Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Mặc Giao
macgiao@shaw.ca
Bài Viết Của
Mặc Giao
Tương quan trách nhiệm của người giáo dân đối với Quốc Gia và Giáo Hội
Những sai lạc trong tiểu thuyết " Tha Da Vinci Code"
CÁCH CƯ XỬ CỦA NGƯỜI XƯA

      Tháng Giêng ăn Tết ở nhà  
      Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè
      Tháng Tư đong đậu nấu chè  
      Ăn Tết Đoan Ngọ trở về tháng Năm  
      Tháng Sáu buôn nhãn bán trăm  
      Tháng Bẩy ngày rằm xá tội vong nhân  
      Tháng Tám chơi đèn kéo quân  
      Trở về tháng Chín chung thân buôn hồng  
      Tháng Mười buôn thóc bán bông  
      Tháng Một, tháng Chạp nên công hoàn toàn.  

Bài ca dao trên làm chúng ta có cảm tưởng dân Việt ngày xưa sống sung sướng qúa! Làm ăn buôn bán thì nhẹ nhàng, quanh năm chỉ nghĩ tới việc thưởng thức của ngon vật lạ và chỉ chú tâm tới hội hè, lễ tết: hết Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng Năm) tới Tết Trung Thu (rằm tháng Tám), rồi dồn cao điểm cho Tết Nguyên Đán để ăn chơi, cờ bạc, đình đám suốt ba tháng đầu năm. Những sự việc xảy ra như bài ca dao diễn tả đều có thật, nhưng không phải ai cũng được hưởng như vậy. Người nào được hưởng vài mẩu của những thú kể trên đã là sung sướng lắm rồi. Toàn bộ chỉ là một giấc mơ, giấc mơ của một dân tộc cần cù nhưng cũng biết hưởng nhàn và rành thú ăn chơi, một giấc mơ để làm quên đi cái lam lũ của đời thường:  

      Tháng Giêng là tháng ăn chơi  

      Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà  

      Tháng Ba thì đậu đã già  

      Ta đi ta hái về nhà phơi khô  

      Tháng Tư đi tậu trâu bò 

      Để ta sắp sửa làm mùa tháng Năm..  

Nhưng ngoài việc tả giấc mơ của một năm sinh hoạt, bài ca dao cũng có tác dụng như một cuốn lịch để ghi nhớ mùa nào thức nấy và những lễ tết quanh năm. Sau ba tháng du xuân thì có chè đậu ăn cho mát ruột vào tháng Tư đầu mùa Hạ. Tháng Năm ăn cơm rượu nếp để “giết sâu bọ” vào Tết Đoan Ngọ. Tháng Sáu có nhãn lồng, nhãn tiến (nhãn ngon ở Hưng Yên để tiến vua, giống như chuối ngự ở Nam Định). Ngày rằm tháng Bẩy có xôi thịt và cháo hoa cúng cô hồn và có lễ Vu Lan. Tháng Tám chơi đèn kéo quân thì phải có cỗ trông trăng và bánh trung thu. Tháng Chín có hồng ngâm, hồng dòn, hồng bở. Tháng Mười có cơm gạo mới... Cuốn lịch quanh năm này không phải chỉ có mục đích ghi nhớ và kể những loại hoa trái và món ăn cho thiên hạ thèm. Nó còn có một tác dụng khác rất có tính nhân bản và nói lên lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ. Đó là nhắc nhở con cái dâng miếng ngon miếng ngọt, mùa nào thức nấy cho cha mẹ già để bù đắp những ngày kham khổ dưa cà mắm mặn. Theo tục lệ xưa, trừ những người qúa nghèo khổ, con cái thường mua biếu cha mẹ những hoa trái đầu mùa, Tết Đoan Ngọ phải biếu cơm rượu, rằm tháng Tám phải biếu bánh trung thu, mùa gặt mới phải biếu xôi, biếu gạo, không kể Tết Nguyên Đán phải sắm sửa và dâng những lễ vật qúi giá và phong phú nhất.. Cha mẹ về già không có tiền hưu dưỡng. Họ làm lụng vất vả một đời để nuôi dậy con cái, dựng vợ gả chồng cho chúng, giúp chúng tạo lập cuộc đời riêng. Khi về già cha mẹ được con báo hiếu, được phụng dưỡng, được kính nể, được thương yêu, có con cái, dâu rể, cháu chắt vây quanh. Tuổi già không cô đơn, nhưng phải hoàn toàn trông cậy vào con cháu: “Trẻ cậy cha, già cậy con”.  

Chẳng cứ những dịp lễ tết, suốt quanh năm, những người con có hiếu luôn luôn tìm mọi cơ hội để làm vui lòng cha mẹ. Người dân giả thì chăm chút cho cha mẹ từng bát canh rau:  

      Có con mà gả chồng gần  

      Có bát canh cần nó cũng bưng sang  

Có bị mẹ sửa phạt cũng không dám kêu trách, chỉ biết van xin và nói lên tấm lòng của mình đối với mẹ:  

      Má ơi đừng đánh con đau  

      Để con bắt cá nấu rau má xài  

      Má ơi đừng đánh con hoài 

      Để con bắt ốc nấu xoài má ăn.  

Bậc quan quyền phú qúi thì kiểu cách hơn trong việc bầy tỏ lòng hiếu thảo. Ta hãy đọc một đoạn văn của Chu Thiên, tả cảnh hai vợ chồng quan Án và người chị (bà Bá) kéo nhau vào vấn an mẹ già vào buổi sáng khi vừa thức dậy:  

“Tiếng bà cụ ở trong màn hỏi ra:  

Ai?  

Thưa mẹ con đây ạ!  

Nói rồi, ngài quay ra, bảo hai bà cùng vào.  

Ngài bưng ấm chè vừa pha, bà Bá bưng chén chè nóng vừa rót đang bốc khói lên ngùn ngụt, còn bà Án hai tay bưng chậu thau nước đầy...Ba người bước vào phòng... Cỗ màn đều vắt lên. Bà cụ cố, ngồi ở trong cười hỏi:  

Các con đã dậy cả rồi kia à? Hôm qua thức khuya sao không ngủ trưa một chút cho khoẻ?  

Quan Án nói:  

Chúng con vừa dậy, vội rủ nhau vào thăm mẹ, xem hôm qua mẹ ngủ có ngon giấc không. Rước mẹ lấy nước xúc miệng rồi rửa mặt ạ.  

Quan Án đỡ lấy chén nước ở tay bà Bá để xuống giường. Cụ cố cầm lấy chén nhắp một ít xúc miệng rồi nhổ ra cuối giường; lúc quay lại trông thấy bà Án còn bưng chậu nước, cụ vội nói:  

Chết! Con để vào giường này cho mẹ. Đã bảo để trẻ nó lấy cho, không thì tôi xuống nhà tôi rửa cũng được, nó phiên phiến thì thôi, các anh các chị cứ vẽ ra.  

Bà Án vội thưa:  

Dạ thưa mẹ, chúng con chỉ mong được hầu mẹ mãi như thế này. Mẹ già rồi, đi lại lẫm cẫm, thì bổn phận chúng con phải cơm bưng nước rót. Thưa mẹ đêm qua mẹ ngủ được nhiều không ạ?...  

Sau cùng bà Án hỏi bà cụ:  

Thưa mẹ, hôm nay mẹ thích ăn thức gì, mẹ bảo để chúng con kiếm.  

Bà cụ vội chối:  

Thôi! Thôi tôi xin các mợ, không vẽ vời gì cả, tôi ăn thế nào cũng được, đừng lôi thôi. Cơm vàng mắm mặn đủ no là được rồi.  

Quan Án nói:  

Thưa mẹ, mẹ một tuổi một già, phải có miếng ngọt miếng ngon, để mẹ ăn nhiều cơm mới sống lâu được chứ. Mẹ chịu kham khổ mãi rồi!  

Chẳng ngon ngọt thì đừng, đã chết ngay đấy mà sợ!  

Bà Án cũng tươi cười nói:  

Nhưng thưa mẹ, chúng con mong tìm thức ngon ngọt mẹ xơi, còn thừa chúng con kiếm miếng chứ.  

Mọi người đều cười...” (Nhà Nho của Chu Thiên)  

Đúng là để tỏ lòng hiếu kính, con cái phải tìm miếng ngon miếng ngọt dâng cha mẹ. Cha mẹ có nhận hay không là chuyện khác, nhưng lúc nào cũng muốn được thấy con cái quan tâm tới mình, muốn làm đẹp lòng mình:  

      Chẳng được miếng thịt miếng xôi

      Cũng được lời nói cho tôi vừa lòng.  

Lời nói cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đối xử với nhau: “Nói ngọt lọt đến xương”. Người xưa rất cẩn trọng trong khi nói năng. Nhiều khi họ rào đón qúa kỹ đến trở thành khách sáo. Nhưng trong mọi trường hợp, người nói phải tỏ lòng kính trọng đối với người đối thoại, dù có chửi khéo hay nói xỏ nói xiên. Cũng ông quan Án trong truyện của Chu Thiên, ngoài việc có hiếu với mẹ, ông còn tỏ ra trân trọng rất mực khi viết thư cho bà vợ hai đang sống ở quê nhà:  

“Gió thu mát, nước thu trong, trăng thu đẹp, đối cảnh thu, ta ở ngoài ngàn dặm chạnh nhớ tới hiền thiếp nơi quê một mình gánh vác bao công việc. Ở ngoài này, chốn cầm đường tuy bận việc, mà nhà linh ngữ vẫn vắng không. Đây là điều ta hằng mong mỏi. Trên mẹ già ơn trời vẫn khỏe mạnh vui tươi, dưới con cái, nhờ đất cũng chuyên cần hiếu nghiã. Cả nhà đông đủ, mỗi bữa cơm lại nhớ đến hiền thiếp... Ta và chị cả vẫn an khang như trước. Giấy ngắn tình dài, khôn nói hết nỗi niềm thắm thía. Ý giầu lời ít, để ghi đầy một kính tin. Nhân cho trẻ Tuyết về vui dưới gối, nên có chút qùa thường gọi là Quí vị Tế Quân. Sau nữa nhờ hiền thiếp bảo anh Tuấn bớt ít ngày ra ngoài này, ta cậy chút việc. Ra sớm được càng hay. Dư bất tuyên”  (Chu Thiên) .  

Đang ở với bà lớn mà quan “tán” bà nhỏ bằng những lời lẽ “mùi” như thế này thì chắc bà nhỏ phải cảm động phát khóc, hết dám ghen tương, chàng bảo em nhảy xuống sông em cũng nhảy.  

Cũng theo cung cách ăn nói của người trọng lễ nghiã, anh đồ Nguyễn Khắc Mẫn đã viết thư mời bạn Vân Hạc đến chơi bằng những lời lẽ như sau: “...Hơn một tháng nay, không được gặp anh, cỗ kiệu đã mốc, bàn cờ đã bị cát bụi phủ đầy. Tôi vẫn khao khát tôn nhan, như lúc nắng cạn khao khát trận mưa rào vậy. Nay nhân dậy sớm, ra thăm vườn hoa, thấy một giò lan bạch ngọc mới nở, sự khao khát ấy lại càng bồn chồn. Vậy xin anh hãy phí một chút quang âm, tạm dời gót ngọc đến túp lều tranh; ta cùng xem hoa nở, nghe chim hót, để tiêu ngày dài của mùa hè. Tôi đương quét lối “hoa rụng” đợi anh, mong rằng anh đến ngay cho...”  (Lều Chõng của Ngô Tất Tố).  

Quét hoa rụng trên lối đi để chờ bạn đến. Thật không có hình ảnh nào đẹp hơn và cũng không có lời lẽ nào khách sáo hơn!  

Ngưòi bình dân tuy ăn nói giản dị, không kiểu cách, nhưng vẫn phải giữ mồm giữ miệng, thí dụ không nói tới những gì được coi là dơ dáy khi đang ăn. Vì thế mới có  chuyện một cô gái mới về làm dâu, tới bữa ăn phải ngồi đầu nồi bới cơm cho cả nhà. Giữa bữa, cô đứng dậy toan bỏ đi. Bà mẹ chồng hỏi: “Đang bữa ăn mà chị Cả đi đâu đấy?”  Nàng dâu bèn khoanh tay lễ phép thưa:  

      “Trình cha, lậy mẹ, thưa chồng

        Con đi tháo nước trong lòng con ra”

 Không phải người bình dân nào cũng biết trả lời bằng thơ như cô dâu trẻ nói trên, nhưng họ phải học cách ăn nói làm sao để không gây giận dữ hay hiểu lầm cho người khác, vì “xẩy chân dễ chữa, xẩy miệng khó chữa”. Khi nói với những người bậc trên trong giòng tộc và những người lớn tuổi hơn mình, phải thưa gửi lễ phép, xưng hô cho xứng bậc, không có kiểu gọi tất cả mọi người bằng anh này chị kia, đồng chí đồng chéo tuốt luốt. Vô lễ là vô văn hóa. Lời nói làm đẹp lòng người cũng có tác dụng đem lại hòa khí, thân thiện và thương yêu  

      Lời nói chẳng mất tiền mua

      Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.  

Đối với bạn bè, các cụ ngày xưa cũng cư xử với nhau chí tình. Dù vậy, trong cách giao tiếp, vẫn có sự cẩn trọng, không xuồng xã. Gặp tiết xuân mát mẻ, cụ Cử muốn đi thăm cụ Phó Bảng ít ngày để cùng ngắm hoa, thưởng nguyệt, xướng họa thơ xuân và đối ngâm, đối ẩm. Cụ mang theo vài chai rượu nếp cái xủi tăm và một túi gạo tám soan thơm lừng để góp với bạn. Cụ Phó Bảng không thiếu những thứ này, nhưng cụ Cử không muốn bị mang tiếng là đi ăn nhờ bạn. Ngay trong những bữa cơm rượu được dọn lên hầu các cụ với tất cả lòng thành của gia chủ, khách vẫn ăn uống từ tốn, thanh cảnh, chỉ vừa lưng bụng cho khỏi đói, không muốn mang tiếng là đến thăm bạn để ăn uống gỡ. Nói về chuyện kiếm thức ăn đãi khách, cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã có bài thơ diễu cợt:  

      Đã bấy lâu nay bác đến nhà

      Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa

      Ao sâu nước cả khôn chài cá

      Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà

      Cải chưa ra hoa, cà chưa nụ

      Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa

      Đầu trần tiếp khách trầu không có

      Bác đến chơi đây ta với ta!  

Không biết cụ Tam Nguyên muốn diễu người bạn “làm khách”, không chịu ăn uống thật tình, hay muốn “xỏ ngọt” người cụ không muốn tiếp mà cứ dẫn xác đến? Dù sao lối ăn uống thanh cảnh của các cụ ngày xưa đã trở thành một tập tục, vừa chứng tỏ tư cách thanh cao, khác với hạng phàm phu tục tử, vừa do hậu qủa của tình trạng kinh tế nông nghiệp nghèo nàn. Có miếng bỏ bụng đã là qúy. Khi có những miếng ngon miếng lành thì chỉ ăn lấy hương lấy hoa, nhưng phải theo một thứ tự phân chia có trên có dưới: “nhất thủ nhì vĩ”. Chẳng thế mà những anh có nhiệm vụ chia phần thịt xôi ở đình làng phải là những chuyên viên băm, chặt để làm cho miếng nào ra miếng nấy, phần nào ra phần nấy. Ngô Tất Tố kể truyện một tay nghề có thể chia một con gà luộc làm 9 cỗ, 5 cỗ có mỏ, 4 cỗ có phao câu, với 92 miếng chặt thật đều đặn:  

“Trước hết hắn ghè dao vào giữa hai miếng mỏ gà, để cắt cái sỏ ra làm hai mảnh. Rồi hắn úp cả đôi mảnh xuống thớt, chặt mảnh mỏ dưới làm đôi và mảnh mỏ trên làm ba..., miếng nào cũng có dính một tí mỏ.  

Tiếp đến cuộc pha phao câu... Bốn miếng phao gà, miếng nào cũng có đầu bầu, đầu nhọn, chẳng khác một cái chũm cau chẻ tư. Hắn cắt lấy hai chiếc cánh gà, chặt luôn làm hơn mười miếng và bầy với đôi chân gà làm một điã nữa.

 Bây giờ thì đến mình gà. Hắn lách lưỡi dao vào sườn con gà, cắt riêng hai cái tỏi và bỏ ra góc mâm. Rồi lật ngửa con gà lên thớt, hắn ướm dao vào giữa xương sống và giơ dao chém luôn hai nhát theo chiều dài cái xương ấy. Con gà bị tách ra làm hai mảnh. Mỗi mảnh đều có một nửa xương sống. Một tay giữ thỏi thịt gà, một tay cầm con dao phay, hắn băm lia lịa như không chú ý gì hết. Nhưng mà hình như tay hắn đã có cỡ sẵn, cho nên con dao của hắn giơ lên, không nhát nào cao, không nhát nào thấp...Tiếng dao công cốc đụng vào mặt thớt, nhịp nhàng như tiếng mõ của phường chèo, không lúc nào mau, cũng không có lúc nào thưa. Mỗi tiếng cốc là một miếng thịt băng ra. Miếng nào như miếng ấy, đứt suốt từ xương đến da, không còn dính nhau mảy may.  

Trông những miếng thịt của hắn bốc ra góc mâm mới đẹp làm sao! Không dập, không nát, không bong da, nó giống như tập cánh con bươm bướm. Nếu để trước môi mà thổi, có thể bay được mười thước” (Tập Án Cái Đình của Ngô Tất Tố).  

Được hưởng phần xôi thịt ở đình làng là một niềm hãnh diện: “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” vì chỉ có các cụ trong hội đồng kỳ mục và các hương lý, kỳ hào mới được chia phần. Nhiều cụ khi ăn cỗ ở đình làng, chỉ nhấm nháp qua loa vài miếng, rồi lấy lá chuối hay lá dong gói phần mình đưa về cho các cháu đang đợi ở nhà. Mỗi khi ông ra đình ăn cỗ hay nhận phần, các cháu khấp khởi mừng thầm, thức khuya chờ ông để được chia miếng xôi bằng qủa cau và miếng thịt gà “nếu để trước môi mà thổi có thể bay được mười thước”. Miếng xôi thịt tuy nhỏ bé, nhưng đối với những đứa trẻ hàng ngày chỉ biết cơm rau mắm thì đó là một bữa đại tiệc mà chúng nôn nả đợi chờ.  

Một cách cư xử khác rất đẹp trong xã hội Việt Nam xưa là cách cư xử của học trò đối với thầy. Sách Nho dậy phép Tam Cương (quân, sư, phụ), phải tôn kính và tri ơn vua, thầy dậy và cha. Nhớ bổn phận lễ tết thầy quanh năm là việc thông thường. Khi thi đỗ, phải đến tạ ơn thầy. Khi nhà thầy có biến cố hoặc tang ma, học trò phải chia nhau đóng góp chi phí. Khi thầy qúa vãng, hội đồng môn phải làm ma và học trò phải để tang thầy. Từ vua quan đến thường dân, khi đến thăm thầy đều phải cung kính giữ địa vị học trò như “ngày xưa còn bé”, không được nghênh ngang ỷ quyền cao chức trọng. Ngoại sử kể việc vua Lê Hiến Tông (1497-1504) khi còn là thái tử là học trò của quan đại thần Nguyễn Bảo (còn gọi là cụ Nghè Châu Khê). Khi vua lên ngôi thì quan đã về nghỉ hưu tại làng Trì Lai, Thái Bình. Nhà vua nhớ đến thầy học cũ, quyết định đi thăm thầy. Được tin, chức dịch địa phương định tổ chức lễ đón vua thật long trọng. Nhưng nhà vua lại truyền cho họ không được đón rước gì cả, để yên cho ngài được vi hành đến nhà riêng cụ Nghè Châu Khê. Nhà vua cung kính thăm thầy và được thầy đãi một bữa cơm dân dã với bát canh cua đồng là món chính. Nào ngờ vị hoàng đế ăn ngon miệng và cung kính thưa:  

Con vô cùng hạnh phúc vì được gặp thầy, được thầy ưu ái cho con ăn bát canh cua đồng đậm đà hương vị đồng quê, dẫu sơn hào hải vị chốn cung đình cũng chẳng thể sánh tày. (theo Giai Thoại Dân Gian Việt Nam do Kiều Văn soạn).  

Chu Thiên kể chuyện quan Hoàng Giáp Nguyễn Đức Tâm có người học trò đã đỗ tiến sĩ, gọi là Nghè Tiến, muốn rẫy vợ cũ để cưới vợ mới. Quan Hoàng Giáp hay tin, ngài cùng với một số học trò lớn tuổi đã thành danh đích thân về làng của Nghè Tiến hỏi tội. Ngài cho gọi vợ chồng Nghè Tiến đến, bắt Nghè Tiến công khai xin lỗi và lậy vợ. Nghè Tiến răm rắp làm theo. Lúc Nghè Tiến quay sang lậy thầy cũ để tạ tội và đội ơn thì thầy không nhận, lại còn ra lệnh cho một học trò khác:

       - Anh Bảng Tuân đâu, anh lấy danh nghiã nhà nho nọc anh Tiến ra tạm đánh cho tôi ba roi: roi thứ nhất bảo anh ấy nhớ đạo Thánh Hiền, roi thứ nhì gỡ thanh danh cho trường ta. Roi thứ ba: rửa nhục cho khoa giáp. Xong việc ta về! (trích Nhà Nho).  

Thế là quan Nghè Tiến ngoan ngoãn nằm sấp chịu đòn của bạn đồng môn theo lệnh thầy. Đọc chuyện này, chúng ta nghĩ gì về những vụ chặn đường đánh thầy và tạt át xít cô giáo tại quê hương “xã hội chủ nghiã” ngày nay?  

Sau khi phác họa đôi nét về cách cư xử của người xưa đối với cha mẹ, vợ chồng, bạn bè, làng nước, thầy trò, chúng ta thử tìm hiểu xem các cặp trai gái yêu nhau đối xử với nhau ra sao vào thời xưa. Những tác phẩm như Lều Chõng, Tập Án Cái Đình của Ngô Tất Tố, Bút Nghiên, Nhà Nho của Chu Thiên, Vang Bóng Một thời của Nguyễn Tuân đều được viết vào đầu thập niên 40 của thế kỷ trước. Lúc đó xã hội Việt Nam, nhất là ở thôn quê chưa thay đổi nhiều. Cuộc thi Hương cuối cùng được tổ chức năm 1915. Vì thế các tác giả trên vẫn còn có thể thấy tận mắt, nghe tận tai những sinh hoạt và tập tục của dân Việt Nam trước khi những cuộc chiến tranh và những phong trào đổi mới bùng nổ. Họ đã miêu tả trong tác phẩm. Nhờ đó chúng ta mới hiểu rõ hơn những cảnh thi cử, việc làng, mối tương giao giữa các tầng lớp xã hội, kể cả việc trai gái yêu nhau theo những truyền thống đã hiện hữu trên quê hương từ nhiều đời. Thí dụ Chu Thiên đã tả mối tình của anh khóa Tuấn với cô Tuyết, con gái cưng của quan Án. Vì Tuấn là học trò của quan Án, nên phải gọi con gái của thầy là chị và xưng em. Cách đối xử, ăn nói giữa hai người rất mực lễ nghi, khiến người đọc thời nay thấy thật xa lạ:  

“Bà Án đứng dậy lên nhà, Tuyết cũng vừa bắt nồi rau ra vớt. Hai cái đũa cả vớt rau lên rổ, hơi khói ngùn ngụt bốc lên, làm cô phải lim dim đôi mắt nghiêng né ra một bên.. Nước da mặt hồng tươi bầng bầng vì hơi lửa nóng, làn tóc mai lỏa tỏa vướng đọng bụi tro... cô Tuyết lúc ấy mới lại càng tăng thêm mọi vẻ đẹp bộc lộ linh động. Bên làn khói hơi đục tỏa mờ, cô phảng phất như một vị tiên. Tuấn ngồi một mình, say sưa nhìn ngắm. Mãi đến lúc cô vớt hết rau, cầm đũa cả bới giải rau ra rổ cho ráo nước, rồi ngẩng lên, bắt gặp cặp mắt đắm đuối ấy, chàng mới bẽn lẽn quay nhìn ra sân, và nói đánh lảng:  

Thưa chị, không có việc gì nữa, em xin phép về ạ.  

Tuyết vui vẻ nói:  

Anh ở đây ăn cơm đã.  

Thưa chị em ăn cơm rồi.  

Tuyết cười dòn tiếp:  

À phải rồi. Hôm nay anh đi uống rượu tế, còn thiết gì ăn cơm rau muống chấm tương với cà nữa mà mời.  

Tuấn nghiêm nghị nói: 

Chị cứ dậy thế chớ! Em ăn cơm thật rồi. Không có, chị không bảo, em cũng cứ ở em ăn!

Bà lớn trên nhà xuống mắng Tuyết:  

Anh ấy ăn rồi thì kệ cho anh ấy về...  

Lậy bà lớn ạ. Lậy chị ạ!  

Tuấn chào, rồi vui vẻ đi ra, sung sướng đã được dịp giúp việc cho nhà quan và gần Tuyết. Chàng triền miên mơ ước đến một ngày kia công thành danh toại, và được ăn đời ở kiếp với người mà chàng dốc một lòng kính yêu”.  

Khi ở rong nhà phải giữ lễ đã đành, khi gặp nhau tay đôi trên đường làng cũng chỉ dám đổi cách xưng hô, không dám có những cử chỉ thân mật, chỉ có những lời dấm dẳn, bóng bẩy để diễn tả lòng mình và hiểu lòng nhau:  

Anh có công qúa.  

Cũng chả xứng với tấm lòng của em yêu qúi.  

Anh chỉ nói!  

Thật đấy!  

Tuấn cười tình, Tuyết cũng vui theo, tươi cười nói:  

Em chả biết yêu qúi là gì!  

Yêu qúi hay bằng lòng cũng vậy!

 Anh giảng nghiã hay nhỉ?  

Không hay bằng em nói. Tiếng em êm như đàn, mà miệng em tươi như hoa 

Còn anh?  

Hai người còn đang chực nói thêm nhiều câu thân mật nữa, nhưng vừa vòng hết tường Văn Chỉ, Tuấn đã bước chân ra khỏi cổng gần giáp mặt Tuyết, thì nàng trở vai gánh đánh phắt một cái, bước nhanh lên và còn ngoảnh lại bảo Tuấn: 

 -     Anh để em về trước, kẻo dân làng người ta cười cho ấy (trích Nhà Nho).  

Yêu đương kiểu này có vẻ hơi mệt, nhưng cũng lãng mạn và tình tứ làm sao!  

Trong khi đó, những cặp con nhà dân giả thì đối xử với nhau giản dị, thẳng thắn và chân tình hơn nhiều. Những câu ca dao đã chứng minh điều này.  

Chàng trai muốn ngỏ ý với cô gái thì “tán” thẳng thừng nhưng rất văn hoa:  

      Đường xa thì thật là xa 

      Cậy mình làm mối cho ta một người

      Một người mười tám, đôi mươi

      Một người vừa đẹp vừa tươi như mình.  

Về phần cô gái, lời ngỏ ý phải kín đáo hơn, nhưng khi nói lên là “đối tác” hiểu liền:  

      Gặp nhau ăn một miếng trầu

      Gọi là nghiã cũ về sau mà chào.

 

      Muốn cho sông cạn, đò đầy

      Muốn anh chung mẹ chung thầy với em.  

Một khi hai bên đã chịu nhau rồi thì phải nghĩ ngay tới việc xin phép cha mẹ để các ngài đứng tác thành cho đôi lứa. Nếu cha mẹ không bằng lòng thì cuộc hôn nhân sẽ không thành, không có việc “con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đấy” như thời nay:  

      Thương anh cũng muốn theo anh

      Ngặt cha với mẹ không đành thì sao?

 

      Năng mưa thì giếng năng đầy

      Anh năng đi lại, mẹ thầy năng thương.  

Dù hai người yêu nhau thắm thiết đến độ “Đêm qua ba bốn lần mơ. Chiêm bao thì thấy, dậy sờ thì không”  cũng không được sàm sỡ khi gặp nhau. Chính người con gái phải biết giữ mình và nhắc nhở người yêu phải kiên nhẫn, tuân thủ những nguyên tắc đạo lý:  

      Xin chàng hãy bỏ tay ra

      Đến mai về cửa về nhà hãy hay

 

      Chàng đừng cầm lấy cổ tay

      Khi xưa cành mận, khi nay cành đào.  

Như vậy là không có việc sống thử trước hôn nhân. Không có chuyện là bạn đường. Phải là bạn đời. 

Ngày xưa, trai gái chỉ có dịp gặp gỡ để kết bạn với nhau khi đi làm việc ngoài đồng hay trong những dịp hội hè, đình đám. Ở vùng Kinh Bắc còn có một lối kết bạn khác: nhận nhau là “liền anh, liền chị” trong những buổi hát quan họ. Suốt tháng Giêng, các liền anh liền chị rủ nhau đi hát khắp vùng. Lòng nôn nao được được kết bạn mới, gặp lại bạn cũ, đã làm cho biết bao trai thanh gái lịch chưa hết tháng Giêng này đã mong tháng Giêng tới để rủ nhau đi hát quan họ “Người ơi, người ở đừng về!”  

      Suốt tháng Giêng mưa xuân trắng ngõ

      Những người gái thôn Dương Ổ

      Đập sợi thâu đêm

      Khi nắng lên se chỉ trắng ngoài thềm

      Khi giăng lên đưa con thoi dệt vải

     Tiếng hát chập chùng, mái tranh phủ khói

      Chị em hẹn nhau ngày hội sang năm...

 

      Ngày hội năm sau

      Anh sẽ bắc dàn hoa lý

      Mời em về ngồi nghỉ

      Khi nào em hát thua anh...

 

      Hoa gạo đầu đình vẫy mãi người xa quê

      Vì đâu anh đi không về...

      Khăn gói lúc chia ly

      Mang nặng trăm sông ngàn núi

      Buộc chặt tình người quê hương thui thủi...  

                                              (Hoàng Cầm)  

Anh đã ra đi. Bao giờ anh về? Khi anh về thì cảnh quê và tình quê có còn đẹp như thuở anh đi? Hay “cây đa bến cũ con đò khác xưa”? Anh về, anh sẽ tìm em nơi đâu, hay  

      Tìm em như thể tìm chim

      Chim bay biển Bắc anh tìm biển Đông

      Tìm chi cho phải mất công

      Đài Loan, Hàn quốc em dông mất rồi!

 Và nếu chúng mình còn có duyên gặp lại nhau thì liệu anh có tìm thấy nơi em chút gì của tuổi hoa niên còn sót lại, hay em lại giống như hình ảnh người yêu xưa của thi sĩ Chu Vương Miện:  

      Xưa hoa khôi hoa hậu

      Giờ giống rổ khoai mì

      Mềm xèo như bún luộc

      Chờ hồi tùng bi li.  

Nói chuyện xưa không phải để rũ rượi trong tâm tình hoài cổ. Cuộc đời luôn luôn chuyển động. Ta phải nhìn thẳng mặt cuộc đời để đối phó cho hợp thời, hợp cảnh. Nhưng tâm lý con người luôn luôn nhớ về dĩ vãng trong khi vẫn hướng về tương lai. Dĩ vãng ngày xưa có quê hương nghèo nhưng có tình người. Chúng ta có rút được bài học nào của “những người muôn năm cũ”? Chúng ta sẽ để lại di sản gì cho những thế hệ mai sau? Có “Ôn cố” mới “Tri tân”. Người không có qúa khứ là người bị bứng gốc trong hiện tại và trở thành vô định trong tương lai. Con chim ngứa cổ cất tiếng hót buổi sáng đầu xuân. Kẻ sĩ ngổn ngang trăm mối tơ vò cũng cất lên đôi lời tâm sự. Liệu có ai tri âm với mình, để khỏi rơi vào cảnh  

      Tiền bất kiến cổ nhân

      Hậu bất tri lai giả

      Niệm thiên địa chi du du

      Độc thượng nhân nhi lệ hạ.

 

            (U-Châu Đăng Đàn Ca)  

      Người xưa ta chẳng gặp

      Người sau chưa thấy đâu

      Ngắm đất trời biền biệt

      Mình ta tuôn lệ sầu  

Canada,  Xuân Bính Tuất

Tác giả: Mặc Giao
   dunglac@gmail.com