên thần, nơi có nhiều điều kiện thuận tiện để chấm dứt vòng luân hồi. Khốn thay, chính vì sự dễ dãi này, những hồn ở trong cảnh giới Thiên không cố gắng tìm sự giải thoát cuối cùng. Vì vậy, khi hết kiếp họ lại thường rơi vào một cảnh giới khác khổ hơn. Các Atula thì lo tranh cãi và phân bì hơn thua. Các Ngạ qủi thì tự dầy vò vì những thèm khát không được thỏa mãn. Súc sinh thì u mê chỉ biết đòi hỏi và phản ứng theo bản năng. Còn những hồn ở địa ngục thì bị hành khổ đủ cách, không còn lòng dạ nào mà nghĩ đến việc giải thoát. Cảnh giới Nhân là tốt nhất vì trong đó con người có thể nỗ lực để gây mầm mống cho một kiếp sau tốt đẹp hơn: “Chỉ có con người sướng khổ tương đối quân bình, nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát tâm đi tìm con đường giải thoát. Chỉ có con người là có nhiều tự do quyết định hơn cả, có đầu óc sáng suốt hơn cả để có thể đạt tới trí tuệ giải thoát. Nên trong lục đạo, chỉ có con người là có nhiều cơ may, nhiều khả năng để thành Phật nhất. Do đó, theo Đức Phật, được làm người là cả một cơ hội qúy báu, không nên uổng phí” (2). 

Việc độ vong được diễn tả điển hình trong chuyện Mục Kiều Liên cứu mẹ là bà Thanh Đề. Bà Thanh Đề đang ở kiếp ngạ qủi. Mục Kiều Liên đi xuống địa ngục tìm cách cứu mẹ. Phật dậy phải mời những vị cao tăng vừa “an cư kiết hạ” (chuyên tu hàng năm từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7 âm lịch) xong, tới chú nguyện để vong linh bà Thanh Đề chuyển tâm địa độc ác thành tâm địa lành, nhờ đó mà thoát kiếp ngạ qủy và được sinh vào một cảnh giới khác hạnh phúc hơn. Đây là phương pháp áp dụng sự chú nguyện của những người có năng lực tinh thần rất mạnh để tác động vào tâm của người khác. Khi tâm được tác động rồi, người đó sẽ tự tìm cách giải thoát lấy mình, không qua một sức mạnh thần linh nào hết. Tâm thay đổi thì sướng hay khổ cũng thay đổi theo: “Tội tùy tâm sinh, tội tùng tâm diệt”, “Khổ tùy tâm sinh, khổ tùng tâm diệt” (3). Đó cũng là lời dậy của Đức Phật: “Tự giác nhi giác tha”, tự mình giác ngộ mà cứu lấy mình để thoát khỏi vòng luân hồi và được nhập Niết Bàn (Nirvana), nơi tuyệt đối an bình, “nơi tận diệt của ước muốn, nơi tận diệt của oán thù, nơi tận diệt của ảo vọng” (4), tức là nơi tuyệt đối không còn tham, sân, si. Xem ra không phải người Phật tử nào cũng hiểu được những điều cao siêu này. Họ chỉ biết tụng niệm cầu xin Trời Phật độ trì người qúa cố sớm được về cõi hạnh phúc (siêu sinh tịnh độ). Họ vừa cầu Phật vừa cầu Trời, coi Phật cũng là vị quyền uy ngang hàng với Trời, trong khi chính Đức Phật không nhận mình là thần linh, chỉ coi mình là người đã tìm ra con đường bỏ bờ mê để đến bến giác và muốn chỉ con đường đó cho chúng sinh. Dù bằng cách nào, việc có thành tâm thiện chí cầu nguyện cho linh hồn người qúa cố cũng bầy tỏ lòng hiếu thảo. Chúng ta cũng đừng quên rằng người Việt Nam vốn biết gạn đục khơi trong, gia giảm theo hoàn cảnh và Việt Nam hóa mọi thứ tinh hoa đến từ bên ngoài, kể cả tôn giáo, để tất cả đều có thể sống chung hài hòa với tâm tình và nếp sống Việt Nam, vì thế mới có “tam giáo đồng nguyên” (Phật, Lão, Khổng), hay nói đúng hơn là “đa giáo đồng nguyên”. 

Đối với người theo đạo Thiên Chúa, việc độ vong là cầu xin Thiên Chúa thứ tha cho những linh hồn đang ở nơi thanh luyện (luyện ngục) sớm được lên thiên đàng hưởng hạnh phúc cùng với Thiên Chúa. Những người có tội trọng, nếu trước khi chết không biết xám hối thì bị phạt đời đời trong hỏa ngục, không còn hy vọng thay đổi hoàn cảnh. Chỉ những người đã biết xám hối hay những người lành thiện nhưng còn vướng mắc “nợ trần ai” chưa trả hết khi còn sống mới bị tạm giam nơi thanh luyện để được trở nên tinh tuyền sau khi đã trả hết tội và vạ. Con người chỉ có một cuộc đời nên chỉ có thể làm điều lành khi còn sống ở trần gian. Một khi đã lià đời, họ không còn khả năng để tự chuộc tội mình nữa. Vì thế mới phải trông cậy người còn sống cầu nguyện cho mình và làm những việc lành phúc đức thay cho mình. Ngày giỗ, ngày tết đối với người theo Thiên Chúa giáo, ngoài việc tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn người qúa cố, còn là dịp gia tăng lời cầu nguyện và những hành vi đạo đức để xin Thiên Chúa mở lòng nhân từ tha thứ những gì người đó còn vướng mắc mà chưa trả hết. Nhờ thế người đó mới sớm được giải thoát vĩnh viễn và được hưởng hạnh phúc đời đời. Người Phật tử và người Công giáo gặp nhau ở một niềm tin chung là có một đời sống khác ngoài cuộc sống hữu hình này và người sống với người chết vẫn có liên hệ với nhau và cần thương yêu, hỗ trợ lẫn nhau.  Đó là chết mà không chết nếu còn có người nhớ tới mình. Tuy nhiên, mỗi đạo thể hiện sự liên hệ này bằng những phương cách khác nhau. 

XUNG KHẮC TRONG NGHI THỨC TÔN KÍNH TỔ TIÊN

Khi nói tới việc tôn kính tổ tiên, chúng ta cũng nên bàn tới những hiểu lầm về quan niệm và nghi thức khác nhau giữa việc thờ và kính tổ tiên của người Công giáo và người không Công giáo. Trước đây, có một số người cho rằng theo đạo Thiên Chúa là bỏ tổ tiên, ông bà, cụ thể là không còn thờ phụng cúng giỗ tổ tiên. Nguyên do là họ thấy các nhà truyền giáo ngoại quốc khi mới đến Việt Nam, vì không thấu hiểu văn hóa và tục lệ ở đây, nghĩ rằng việc cúng giỗ là hành động thờ phượng mà theo họ chỉ có một mình Thiên Chúa là đấng đáng được tôn thờ mà thôi, nên họ cấm giáo dân chủ động cúng giỗ với lễ vật, cấm tham dự các buổi cúng giỗ của người không theo đạo Thiên Chúa và cấm ăn đồ cúng. Những cấm đoán này đã gây hiểu lầm và xung khắc giữa những tập đoàn dân tộc có tín ngưỡng khác nhau, nhất là trong những gia đình có con cháu không theo cùng một đạo.  

Thật ra, người theo đạo Công Giáo chỉ thờ có một Thiên Chúa mà họ tin là đấng duy nhất tạo dựng nên muôn loài, trong đó có cả con người. Cha mẹ, ông bà, tổ tiên cũng chỉ là tạo vật, nên không được thờ, chỉ được kính, được nhớ ơn và được cầu nguyện cho chóng về nước trời. Dù với niềm tin như vậy, những hình thức cúng giỗ theo truyền thống vẫn có thể được thực hiện với tâm tình tưởng nhớ, tôn kính, tri ân và cầu nguyện. Đó là một hình thức đem giáo lý Kitô giáo hội nhập với văn hóa bản địa. Các giáo sĩ Dòng Tên ở Việt Nam và Trung Hoa đã lưu ý Tòa Thánh Vatican về điểm tế nhị này. Nhưng mãi tới năm 1939, Bộ Truyền Giáo của Tòa Thánh mới ra huấn dụ “Planet Compertum Est” cho phép cử hành các nghi lễ tôn kính tổ tiên. Tại Việt Nam, ngày 14-6-1965, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (miền Nam) họp tại Đà Lạt đã chính thức ra thông cáo về việc “Tôn kính Tổ Tiên và các Anh Hùng Liệt Sĩ”, theo đó việc bầy tỏ tinh thần ái quốc, lòng hiếu thảo, tôn kính hoặc tưởng niệm tổ tiên và các anh hùng liệt sĩ qua việc treo hình ảnh, dựng tượng, nghiêng mình bái kính, trưng hoa đèn, tổ chức ngày kỵ giỗ thì giáo dân được quyền tham dự cũng như chủ động. Ngày 14-6-1974, Hội Đồng Giám Mục tại miền Nam còn ấn định chi tiết hơn về việc lập bàn thờ tổ tiên và các anh hùng liệt sĩ trong nhà, dưới bàn thờ Thiên Chúa, được đốt nhang hương, đèn nến, dâng hoa trái, bái lậy theo phong tục, miễn là không có những việc mê tín như đốt vàng mã, thờ hồn bạch. Từ đó, nhiều gia đình Việt Nam theo đạo Thiên Chúa đã lập bàn thờ tổ tiên và những người đã khuất trong nhà, coi đó là chuyện bình thường. Việc dâng hoa qủa và đôi khi cả những món ăn mà người qúa cố ưa thích khi còn tại thế cũng được nhiều gia đình thực hiện, không phải với tin tưởng là người qúa vãng sẽ về hưởng những vật dâng cúng đó, nhưng chỉ là nhắc lại những kỷ niệm, tỏ lòng yêu thương, nhớ nhung, kiểu “Hãy uống với tôi một ly rượu, hút với tôi một điếu thuốc như khi xưa chúng mình sống chung với nhau”.  

Như thế, những hiểu lầm đã được giải tỏa. Có thể nói toàn thể dân tộc cùng giữ truyền thống tôn kính tổ tiên, được thể hiện cụ thể trong những dịp giỗ, tết. Xét cho cùng thì mọi người chúng ta đều là anh em xa gần, có chung một tổ. Nhà khảo cứu Nhân Tử, tức bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, đã làm một con tính về liên hệ giòng tộc như sau: nếu tính từ  cá nhân ta ngược lên, ta là đời thứ nhất có 1 người, thêm người phối ngẫu là 2, thì đời thứ 2 cha mẹ hai bên có 4 người, đời 3 ông bà bốn bên có 8 người, đời 4 các cụ tám bên có 16 người, đời 5 các kỵ mười sáu bên có 32 người. Cứ thế tính theo lũy tiến lên đến đời thứ 10 chúng ta có 1,024 tổ tiên, tới đời thứ 20 ta sẽ có 1,048,567 tổ tiên. Tính lên đến đời thứ 30, tức khoảng cách đây 1,000 năm ta sẽ có con số 1,000,000,000 (một tỷ) tổ tiên (5). Nếu tin Mẹ Âu Cơ đẻ một trăm trứng, nở một trăm con thì chúng ta đều là cháu chắt chút chít của Mẹ. Vậy thì sống phải thương yêu nhau, chết phải nhớ tới nhau và cầu nguyện cho nhau. Truyền thống gắn bó với gia đình và tôn kính tổ tiên của người Á Đông nói chung và của người Việt Nam nói riêng đã được Đức cố Giáo Hoàng Paul VI nhìn nhận và ca tụng. Ngày 29-11-1970, nhân dịp khai mạc đài phát thanh Veritas hướng về Á Châu, Đức Giáo Hoàng đã gửi một thông điệp cho các dân tộc Á châu trong đó có đoạn như sau:

“Thưa anh em. Khi nhìn lại qúa khứ của các dân tộc Á châu, chúng tôi đã phải xúc động trước tinh thần biết trọng những giá trị tâm linh. Tinh thần ấy đã nổi bật trong tư tưởng các nhà hiền triết và trong đời sống của quần chúng Á châu. Óc kỷ luật của các nhà tu hành, lòng đạo hạnh thâm sâu của dân chúng, lòng hiếu thảo gắn bó với gia đình và thờ kính tổ tiên của anh em, tất cả những đức tính đó là những dấu chứng tỏ anh em không ngừng tìm Đấng Chí Tôn và khao khát siêu nhiên... Chính những giá trị này đã làm cho con người, một thực thể tràn ngập luồng khí tinh thần, vừa có thể là chủ của vũ trụ, các năng lực trong vũ trụ mà còn là chủ của chính mình... Với nhãn giới tinh thần anh em thừa hưởng được của truyền thống, tinh thần thượng luật, lòng đạo và sự bảo toàn đời sống gia đình, chắc chắn anh em có đủ sức đi tới chỗ giúp nền văn minh Tây phương vượt được những nguy hiểm, trong đó nền văn minh này đang bị chính sự tiến bộ của mình nhốt chặt lại...” (6). 

Qủa thật, văn minh vật chất mà thiếu giá trị tinh thần thì đời sống con người sẽ mất thăng bằng và mất bình an trong tâm hồn và trong cuộc đời. Mất bình an là mất tất cả. Bình an với mình, với người, liên hệ chân tình với người sống, cả với người chết, được biểu lộ trong những dịp đặc biệt như giỗ, tết, sẽ giúp cho cuộc đời bớt cô đơn và thêm ý nghiã. Cũng nhờ đó ta biết mình từ đâu tới, sẽ đi về đâu, sẽ không tàn héo như cỏ mục, nhưng sẽ đơm hoa kết trái như mùa xuân, sẽ tràn đầy và phong phú như sông biển

      Cây có gốc mới nẩy nhành xanh ngọn

      Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu. 

Calgary, Canada, chờ xuân Ất Dậu 2005

                      MẶC GIAO 

GHI CHÚ

TOAN ÁNH, Tín Ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, tr. 23, 24. Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, không đề năm.

(3) Theo NGUYỄN CHÍNH KẾT, Việc Độ Vong trong Kitô Giáo và Phật Giáo. Điện báo Maranatha tháng 11, 2004 (www.maranatha-vn.net).

(4) Xem CHAUCHARD Louise, Le Buddhisme, tr. 52. Paris, Seghers 1977.

NHÂN TỬ NGUYỄN VĂN THỌ, Mạn đàm về tương quan gia đình và gia tộc. Tạp chí Phương Đông, số 30, tháng 10-1974, Sài Gòn.

Trích theo Sacerdos, Linh Mục Nguyệt San, so 109-110,  1-2-1971, Saigon.

Tác giả: Mặc Giao
   dunglac@gmail.com