Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Cung Thông
nguyencungthong@yahoo.com
Bài Viết Của
Nguyễn Cung Thông
Tản mạn về từ Hán Việt - Phần V
Phương pháp giải quyết vấn đề và Tứ Diệu Đế (phần 1)
Vết Tích Liên Hệ Long - Rồng và Sông...
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp – Sửu/*tlu/trâu (phần 11)
“Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - Dần - *kính - kễnh” (phần 9)
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp: Thìn/Thần – long/rồng (phần 8)
Tại sao Nhật, Đại Hàn, Inđô … không đặt vấn đề với nguồn gốc tên 12 con giáp? (phần 1)
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (phần 2)
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (phần 1)
NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP - MÙI/VỊ - *MJEI - DÊ (PHẦN 15)    Attach file

Nguyễn Cung Thông

nguyencungthong@yahoo.com

...Xin mở file PDF có đủ hình ảnh kèm Attach file

Vị là chi thứ 8 trong thập nhị chi hay 12 con giáp. Dân Việt ta thường dùng Mùi thay cho Vị, và chính cách đọc Mùi (âm Thượng Cổ) này là một chìa khoá giải thích nguồn gốc Việt (Nam) cổ đại và cũng phù hợp với hệ thống 12 con giáp đã hiện diện trước khi hệ thống âm thanh Hán Việt/HV nhập vào tiếng Việt thời Đường Tống (Trung Cổ). Mùi được dùng chỉ thời gian như giờ (từ 1 đến 3 giờ chiều), ngày, tháng 6, năm ... và xác định không gian qua hướng SSW (Nam Nam Tây). Phần này chỉ giới hạn vào các liên hệ ngữ âm lịch sử của Mùi/Vị chứ không bàn về ngũ hành/kinh Dịch  hay biểu tượng thời không gian của chi này. Qua các dữ kiện ngôn ngữ ta sẽ thấy tương quan giữa Mùi và dê (tiếng Anh goat, tiếng Pháp bouc/chèvre) của tiếng Việt, loài vật biểu tượng của chi này. Phần sau sẽ đi sâu hơn về các liên hệ này. Người viết sẽ tránh dùng thuật ngữ để người đọc dễ cảm nhận các bài viết này hơn; Thanh điệu của một âm được ghi bằng số hay mẫu tự (như F là Falling tone) và đứng sau chữ đó , so với cách ghi thanh điệu tiếng Việt hay phiên âm (bính âm, pinyin) giọng Bắc Kinh/BK bây giờ. Các dữ kiện như tiếng Thái, Lào, Hán Việt ... sẽ không có trích dẫn nguồn (vì rất dễ kiểm tra lại) so với những bài viết hay tài liệu ngôn ngữ đặc biệt hơn. Không nên lẫn lộn số phụ chú đứng sau một chữ với cách ghi thanh điệu trong bài. Loài dê cừu có những đặc tính như  (a) tiếng kêu me .. me hay beee … để cho ra dạng *mje trong ngôn ngữ với nghĩa mở rộng chỉ loài dê  (b) mùi từ thân mình phát ra rất đặc biệt (tanh hôi) gọi là thiên (shan1 BK, zin1/sin1 Quảng Đông) mà tiếng Việt gọi là chiên với nghĩa mở rộng chỉ loài cừu. Chiên còn là một dạng âm Hán Trung Cổ phục nguyên bởi Edwin Pulleyblank (trong cuốn "Lexicon of reconstructed pronunciation in Early Middle Chinese, Late MC and Early Mandarin" - University of British Columbia, 1991). Con than là con chiên - than có thể là một dạng biến âm của thiên/ chiên  (c) lông cừu rất ấm - nên áo lông cừu gọi là cừu (qiu2 BK). Nghĩa nguyên thuỷ (áo da thú, bì y dã - Thuyết Văn) mở rộng để chỉ loài cừu (một dạng biến âm của cừu là trừu). Tự điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes (1651) chỉ ghi từ    mà thôi. Phân tích các cách viết/khắc cổ của dương ta thấy là loài dê (có sừng) chứ không phải là cừu - Nhật và Hàn đều vay mượn hệ thống 12 con giáp của TQ nên đều dùng con cừu (chi Mùi – year of the sheep)  cho thấy Việt Nam vẫn giữ nghĩa nguyên thuỷ là con dê (year of the goat). Điều này rất phù hợp với biểu tượng nguyên thuỷ của các chi khác như Mão (mèo), Sửu (trâu) ...

...Xin mở file kèm Attach file

Tác giả: Nguyễn Cung Thông
   dunglac@gmail.com