Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Ước
Bài Viết Của
Nguyễn Ước
Triết học tôn giáo
Giới thiệu sách: Mật Tông Đại Cương
Giới thiệu sách: Nho Giáo đại cương (trong tủ sách Dũng Lạc)
giới thiệu sách: Cẩm nang sống thiền - thiền định
Ba Mươi Triết gia Tây phương
Triết Học Ấn Độ Đại Cương (giới thiệu sách)
Cẩm Nang Sống Thiền (giới thiệu sách)
GIÁO HỘI VÀ NHÀ NƯỚC


Nguyễn Ước dịch

Lời người dịch:

Đoạn dưới đây lấy từ cuốn A New Catechism Faith for Adults with Supplement, do Hàng Giáo phẩm Giáo hội Công giáo Hòa Lan ủy nhiệm cho Học viện Giáo lý Cao cấp Nijiemengen, với sự hợp tác của một số viện khác. Sách được xuất bản tại Hòa Lan năm 1966. Bản tiếng Anh với Imprimatur của Robert F. Joyce, giám mục Burlington và Nihil Obstat của Leo J. Steady, năm 1969.

Bản tiếng Việt có nhan đề Gíáo lý mới Thời đại mới: Đức tin Công giáo, do Nguyễn Ước dịch. Lần đầu tiên xuất bản tại Hoa Kỳ, Tạp chí Đất Mẹ phát hành, với Lời giới thiệu cùa Linh mục Anthony Đàm Quang Chính, O.P, Chưởng ấn tại Houston, năm 1996.

Sau đó, cũng bản tiếng Việt ấy được Nxb Tôn giáo xuất bản tại Việt Nam năm 2005 (không bị cắt xén). Đoạn này trích các trang 686-692, theo bản VN.

_______________

Dân Thiên Chúa sống ở thế gian. Nhưng nó không thuộc về thế gian - nếu ta hiểu tiếng "thế gian" theo nghĩa loài người, có tính cách kinh thánh, tới mức làm xa cách với Thiên Chúa và tới mức chúng ta phải nhận sự quở trách của Thiên Chúa. Nhưng tiếng "thế gian" cũng có ý nghĩa khác, cũng có tính cách kinh thánh và còn thích hợp với lối nói thời nay. Nghĩa là thế gian tới mức mà nó được Thiên Chúa mời gọi tụ họp lại, "thế gian mà Thiên Chúa rất yêu thương", một thế gian được đông đúc bởi Thiên Chúa, "người yêu của mọi sự hiện hữu" (x. Kn. 11:24). Trong ý nghĩa ấy, dân Thiên Chúa thuộc về thế gian này, và phải là thành phần của thế gian hết mức có thể được.

Trong chương về trách vụ tư tế của dân Thiên Chúa, chúng ta đã nói làm thế nào Kitô hữu và sứ mệnh trần thế ăn khớp nhau. Chúng ta đã thấy là dân Thiên Chúa được kêu gọi phục vụ nhân loại bằng sự giúp đỡ và làm nhân chứng. Giáo hội không bàng quang trước những vấn đề lớn lao về nghèo đói, hoà bình và hiểu biết. Bằng sứ mệnh đã nhận được, Giáo hội hoàn toàn dấn thân vào các vấn đề ấy. Trong các chương sau, chúng ta sẽ cố gắng nhìn cuộc sống của mình ở trần thế này dưới ánh sáng của phúc âm và của trách nhiệm đặt trên mình. Chúng ta sẽ thảo luận về cuộc sống mình như thể nó nằm ngoài gia đình - dù không đi quá sâu vào chi tiết vì việc áp dụng cụ thể các nguyên tắc này tùy thuộc rất nhiều vào nhận thức và hoàn cảnh. Chương đầu tiên nầy sẽ thảo luận ngắn gọn về tương quan giữa Giáo hội và Nhà nước, hai cộng đoàn rất khác nhau mà Kitô hữu lập thành những trung thành bất phân li.

Trung thành

Con người sống cùng nhau trong xã hội, nơi họ liên kết nhờ liên hệ ngôn ngữ, thân hữu, nòi giống, lối sống, sự tương thuộc và các trách nhiệm. Tổ chức lớn nhất cho cuộc sống công cọng là Nhà nước. Theo giảng dạy của Kinh thánh, tương quan của chúng ta đối với một xã hội có tổ chức là tương quan trung thành, hợp tác và vâng phục. "Đối với quyền chức hiện dịch, mọi người hãy biết phục tùng. Vì không có quyền bính nào mà không do tự Thiên Chúa, và những quyền chức hiện hữu đã do Thiên Chúa thiết định" (Rm. 13:1). Chúng ta hiểu thế nào về lời phát biểu ấy của Phao-lô.

Tuân phục lề luật xã hội (về kinh doanh, các quyền, các trách nhiệm, giao thông, và vân vân) là một nghĩa vụ đối với Thiên Chúa. Điều này không có nghĩa các nhà cầm quyền được Thiên Chúa chỉ định. Mà có nghĩa rằng nó thuộc phần bản tính con người, được tạo nên bởi Thiên Chúa, không chỉ lớn lên trong sự vâng lời cha mẹ mà còn bày tỏ sự trung thành với hình thức này hoặc hình thức khác của Nhà nước và đối với nhà cầm quyền được chọn lựa để cai quản nó. Việc này đem lại trật tự, bình an và hạnh phúc là những điều hoà hợp với Thánh Linh Thiên Chúa.

Sự phục vụ xứ sở có thể đòi hỏi hiến thân. Vào lúc có tai ương, dịch bệnh, tấn công của kẻ thù, và vân vân thì các sức mạnh của xã hội được huy động. Con người hiến sự sống mình. Chúng ta cảm thấy đoàn kết hơn bao giờ. Trong thời bình, một trong những nghĩa vụ căn bản nhất là đóng thuế. Những ai trả ít hơn phần được chia của mình thì nhất thiết là làm tăng gánh nặng đè xuống những giới có lợi tức thấp gồm những người thu nhập có thể bị kiểm tra chính xác. Thuế nên được đóng theo cách mà trên thực tế Nhà nước kì vọng. Về điểm này, Phao-lô viết, "Bởi đó cần thiết phải phục tùng, không chỉ vì án phạt, song vì lương tâm. Vã lại, cũng vì lẽ đó mà anh em nộp thuế. Họ phụng mệnh Thiên Chúa mang trách nhiệm về việc ấy" (Rm. 13:5-6). Về ý nghĩa của câu sau, nên xem thư Rôma 13:1 ở trên.

Căng thẳng giữa Giáo hội và Nhà nước

Khi mọi sự tốt lành, Giáo hội và Nhà nước sống hoà thuận. Cộng đoàn này trông coi các lãnh vực quan tâm của mình và tôn trọng các lãnh vực của cộng đoàn kia. Nhưng có thể phát sinh những căng thẳng sắc nét. Một khuynh hướng toàn trị, một tham vọng kiểm soát mọi sự, có thể dần dần xâm nhập Nhà nước. Nhà nước lúc ấy bị kích động bởi sự hiện hữu của một định chế sẽ không hoàn toàn phục tùng Nhà nước. Giáo hội cũng có thể đưa ra đường lối có khuynh hướng chế ngự Nhà nước. Đó là đặc điểm của Giáo hội châu Âu tới độ quyền lực tinh thần hoặc quyền lực thế tục đã không bao giờ được nắm giữ đầy đủ trong một bàn tay. Thời ấy, luôn luôn có sự hai mặt, căng thẳng, "đối cực": Giáo hội với những lãnh vực của mình trong một Nhà nước độc lập, Nhà nước với những thần dân vâng phục tính cách vượt quốc gia của Giáo hội. Điều này dẫn lịch sử châu Âu đến một nền tự do có tính cách độc đáo trên địa cầu. Nền tự do ấy thường bị hăm dọa hoặc cấm cản nhưng không bao giờ đạt tới điểm triệt tiêu với một chế độ chính trị thần quyền hoặc một Nhà nước toàn trị.

Giáo hội có sứ mệnh duy trì sự căng thẳng ấy, nghĩa là, không phải nỗ lực khống chế Nhà nước hoặc bất khoan nhượng các quan điểm khác, mà là đứng lên nói tiếng nói sứ ngôn nếu Nhà nước đe dọa các giá trị phúc âm. Dung dưỡng các việc đó là một tội, và như thế là Giáo hội có thể có tội. Việc này xảy ra khi Giáo hội bị liên kết cách quá biệt lệ với trật tự đã định tới độ mỗi xung khắc với việc tước bỏ nó đều luôn luôn đưa tới việc phải có lập trường với các quyền lực hiện hành. Cho dẫu các giai cấp bị tước đoạt không hoàn toàn hợp lí, Giáo hội cũng không được để mặc họ cho số phận của họ.

"Sự đối cực" được đề cập đến ở trên đôi khi phát sinh lời khiếu nại là người Công giáo không là những công dân triệt để. Họ bị kết án là thừa nhận một quyền lực ngoại quốc. Dĩ nhiên thật sai lầm khi bảo họ thừa nhận một quyền lực ngoại quốc. Một số người ngoài Công giáo thích nghĩ tới một "nước Vatican". Và quả thật Vatican là một Nhà nước với Đức giáo hoàng là nguyên thủ chính trị của nó. (Vatican cũng là một ngọn đồi nơi tọa lạc thánh đường Thánh Phêrô. Vì thế có tên công đồng - Công đồng Vatican). Nhưng Giáo hội Công giáo không là Nhà nước Vatican đó. Giáo Hội là dân Thiên Chúa khắp thế giới, cộng đoàn mà các giám mục, trong sự hiệp nhất với Đức Thánh cha, là những thủ lãnh tinh thần. Quyền năng của họ về chính trị thì cực kì nhỏ bé như của Đức Giêsu. Nó là lời kêu gọi của đức tin và lương tâm. Và thực tế có thể xảy ra là người Công Giáo có thể và phải nói Không với Nhà nước vì lương tâm mình. Đó không là phản bội xứ sở. Đôi khi người ngoài Công giáo cũng sẽ nói Không lúc lương tâm mình chỉ đạo. Có lẽ người Công giáo lập thành một khối đoàn kết hơn, nhưng dù thế, không là phản bội. Việc ấy được thực hiện vì lợi ích của xã hội. Đó có thể là thái độ của đứa con gái út của vua Lear, từ chối nói là nàng yêu cha hơn yêu hôn phu mình, nhưng lại giúp đỡ ông hơn cả người chị nịnh bợ giả dối.

Giáo hội có thể đưa ra thái độ đó, rất hiếm so với bình thường. (Cũng phải công nhận là các nhà cai quản Giáo hội, với lối sống và các chỉ thị, đôi khi bám lấy một quyền lợi vật thể hoặc một nền văn hoá đang biến mất lúc Nhà nước đã đạt tới tiến bộ xa hơn). Các lỗi lầm lịch sử ấy đáng lưu ý nhưng chúng không tác động đến cái cốt tủy. Nguyên tắc lớn lao là Giáo hội dần dần thâm nhập lương tâm con người với thông điệp của Đức Kitô, và tiếp tục làm như thế, trong khi thể hiện thông điệp ấy với hình thức ngày càng thuần khiết hơn.

Những sứ mệnh khác nhau

Dường như sự khác biệt giữa sứ mệnh của Nhà nước và của Giáo hội được ngày càng nắm vững rõ nét hơn. Giáo hội ngày càng ít theo cung cách của Nhà nước và ngày càng tâm linh hơn - mà không có nghĩa là không hữu hình - trong khi Nhà Nước thôi truyền bá bất cứ triết lí riêng biệt nào về cuộc sống. Có sự phân chia triệt để hơn trên cấp bậc tổ chức. Điều này không có nghĩa là giữa Giáo hội và Nhà nước không có liên hệ nào. Cả hai đều ứng xử với cũng một đối tượng những người đó, những người không thể phân thân mình thành một nửa "giáo hội tính" và một nửa "thế tục tính".

Về sự phân chia giữa Giáo hội và Nhà nước, còn có thể đặt câu hỏi là: Nếu có một xứ Công giáo trăm phần trăm, nên có sự phối hợp và kết hợp hoàn toàn giữa Giáo hội và Nhà nước không? Dù có trường hợp ấy, câu trả lời phải là, sự phân biệt là điều đáng ao ước. Ủy trị của Giáo hội được mạc khải ban cho khác với ủy trị của Nhà nước. Và cả trong xứ Công giáo, Nhà nước phải duy trì sự tự do đối xử với bất cứ ai rời bỏ Giáo hội, coi họ là những công dân với đầy đủ mọi quyền chính đáng như những người khác.

Sự hiệp nhất nhân loại

Lúc này có những định chế nhất định được thiết lập để tiến hành việc hiệp nhất giữa giống nòi nhân loại. Đây là những nỗ lực khởi đầu, vẫn còn bị bao phủ bởi nhiều trở ngại và yếu đuối, nhưng Giáo hội không thể bàng quang. Các định chế ấy cũng hợp điệu với thông điệp Kitô giáo. Giáo hội coi việc hiệp nhất của nhân loại là một trong các sứ mệnh của mình và coi hoà bình là một trong các lí tưởng của mình. Giáo Hội tin rằng sự hiệp nhất là một phúc lành, trong khi sự phân chia là dấu ấn của tội lỗi (tại tháp Baben), và hiệp nhất là một dấu ấn của ân sủng (như lúc Hiện xuống). Do đó, công đồng thúc giục sự hợp tác quốc tế trong mọi lãnh vực, khẳng định rằng sự hợp tác là con đường dẫn đến hoà bình thế giới mà nhân loại khát khao (Giáo hội trong thế giới ngày nay, số 83-90). Chúng ta sẽ nêu chủ đề hoà bình nầy vào phần cuối của chương kế.


Tác giả: Nguyễn Ước
   dunglac@gmail.com