Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Mặc Giao
macgiao@shaw.ca
Bài Viết Của
Mặc Giao
Tương quan trách nhiệm của người giáo dân đối với Quốc Gia và Giáo Hội
Những sai lạc trong tiểu thuyết " Tha Da Vinci Code"
VAI TRÒ TÁC NHÂN VĂN HÓA CỦA LINH MỤC - ÔNG QUAN HAY ÔNG THẦY?

Sứ mệnh của linh mục trước hết và sau hết là giảng dạy về Thiên Chúa, truyền bá Phúc Âm, tế lễ và làm các phép bí tích, hay nói cách khác là sứ mệnh tông truyền, giáo dục đức tin, thánh hóa và tư tế. Xét về mặt tu đạo và hành đạo, linh mục là người xuất thế để nhập thế. Xuất để khỏi vướng tình đời và bụi đời. Nhập thế để sống với con người và lo về đời sống thiêng liêng của con người. Con người lại là một loài thượng đẳng, một sinh vật có văn hóa, nên những hành động của một linh mục không thể không có những đặc tính văn hóa. Hành động văn hóa là gì? Nói theo nghiã rộng, đó là những hành động của trí khôn nhằm cải tiến đời sống của con người cả về vật chất lẫn tinh thần. Ăn, ở, đi đứng là là những hành động của bản năng. Nhưng biết nấu thức ăn cho ngon, biết cách ăn cho khỏi mang tiếng là “phàm phu tục tử”, biết làm nhà có tiện nghi để ở, biết chế xe hơi, máy bay, hỏa tiễn để đi, biết sáng tác thơ văn, âm nhạc để giải trí và giãi bày tình cảm, tư tưởng, thì đó là những hành động văn hóa. Cao hơn một mức, hành động văn hóa còn là thay đổi nếp sống, tạo ra mối liên hệ nhân bản giữa người với người và suy nghĩ về những vấn đề siêu hình để giải thích vũ trụ và con người. Những người hướng dẫn quần chúng về phương diện tâm linh, trong đó có các linh mục, có những ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội. Do đó, linh mục cũng là người có rất nhiều cơ hội đóng góp vào đời sống văn hóa của của dân tộc.

Một nền văn hóa được xây dựng và biến chuyển qua nhiều đời với những tác nhân đa số là vô danh. Tuy nhiên, những ngưòi có vai trò quan trọng hơn hết trong việc duy trì và phát huy văn hóa thường là những người cai trị và những người truyền đạt sự hiểu biết và tư tưởng (những nhà giáo và những người viết). Theo lối nói dân gian ngày xưa, họ là những ông quan và những ông thầy.

TẠI SAO SO SÁNH LINH MỤC VỚI ÔNG QUAN ?

Dân tộc Việt-Nam có tinh thần trọng học và trọng người có học. Chức tiên chỉ trong làng được dành cho người có học vị cao (trọng khoa), hoặc đã làm quan to (trọng hoạn), hoặc người cao niên nhất (trọng thiên tước). Các chức quan của Việt-Nam không do cha truyền con nối, không dành riêng cho giai cấp qúi tộc như tại Âu châu trước đây. Ngược lại, trong xã hội của chúng ta, con vua thì chắc làm vua, nhưng con “sãi chùa” chưa chắc đã phải “quét lá đa” trọn đời. Một em chăn trâu con nhà nông dân, nếu có trí thông minh, nếu có cơ hội học và chịu khó học, sẽ có thể thành ông nghè, ông trạng và làm quan lớn nhất phẩm triều đình. Lối học và lối tiến thân của Việt-Nam tạo cơ hội cho mọi tầng lớp dân chúng có thể “đổi đời”, tức đổi giai cấp xã hội. Vì trọng học nên dân chúng gọi những người có học là quan, không cần biết họ có làm quan thực thụ hay không. Ngoài quan nghè, quan trạng ngày xưa, các ông đại biểu thời Tây cũng được gọi là quan nghị, những ông bác sĩ được gọi là quan đốc-tờ để phân biệt với quan đốc học (hiệu trưởng), ông kỹ sư được gọi là quan bác vật. Khi có bằng cấp và chức vị mới, người thụ đắc phải tổ chức khao vọng để được làng xóm công nhận. Nếu không khao thì “vô vọng bất thành quan”. Cũng theo truyền thống rất Việt-Nam này, các tân linh mục, ngay sau khi chịu chức, thường có mục “vinh qui bái tổ”, trong đó, ngoài việc cỗ bàn, còn có thánh lễ đại trào với cờ xí, chiêng trống, âm nhạc rước cha mới vào thánh đường bản quán. Như vậy có khác chi cảnh quan trạng áo gấm về làng ngày xưa :

Quan trạng đi bốn lọng vàng

Cờ thêu tám lá qua làng trang nghiêm

(Nguyễn Bính)

Linh mục là người có học, giao thiệp nhiều với những người có học, lại thường chơi với các quan, nên được dân chúng coi như hàng quan. Tại những xứ đạo ngày xưa, và ngay tại những xứ đạo xa thành phố ngày nay, dân chúng coi cha xứ như ông quan thật sự. Khi gia đình có chuyện rắc rối hay có tranh chấp với xóm giềng, bổn đạo thường đến nhờ cha xứ phân giải. Khi muốn khiếu oan hay muốn xin một ân huệ với chính quyền địa phương, giáo dân thường đến “lễ” cha trước để nhờ cha can thiệp với các giới thẩm quyền.

Về phần các linh mục, “ tước hiệu ‘Sarcedos alter Christus’(Linh mục hiện thân của Đức Ki-Tô, hay linh mục là Đức Ki-Tô khác), ngoài ý nghiã thần học, còn phảng phất đó đây quan niệm linh mục như một ‘ông thánh con’ hay một ‘ông quan’, thật tách biệt với chúng sinh”(1). Do đó, ta không nên lấy làm lạ khi thấy có những hiện tượng quan liêu, độc đoán, hay thái độ “cái gì cũng biết”, câu hỏi nào cũng có câu trả lời nơi một số linh mục. Dù sao, các vị cũng là những con người, lại là người Việt-Nam mà mấy ông Tây đã có nhận xét : “Trong bụng mỗi người An-nam đều có một ông quan”.

Không phải chỉ được dân chúng coi như quan, nhiều linh mục đã có chức quan thực sự. Việc các vị có hành xử chức quan hay không lại là chuyện khác. Thí dụ gần chúng ta nhất: Đức Giám Mục Lê Hữu Từ được Ông Hồ Chí Minh mời làm Cố Vấn Tối Cao cho chính phủ kháng chiến Việt Minh vào năm 1946. Nếu vào thời vua chúa ngày xưa, chức này phải ngang hàng với chức Gián Nghị Đại Phu. Xa hơn chút nữa là Cụ Sáu, hay Linh Mục Trần Lục. Ngài là một linh mục đa tài và có nhiều công đức đối với dân Kim Sơn, Phát Diệm, nên được bốn triều vua nhà Nguyễn phong tước :

- Năm Tự Đức thứ 32 (1879), vua cải tên cha thành Trần Lục (do tên dân gian gọi thân mật là Cụ Sáu, tên cũ là Trần Triêm) và phong chức “Thanh Tra Phủ Trấn An Thập Tam Tuyên Bắc Kỳ”.

- Năm Đồng Khánh thứ nhất (1885), được phong “Lễ Bộ Tham Tri Khâm Sai Tuyên Phủ Sứ”, trấn an Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

- Năm Thành Thái thứ 11 (1899), phụng chuẩn thực thụ “Trung Phụng Đại Phu Tham Tri Gia Lễ Bộ Thượng Thư Hàm”.

- Năm Khải Định thứ 10 (1925), Cha Trần Lục đã mất cách đó 26 năm, được truy tặng tước “Phát Diệm Nam”, tức Nam Tước Phát Diệm (2).

“Quan” Trần Lục phải được coi là một trường hợp đặc biệt. Nhưng ngoài những trường hợp đặc biệt như trên, chúng ta còn thấy rất nhiều linh mục tham gia hoạt động chính trị hay công quyền, cả phía bên này lẫn phía bên kia. Từ đó nảy sinh vấn đề : Các linh mục có nên “làm quan” để giúp việc bênh vực và phát triển Giáo Hội, hay chỉ nên giữ vị trí thuần túy tôn giáo ? Theo thiển ý, một linh mục nếu thực sự muốn làm quan ngoài đời, phải xin từ nhiệm chức linh mục, vì linh mục không dược chọn và huấn luyện để lo chuyện quyền hành thế tục. Nếu chỉ nhận những chức tước “hàm” để thêm danh dự và uy tín, điều đó không trái với chức vụ linh mục. Vấn đề này cần được nghiên cứu và bàn cãi sâu rộng hơn. Ở đây, tôi chỉ muốn nhìn vấn đề dưới khía cạnh văn hóa. Dưới khía cạnh này, việc linh mục được qúy trọng và coi như hàng quan vừa có tính tiêu cực vừa có tính tích cực. Tiêu cực, nếu vị nào coi đó như một thứ quyền tự nhiên mà mình xứng đáng được hưởng do chức linh mục và do học vấn và tài năng của mình. Trong trường hợp này, sự lẫn lộn giữa thế quyền và thần quyền thường xảy ra. Vị này sẽ thích áp đặt ý muốn của mình trên người khác, thích lợi dụng ưu thế để có những hành động qúa độ trong việc lùa những con chiên ngoài đàn nhập đàn chiên của mình. Thái độ này tiếng Pháp gọi là “Prosélytisme”, là “chước cám dỗ làm điều thiện” (la tentation de faire du bien). Nó không hẳn giống như “mục đích biện minh cho phương tiện”, nhưng là chấp nhận làm bất cứ điều gì, dù tốt hay không tốt lắm, miễn là để “hoằng dương đạo pháp”. Chính chước cám dỗ này đã làm cho Giáo Hội bị ganh ghét và gây nhiều hiểu lầm giữa Công Giáo và các tôn giáo khác.

Tuy nhiên việc linh mục được coi như quan cũng có khía cạnh tích cực nếu biết xử dụng ưu thế và sự được nể trọng để khiêm nhường phục vụ dân chúng nói chung. Thí dụ, nhờ chức Cố Vấn của chính phủ Hồ Chí Minh mà Đức Cha Lê Hữu Từ có thể ngăn cản lệnh tiêu thổ kháng chiến triệt để, chỉ chịu thi hành một phần, nhờ đó nhiều nhà cửa của dân chúng trong vùng không bị phá bình địa như ở những nơi khác (3). Linh mục “quan” Trần Lục còn làm được nhiều việc lớn lao hơn. Sau khi vua Tự Đức thôi cấm đạo, cha liền chiêu tập dân chúng, cả lương lẫn giáo, qui tụ về vùng Phát Diệm, lấy lại các công tư điền thổ bị truất hữu trong thời cấm đạo phát cho dân cầy. Cha cho đào sông Ân Giang chạy suốt bề ngang huyện Kim Sơn, lấy đất đắp thành đường số 10 hiện nay (4). Sau khi dân chúng đã an cư lạc nghiệp, ngài đặt kế hoạch dài hạn xây cất khu thánh đường Phát Diệm dài 200 thước tây, rộng 115 thước, với một quần thể kiến trúc gồm ao hồ, tượng đài, núi đá, phương đình, nhà thờ lớn và năm nhà thờ nhỏ vây quanh. Những kiến trúc này có hình thái đặc biệt Việt-Nam với những mái cong giống như hình khắc trên các trống đồng Đông Sơn, với những phù điêu và những hình trạm trổ rồng phượng. Nếu không có những cây thánh gía trên nóc mái, người ta có thể nghĩ đây là những đền chùa hay cung điện nhà vua. Việc làm này là hành vi văn hóa ở mức độ cao. Nó còn có ý nghiã Việt-Nam hóa đạo Công Giáo, đem đạo hòa nhập với nếp sống và truyền thống Việt-Nam, giúp con người Việt-Nam cảm thấy gần gũi với đạo Chúa.

Không phải linh mục nào cũng là Cụ Sáu Trần Lục và cũng không ai dám đòi hỏi mỗi linh mục đều phải là một Cụ Sáu. Hầu hết các linh mục đã âm thầm và kiên nhẫn từng ngày để khai mở tâm trí cho quần chúng, giúp đỡ họ nhiều việc cả đạo lẫn đời, tạo không khí thương yêu trong cộng đồng, khuyến khích họ sống Đức Tin một cách hài hòa với văn hóa dân tộc.

Tôi còn nhớ một tấm gương sáng mà một vị linh mục đã để lại trong tâm trí tôi từ khi tôi còn rất nhỏ. Vào năm Ất Dậu 1945, nạn đói hoành hành tại vùng đồng bằng Bắc Việt khiến trên hai triệu người chết. Làng tôi tuy chỉ cách thành phố Nam Định 10 cây số cũng không thoát khỏi nạn đói. Mỗi tối, những người tự cảm thấy không còn sống thêm được nữa cố lết tới nhà thờ để dọn mình chết lành. Cha xứ, tôi còn nhớ tên ngài là Cha Hiểu, luôn có mặt để an ủi và giúp đỡ phần hồn. Khẩu phần bữa tối của cha chỉ có một bát cơm. Cha ăn vài miếng đủ sống cầm hơi. Phần còn lại cha nắm thành vài nắm nhỏ, bỏ trong túi áo dài thâm và ngồi tòa giải tội. Khi thấy một cụ già hay một trẻ em gần hết hơi vào xưng tội, cha kín đáo cho một nắm cơm để người đó tìm lại chút sức lực. Một số người không Công Giáo cũng tìm đến nhà xứ xin ăn vì đói qúa. Cha xuống bếp thấy còn thứ gì là phát cho dân thứ đó. Sau nạn đói, khi con chiên lại được no bụng thì chủ chiên bị suy nhược vì đã chia xẻ phần ăn khiêm tốn của mình cho người khác. Một cơn sốt định kỳ rất nhẹ đã đủ để đưa cha rời khỏi cõi đời. Đám tang của cha có hàng ngàn người tham dự, trong khi số giáo dân chỉ có vài trăm. Điều đặc biệt là hầu như toàn thể những người đi tiễn đưa cha, kể cả lương lẫn giáo, đều chít khăn trắng trên đầu, miệng mếu máo khóc : Cha ơi !

Sống như vị linh mục này đâu có cần quan tước, đâu có cần quyền hành và của cải trần gian, mà vẫn được mọi người yêu mến, kính trọng và nhớ ơn. Những tấm bia trong lòng người mới qúi giá và bền vững hơn những lăng mộ, tượng đài chỉ nhằm mục đích phô trương và bợ đỡ. Chia xẻ cuộc sống và nỗi chết với dân như cha xứ cũ của tôi trên đây, ngoài việc thể hiện tinh thần Ki-Tô giáo, còn là kiến tạo một lối sống, một sự tương quan huynh đệ giữa những con người. Đó chính là việc góp phần làm cho nhân loại trở nên tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn.

LINH MỤC LÀ MỘT ÔNG THẦY

Một tôn giáo với đúng nghiã của nó là một kho tàng tâm linh của toàn thể nhân loại, không có biên giới không gian và thời gian. Vì vậy, công việc giảng đạo của một linh mục tự nó đã là một hành động giáo dục. Linh mục là một ông thầy, cũng giống như Chúa Ki-Tô xưa kia được gọi là Thầy khi Ngài đi rao giảng. Muốn xứng đáng làm thầy phải có hai điều kiện: một là phải giỏi về môn mình dạy, hai là phải thực hành những điều mình dạy. Tức là phải sống như nhân chứng. Nếu theo quan niệm ngày nay, ông thầy chỉ bán kiến thức và để học trò hiểu rằng “chỉ nên nghe những gì ta nói và đừng bắt chước những gì ta làm”, thì không mấy ai còn tin tưởng vào thầy và sống theo những lời thầy dạy nữa. Cuộc khủng hoảng Đức Tin trong thời đại chúng ta, ngoài rất nhiều lý do, phải chăng còn một lý do nữa là người ta đã giảm bớt lòng tin nơi các ông thầy linh mục? nhất là khi có những ông thầy không thực hành phần hai của sứ mạng ông thầy?

Bước qua lãnh vực đời, tức cải thiện đời sống con người, phải công nhận rằng các linh mục, ngoài việc giảng đạo, còn làm công việc khai mở kiến thức cho những người dân không có đủ những hiểu biết cần thiết. Trong những xứ đạo xa xôi, giữa những vùng quê hẻo lánh, các linh mục dạy cho dân biết quyền lợi và bổn phận của người công dân, biết sống hợp vệ sinh, tránh mê tín dị đoan, từ bỏ hủ tục và thói hư tật xấu, tôn trọng lệ làng phép nước. Nhất là linh mục còn cố gắng mở lớp xây trường mỗi khi có thể để trẻ em trong vùng có cơ hội học hành và thăng tiến trong cuộc đời.

Tại những nơi thị tứ, các trường Công Giáo hiện diện khắp nơi, từ trường phổ thông tới trường chuyên nghiệp, từ mẫu giáo đến đại học, cụ thể là trường đại học Đà-Lạt với Cha Nguyễn Văn Lập làm viện trưởng đầu tiên và viện đại học Minh Đức Sài-Gòn mà Cha Bửu Dưỡng là vị sáng lập và viện trưởng.

Về các linh mục giáo sư, tôi chỉ xin kể một cách không đầy đủ những vị dạy trong ngành giáo dục công trước 1975. Đa số các vị là giáo sư triết học và văn học : các Cha Bửu Dưỡng, Kim Định, Trần Thái Đỉnh, Vũ Đình Trác, Nguyễn Văn Thích, Lê Văn Lý, Cao Văn Luận, Trần Văn Hiến Minh, Thanh Lãng Đinh Xuân Nguyên v.v... Đặc biệt Cha Hoàng Quốc Trương là một giáo sư sinh vật học. Cha đã giữ chức khoa trưởng Đại Học Khoa Học Sài-Gòn. Các vị thày đích thực này đã đào tạo nhiều thế hệ trí thức Việt-Nam. Trong số những vị tôi vừa kể, có nhiều vị là thầy của tôi tại Đại Học Văn Khoa Sài-Gòn vào đầu thập niên 60 như các thầy Nguyễn Văn Thích, Lê Văn Lý, Thanh Lãng. Tôi nhắc tên các thầy như một lời tri ân và niềm tưởng nhớ vì hầu hết các vị đã về nước Chúa.

Ngoài những ông thầy linh mục dạy tại những trường công nói trên, còn biết bao linh mục khác có mặt trong các trường tư thục Công Giáo để điều hành và dạy dỗ thanh thiếu niên. Nền giáo dục Công Giáo đã đào tạo rất nhiều nhân tài cho đất nước, kể cả những người không Công Giáo. Đó cũng là lý do tại sao người Công Giáo chỉ chiếm khoảng 10% dân số mà lãnh vực nào cũng có mặt, giữ nhiều chức vụ chỉ huy. Điều này đã gây nên sự ghen tị nơi một số người. Có lẽ họ ghen tị vì qúa quan tâm tới quyền lợi của riêng mình hơn là nhận ra thiện tâm đóng góp cho Tổ Quốc của những người công dân Công Giáo. Con đường tiến thân và đóng góp hữu hiệu nhất chính là học vấn. Con đường này không đóng cửa ai.

Vai trò truyền đạt và phát huy văn hóa còn nằm trong tay những người viết. Những tác phẩm nghiên cứu và thơ văn của họ đến với quần chúng như những món ăn tinh thần để làm phong phú kiến thức và tình cảm. Đối với nhiều linh mục có khiếu cầm bút, văn chương còn là một phương tiện rao giảng về Chúa và giáo dục quần chúng. Tôi không có ý định liệt kê đầy đủ những tác phẩm của các tác giả linh mục. Muốn làm vậy, chúng ta phải xuất bản một cuốn thư mục rất dầy. Tôi chỉ xin nói tới một số linh mục đã dùng văn chương để giảng đạo ngay trong thời kỳ khai sáng của Giáo Hội Việt-Nam.

Đạo Công Giáo bắt đầu truyền vào nước ta từ năm 1533, tức thế kỷ 16, đời vua Lê Trang Tôn. Thời gian đầu, các linh mục thừa sai ngoại quốc lo việc tìm hiểu và thích ứng với phong tục và ngôn ngữ Việt-Nam. Nhờ đó, các ngài đã sáng chế ra chữ Quốc Ngữ viết theo mẫu tự La-Tinh mà người có công nhiều nhất là Cha Đắc-Lộ (Alexandre de Rhodes). Dù ưa hay không ưa Công Giáo, ai cũng phải công nhận chữ Quốc Ngữ mà cả nước Việt-Nam đang dùng là một đóng góp qúy giá cho văn hóa và sự tiến bộ của dân tộc Việt-Nam.

Vị linh mục Việt-Nam đầu tiên có lẽ là Cha Lữ-Y Đoan (Louis Đoan). Ngài gốc Quảng Nam, nhưng giảng đạo tại miền Hậu Giang, chịu chức linh mục năm 1676. Điều đặc biệt đáng nói là ngài đã dịch Thánh Kinh sang tiếng Việt bằng 3,596 câu thơ lục bát. Ngài dịch phần đầu của sách Sáng Thế Ký và bốn sách Tin Mừng Tân Ước, góp chung gọi là Ngũ Kinh. Ngài vừa có tài dịch ý lại có tài dịch thanh rất khéo. Thí dụ tháp BABEL được dịch là BÁ BIỆN. Cha dịch bộ sách này vào năm 1672. Nay còn một bản sao bằng chữ Quốc Ngữ được lưu trữ tại tòa Tổng Giám Mục Sài-Gòn (5).

Một cây viết đặc biệt khác cũng xuất hiện vào thế kỷ 17. Theo bút tích của Linh Mục Phi-Líp-Phê Bỉnh (1759-1832) kể chuyện 100 năm trước cha, thì khi Linh Mục Dòng Tên Girolamo Majorica giảng đạo ở đàng ngoài vào thế kỷ 17, ngài đã thuyết phục được một hòa thượng Phật Giáo theo đạo Công Giáo. Cha đã rửa tội cho vị hòa thượng này và đặt tên thánh là Phan-Chi-Cô. Hòa thượng, sau khi theo đạo, xin ở tu luôn trong nhà dòng. Trước khi rời bỏ thế sự để vào chùa tu, thầy là một quan văn rất giỏi chữ nghiã. Khi ở trong nhà dòng với các cha, thầy viết lại các kinh nguyện từ chữ La-Tinh sang chữ Nho. Đó là những bài kinh vãn đọc lên nghe rất Việt-Nam, phảng phất âm hưởng kinh kệ tại các đền chùa, thí dụ : “Phục dĩ Chí Tôn, Chân Chúa cửu trùng, cao ngự chi thiên...” (6).

Một chuyện đáng ngạc nhiên khác mà ít người biết là Thánh Phi-Líp-Phê Phan Văn Minh (1815-1853), linh mục tử đạo, cũng là một nhà thơ Quốc Âm. Khi còn học ở Penang, Mã Lai, Thánh Minh đã lập một hội thơ được đặt tên là Thi Đoàn Phi-Năng. Trong lời phi lộ Phi-Năng Thi Tập viết ngày 25-12-1842 bằng chữ Quốc Ngữ, Thánh Minh đã xướng bài thơ khai hội để mời các thi hữu khác họa :

GIA TÔ CƠ ĐỐC

Gia Tô Cơ Đốc đấng Con Trời

Đặc cách lâm phàm cứu khắp nơi

Chẳng lấy lợi danh mà tạo nghiệp

Không dùng vương bá để xây đời

Vâng lời Thiên Mệnh đành thân diệt

Gánh tội nhân gian chịu máu rơi

Dĩ nhược thắng cường mệnh chứng tỏ

Kiếp sau hiện hữu sống muôn đời. (7)

Đây là một bài thơ hay, nói về Chúa Ki-Tô. Mười một năm sau, tác giả chịu tử vì đạo, làm chứng cho Đức Tin của mình.

Xin kể thêm một nhà thơ linh mục nữa: lại là Cụ Sáu Trần Lục. Ngoài tài giúp dân khai hoang lập ấp và xây cất những công trình vĩ đại, Cha Trần Lục còn có thêm tài làm thơ. Những câu thơ dùng để dạy dỗ bổn đạo được viết rất trong sáng, dễ hiểu, thường được gọi là Vè Cụ Sáu. Cụ Sáu viết 3 tác phẩm. Mỗi tác phẩm có từ 440 đến trên một ngàn câu thơ lục bát và song thất lục bát. Chúng tôi xin trích vài câu tiêu biểu trong 3 tác phẩm của Cụ Sáu Trần Lục để chúng ta cùng thấy tài của Cụ:

HIẾU TỰ CA là tập thơ dạy người ta phải có hiếu và biết ơn cha mẹ :

Phần hồn thì Chúa sinh ra

Xác này Chúa phó mẹ cha sinh thành

Phụ tinh, mẫu huyết đúc hình

Cho ta toàn vẹn mà sinh làm người

 

Trong NỮ TẮC PHÉP THƯỜNG, tác giả dạy phụ nữ về công, dung, ngôn, hạnh:

Hình dong nhan sắc vui tươi

Nói thưa nhuần nhã những lời hòa nhu

NỊCH ÁI VỌNG ÂN dạy vợ chồng cách ăn ở và trung thành với nhau :

Thảo kính cha mẹ hai bên

Họ hàng kẻ dưới người trên tôn nhường

Phép vợ chồng một xương một thịt

Đền công ơn sống chết cùng nhau ...

*

Ăn riêng mỗi đứa một niêu

Chia con chia của lắm điều xấu xa

Thật là tan cửa nát nhà

Khổ mình đã vậy mẹ cha cực nhiều... (8)

Những vần thơ trên đây dù không thể so sánh với thơ của Nguyễn Du, Ôn Như Hầu hay Đoàn Thị Điểm, nhưng chúng có tác dụng giáo dục, dễ đi vào lòng người, dễ học, dễ nhớ trong thời buổi mà đa số dân quê còn mù chữ. Ông thầy Trần Lục đã làm một công việc rất sáng suốt và hữu ích.

Qua những điều trình bày trên, chúng ta khó có thể phủ nhận vai trò truyền đạt, bảo tồn và phát huy văn hóa của các linh mục. Linh mục vừa được trọng như quan, vừa được coi như thầy, nên có nhiều lợi thế để thay đổi tâm hồn con người và cải tiến xã hội. Chỉ mong sao vai trò của ông thầy sẽ lấn lướt vai trò của ông quan. Ông thầy linh mục chắc chắn được yêu qúy hơn ông quan linh mục. Hình ảnh ông thầy khả kính cũng rất gần với hình ảnh một mục tử, lặn lội dẫn đoàn chiên đi qua những núi cao, vực sâu, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đoàn chiên, chỉ với ước vọng đoàn chiên tìm đến được vùng thung lũng có cỏ xanh và suối mát.

GHI CHÚ

(1) NGUYỄN THÁI HỢP,O.P., Một nửa hành trình, tr 167, Chân Lý, 1997.

(2) (4) (8) Xem “Trần Lục” của nhiều tác giả, xuất bản tại Montréal 1996.

(3) Kỷ Yếu Phát Diệm 1891-1991, tr 207. Xuất bản tại Hoa Kỳ 1992.

(5) Theo “Dẫn nhập nghiên cứu tiếng Việt và chữ Quốc Ngữ” của VÕ LONG TÊ, các trang 49, 104. Định Hướng Tùng Thư, Pháp, 1997.

(6) (7) VÕ LONG TÊ, sách đã dẫn, các trang 21, 51, 52.


Tác giả: Mặc Giao
   dunglac@gmail.com