Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Ước
Bài Viết Của
Nguyễn Ước
Triết học tôn giáo
Giới thiệu sách: Mật Tông Đại Cương
Giới thiệu sách: Nho Giáo đại cương (trong tủ sách Dũng Lạc)
giới thiệu sách: Cẩm nang sống thiền - thiền định
Ba Mươi Triết gia Tây phương
Triết Học Ấn Độ Đại Cương (giới thiệu sách)
Cẩm Nang Sống Thiền (giới thiệu sách)
NƯỚC TRỜI LÀ GÌ?


 Cana

 Tại Galilê, phá thông lệ mình, lần đầu tiên Đức Giêsu biểu lộ vinh quang ngài. Phúc âm Gio-an bắt đầu chỗ này với đám cưới cử hành ở Cana, một thôn làng gần Nagiarét. Đức Giêsu biến nước lã - được chuẩn bị theo tục lệ tẩy rửa của người Do thái -- thành rượu tuyệt ngon. Điều ấy báo trước nỗi hân hoan cứu độ về "giờ" tử nạn và sự sống lại của Đức Giêsu mà cái cũ được thay bằng cái mới, nước bằng rượu. Soạn giả phúc âm đó (Gio-an) ghi nhận rằng mẹ Maria đòi hỏi biểu hiệu ấy. Dường như phản ứng của Đức Giêsu là từ chối. Ngài ngụ ý với mẹ Maria về "Giờ" (sau cùng) của ngài mà Chúa Cha là đấng quyết định chứ không phải mẹ Maria. Tuy nhiên, ngài tán thành lời yêu cầu của mẹ. Trong trình bày của Gio-an chắc chắn sự việc này có ý nghĩa rất trọng đại, và còn hơn thế nữa, vì về sau Gio-an đề cập cách riêng việc mẹ Maria có mặt vào chính "Giờ" cuối (Ga. 19:26).

 Tiệc cưới Cana là biến cố thứ ba được cử hành trong lễ Chúa Tỏ Mình Ra vào ngày 6 tháng Giêng. Trình thuật này được đọc trong phần đọc phúc âm vào Chúa nhật thứ hai sau lễ trên.

 Ánh sáng vĩ đại

 Galilê là "kẻ" đầu tiên nghe thông điệp của Đức Giêsu. Vùng đất biên giới từng bị người Assyria tàn phá triền miên vào thời tiên tri Isaia. Nhưng ngay từ thời đó, trong đức tin vào ân sủng Thiên chúa, vị tiên tri ấy đã tiên đoán một tương lai vẻ vang cho nó. Lời tiên tri này thành sự thật khi tỉnh lỵ này được ưu ái cho làm kẻ đầu tiên nghe tin mừng. Cho biết là Đức Giêsu đến sống tại Capharnaum, Mat-thêu tiếp tục:

 "Ngõ hầu nên trọn điều đã phán nhờ tiên tri Isaia nói: 

 Đất Dabulôn, và đất Népthali

 Con đường biển, vùng bên kia Gioócđan,

 Galilê các dân ngoại!

 Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng lớn lao,

 và cho kẻ ngồi trong bóng tối sự chết,

 một ánh sáng đã rạng lên" (Mt. 4:14-16).

 Rượu ở đám cưới, ánh sáng trong bóng tối - đó là cách phúc âm nhìn sự xuất hiện của ngài tại Galilê.

Thông điệp mà Đức Giêsu trao lúc này có thể tóm tắt trong một tiếng: nước trời. "Từ bấy giờ Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: 'Hãy hối cải vì Nước Trời đã gần bên" (Mt. 4:17).

 Ý nghĩa của "nước trời"

 Điều Đức Giêsu thật sự nói là "Vương quốc của Thiên chúa" như ba trong bốn soạn giả phúc âm ghi lại. Matthêu viết chắc nịch "nước trời". Ông uyển chuyển theo tập quán các thầy cả Do thái mà thay thế "Thiên Chúa" bằng "trời", rút ra từ sự kính trọng.

 Vì thế nó là nước của Thiên Chúa. 

 Ở đây, nước đó không được hiểu như một vùng đất hoặc một địa hạt mà Thiên Chúa là hoàng đế, nhưng hiểu như là vương quyền của Thiên chúa. Do đó, "Vương quyền ngự trị của Thiên Chúa", hoặc "Quyền uy Thiên Chúa" cũng là một cách diễn dịch rất chính xác. Đối với người nghe thì nó là tiếng đầy ý nghĩa. Không cần phải giải thích thêm cho họ giống như không cần giải thích "sức khoẻ" là gì cho người bệnh hoặc "hoà bình" cho người lâm chiến. Nó là sự hoàn mỹ mà họ đều khao khát. Khái niệm này được thiết lập từ Cựu Ước và từ ngữ ấy cô đọng niềm tin rằng Thiên chúa là chúa tể của thế gian, và vì thế, ngày nào đó ngài sẽ biểu thị mình để xua đuổi bất công và khốn khổ ra khỏi cuộc đời, cuộc đời tràn ngập tra vấn ray rứt đọa đày này. Đấy là cái cốt tủy thật sự của niềm hy vọng này.

 Nhưng trong diễn biến lịch sử, kì vọng ấy đã mang nhiều dạng thức khác nhau. Nhiều dạng thức kém thanh khiết và cao nhã. Có những người sẵn sàng đặt tay vào đốc kiếm khi thoạt đề cập đến tiếng đó. Họ nghĩ sự ngự trị của Thiên chúa như sự chinh phục của người ngoại đạo, một cuộc phục hưng quốc gia, một Nhà nước do Thiên chúa cai quản. Có những người khác lại thấy sự đến của nước trời như một bùng nổ thiêng liêng làm rung chuyển các cột thiên đàng và tái khôi phục một thế giới mới. Họ thường say mê với những ức đoán về một ngày chính xác cho cuộc tận thế. Những mô tả về ngày ấy thường mang tính tưởng tượng cao độ. Trong văn học và truyền thống, nguồn cảm hứng này được gọi là có tính cách khải huyền.

 Hai quan điểm ấy đều dựa theo một diễn giải có tính cách vật thể và nghĩa đen các hình tượng các tiên tri dùng. Nó để lại cách rộng rãi một dạng thức cố định và tuyệt đối - là tính cách quốc gia hoặc khải huyền. Cốt tủy thanh khiết của kì vọng vào sự ngự trị của Thiên chúa bị bao phủ bởi những cảm xúc kém giá trị, và trên hết là phẩn uất, thù hận.

 

 Nước Thiên chúa trong việc Đức Giêsu làm

 Lời đầu tiên Đức Giêsu nói với thế gian là: "Hãy hối cải, vì Nước trời đã gần bên". Nhân loại hiểu lối nói ngài dùng. Nhưng Đức Giêsu hiểu nước trời đó như thế nào và trong hình thức nào? Không lưỡi gươm nào được tuốt ra và không tinh tú nào rơi tự bầu trời. Đây là điều lạ lùng đầu tiên về sự rao giảng của ngài, rằng không có gì thuộc kiểu đó xuất hiện.

 Ngài cũng từ chối vạch ra bất cứ thời điểm nào. "Do đó hãy tỉnh thức và các ngươi không biết ngày nào Chúa đến". Vì thế ngài lên án ước vọng của loài người, mà nay hãy còn, là tìm cho ra ngày tận thế. Rõ ràng một thời điểm chính xác như thế sẽ cung cấp sự hào hứng và một cổ vũ hiển nhiên cho đức tin bằng cách dồn chú ý vào một điều bên ngoài ta và tuyệt đối. Thế nhưng, Đức Giêsu muốn truyền đạt một chân lí sâu xa hơn.

 Ngài cũng tránh những mô tả gây khích động thường được dùng thời ấy. Rõ ràng ngài có ý tuyên bố một sự can thiệp thiêng liêng có tầm quan trọng toàn thế gian nhưng ngài nghĩ là "ngày tận thế" không trùng hợp với sự biểu thị đầu tiên của nước trời. Hơn nữa, hình ảnh tận thế của ngài thì điềm đạm và giản dị so với truyền thống khải huyền của mọi thời. Thông điệp của ngài tập trung mạnh mẽ vào sự kiện Thiên chúa ngự trị chứ không vào bất cứ biến cố bên ngài nào.

 Điều này đem đến cho chúng ta yếu tố đánh động nhất của thông điệp ngài. Ngài tuyên bố rằng vương quyền đã bắt đầu rồi. Nước trời là đây - trong việc chính Đức Giêsu làm và rao gảng.

 "Quay lại với môn đồ, Ngài bảo riêng [họ]: Phúc cho mắt được thấy những điều các ngươi thấy! Vì chưng ta bảo các ngươi, nhiều tiên tri và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều các người thấy mà đã không được thấy, nghe điều các ngươi nghe, mà đã không được nghe" (Lc. 10:23-24).

 và nữa:

 "Phúc cho các ngươi không phải vấp ngã vì ta" (Mt. 16:6).

 Ngay từ đầu, rõ ràng ngài đã giữ kín mầu nhiệm về con người ngài tận nền tảng, và chỉ nói về vương quyền Thiên chúa. Có điều không che giấu sự kiện là qua sự hiện diện của chính ngài mà vương quyền này có ở đó.

 Không như những người tiên đoán khải huyền nói tới những biến cố và những điều ở bên ngoài họ, Đức Giêsu đem nước trời đến theo ngài. Với ngài, nó không là một khải thị ở xa. Ngài ở ngay chính tâm điểm, tham chiến với một vương quốc khác. "Vì bằng Ta nhờ ngón tay Thiên chúa mà trừ ma quỉ, thì quả là Nước Thiên chúa đã đến trên các ngươi" (Lc. 11:20).

 Nhưng ở đó không thấy thế gian tan tành. Với những ai hỏi thời điểm chính xác, Đức Giêsu trả lời: "Nước Thiên chúa không đến cách nhãn tiền, người ta sẽ không nói được: 'Này ở đây' hay: 'Ở đó', vì Nước Thiên chúa ở trong các ông" (Lc. 17:20-21). Không có khởi nghĩa toàn quốc, không có dấu hiệu trên các tầng trời, nhưng chỉ có cái gì đó của Thiên chúa và thiêng đường ẩn mật trong đời sống hằng ngày, trong thế giới lao động ngày ngày của con người.

 Những dụ ngôn

 Đức Giêsu áp dụng lối nói tỉ dụ hoặc dụ ngôn. Các dụ ngôn là những chuyện để minh họa một vấn đề. Các luật sĩ cũng thỉnh thoảng dùng chúng. Nhưng việc dùng chúng của Đức Giêsu hoàn toàn khác. Các luật sĩ quan tâm tới việc giải thích văn bản hiện hành. Trên môi Đức Giêsu, các dụ ngôn tự chúng là thông điệp. Bằng cách giản dị và đánh động, chúng liên can tới các sự việc lấy từ cuộc sống hằng ngày mà mọi người có thể theo dõi. Đôi khi chúng là những biến cố quá lạ lùng hiếm khi xảy ra, như một đại tiệc không người tới dự. Nhưng ngay các chuyện đó cũng được hiểu liền.

 Đức Giêsu thường bắt đầu câu chuyện của ngài với một câu hỏi đơn giản, trực tiếp và thu hút "Ai trong các ngươi..." Lối mở đầu này là đặc điểm cách riêng của cá nhân Đức Giêsu. Không thầy giảng nào thời ấy dùng lối đó.

 Đức Giêsu dùng các dụ ngôn để làm rõ ý nghĩa của ngài. Vì thế Mác-cô viết: "Ngài dùng nhiều dụ ngôn giống như thế mà giảng Lời cho họ, tùy theo họ có thể nghe được"(Mc. 4:33), nghĩa là, họ có thể hiểu được nó theo cách đó.

 Nhưng để hiểu được, người ta phải chuẩn bị trước điều gì đó. Thông thường sau mỗi dụ ngôn, Đức Giêsu nói lớn lên, "Nếu ai có tai để nghe, thì hãy nghe". Điều tối cần là sự sẵn sàng nội tâm, để cho đi bản thân, để được biến đổi, một là lòng để tiếp nhận, hai là tai để lắng nghe thông điệp ẩn mật. Ai không có sự sẵn sàng ấy thì chỉ nghe được câu chuyện thôi. Lúc các dụ ngôn bị hiểu sai thì thành những biểu hiệu khiến người nghe bị giữ lại ở bề ngoài. Dụ ngôn, một khi hiểu được ý nghĩa của nó, sẽ thành biểu hiệu của sự bài xích. Đó là ý nghĩa của Máccô 4:10-13, một đoạn văn chỉ nên đọc dưới ánh sáng của câu 33 cùng chương, mà chúng ta vừa trích trên.

 Các dụ ngôn về nước trời ẩn mật

 Người ta không ngạc nhiên là một số dụ ngôn của Đức Giêsu giải quyết yếu tố không ngờ của nước trời: sự ẩn mật của nó.

 "Về Nước trời, thì cũng in như men, bà nọ lấy vùi vào ba rá bột cho đến khi tất cả dậy men" (Mt. 13:33).

 Một dụ ngôn khác ngài đặt ra trước mặt họ, nói:

"Về Nước trời, thì cũng in như hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Nó nhỏ tí, thua mọi thứ hạt giống, nhưng khi nó đã lớn lên, thì nó lớn hơn rau cỏ mà thành một cây, đến nổi chim trời đến nương náu nơi cành nó" (Mt. 13:31-32).

 Đây là một tương phản kỳ diệu giữa những bắt đầu của các sự việc hằng ngày và kết thúc của chúng, và Đức Giêsu dùng đặc điểm này của thiên nhiên để minh họa cái không có dấu hiệu rõ rệt của nước Thiên Chúa lúc mới khởi sự. Dụ ngôn nhỏ về hạt giống tự nó tăng trưởng cho thấy nước trời tự tạo con đường của nó cách khiêm tốn biết bao, và cũng cho thấy nó cực kỳ độc lập biết bao với loài người.

 "Ngài nói: 'Về Nước Thiên chúa, thì thế này: như khi người kia gieo giống xuống đất, thì dù người ấy ngủ hay thức, ban đêm hay ban ngày, hạt giống cứ nảy mầm, lên đõn, mà người ấy không biết. Tự dưng đất cho đậu: trước tiên thành mạ, rồi thành đòng đòng, rồi thành lúa chắc nơi gié. Và khi mùa màng cho phép thì liềm hái tra tay, vì mùa gặt đã đến'"(Mc. 4:26-29).

Các dụ ngôn ấy là một giải đáp cho những ai nghi ngờ còn đang tự hỏi - sự ngự trị của Thiên chúa có thật không? Ở đây, chúng ta thấy những hệ quả của điều mà Đức Giêsu đã cam kết trong sự thanh tẩy của ngài. Ngài không tìm kiếm phù hoa bên ngoài đang làm quáng mắt loài người mà không thật sự giúp đỡ họ. Các việc ngài làm là bình thường, không kiêu căng, không biểu diễn. Nước trời cũng thế, có hình thức một tôi tớ.

 Tám mối phúc thật

 Điều ấy xuất hiện đánh động nhất trong phần mở đầu của Bài Giảng Trên Núi, bài thuyết giảng trên một ngọn đồi gần Galilê mà trong đó Matthêu sưu tập nhiều lời giảng của Đức Giêsu:

 "Phúc cho những kẻ có tinh thần khó nghèo

 vì Nước Trời là của họ.

 Phúc cho những kẻ hiền lành

 vì họ sẽ được đất làm cơ nghiệp.

 Phúc cho những kẻ ưu phiền

 vì họ sẽ được an ủi.

 Phúc cho những kẻ đói khát công chính,

 vì họ sẽ được no đầy.

 Phúc cho những kẻ biết thương xót

 vì họ sẽ được thương xót.

 Phúc cho những kẻ tinh sạch trong lòng

 vì họ sẽ thấy Thiên Chúa.

 Phúc cho những kẻ bị bắt bớ vì sự công chính

 vì Nước Trời là của họ" (Mt. 5:3-10)

Đức Giêsu không có ý bằng các mối phúc thật vạch ra tám đẳng cấp nhân loại khác nhau. Tất cả các mối đó là một và chung một nhóm. Không dễ định nghĩa nó. Sẽ sai lầm nếu nhìn vào nó như một giới xã hội được xác định, thí dụ như người "vô sản". Điều phúc âm muốn nói là sự nghèo khó trong tinh thần. Nó là một trạng thái tâm linh, không thành vấn đề cái việc chỉ không có tài sản gì cả. Mặt khác, cũng sẽ sai lầm nếu hiểu những kẻ đó chỉ là những ai đạt được đức hạnh xả kỷ và an tĩnh. Vì thế, các mối phúc thật không nói về bất cứ giai cấp xã hội nào và cũng không là một bản tóm lược các đức hạnh.

 Có thể diễn tả ý nghĩa của các mối đó như sau. Chúng có trong nghĩ tưởng của những ai không có hy vọng gì vào thế gian này và đang tìm kiếm Thiên chúa thay cho mọi sự; những ai bị thế gian nay hờ hững nhưng lòng không mảy may oán hận và mở lòng trọn vẹn ra cho Thiên Chúa. Họ sống theo cách mà Đức Giêsu tại cuộc thanh tẩy của ngài đã chấp nhận thực hiện là phục tùng và phục vụ đầy thương yêu. Nó là một thái độ ném mọi phép tắc "thế tục" vào trong một tình trạng bất ổn. Như thế, Con Thiên chúa chúc phúc cho những ai sống giống cuộc sống ngài đã chọn cho bản thân ngài. Những người đó ở vào một vị trí lý tưởng để trông đợi nước Thiên chúa, thật ra, để tiếp nhận cái đã có sẵn trên trần gian này như một nỗi hân hoan sâu đậm trong một cuộc sống mà thường có vẻ chẳng có gì hấp dẫn. Thiên chúa sẽ an ủi họ, rót đầy những tốt lành cho họ và biến họ thành con cái ngài.

 Đôi khi họ là những người nghèo, đôi khi họ là những người đức hạnh. Họ có thể gồm cả những người như viên thu thuế trong Đền thờ (x. Lc. 18:9-14), là kẻ không nghèo cũng chẳng đạo hạnh nhưng nhận biết sự bất xứng của mình và vì thế thật sự khát khao đi theo công chính và hoàn toàn sẵn sàng sửa đổi. Các mối phúc thật không nói về cái đã hoàn tất hay thành tựu rồi nhưng nói về chân lý cao cả và khuấy động mà tại đó Thiên chúa có mặt cho tất cả những ai cần ngài và hy vọng vào ngài. Và nó cũng cho thấy rằng phán quyết của Thiên chúa khác với của chúng ta về sự thành công và thất bại, cao cả và thấp hèn, hân hoan hay âu sầu.

 Vào thời Đức Giêsu, tại Israel có những nhóm cách biệt nhau gồm những người tốt lành, họ tưởng chính họ là dân tinh ròng "sót lại" của dân tộc. Và trong một ý nghĩa nhất định - họ trung thành với lề luật và đức tin. Những người "Biệt phái" (Pharisiêu) là một trong các nhóm này. Đức Giêsu không liên hệ với bất cứ nhóm tinh ròng "sót lại" nào thuộc loại này. Ngài hoàn toàn tập hợp nhiều loại người khác nhau. Ngài nhìn vào con chiên lạc Israel. Không nhất thiết phải loại trừ người Biệt phái nhưng người đó phải là loại người được mô tả trong các mối phúc thật. Đó là điều làm người ta choáng váng. "Có nhiều kẻ đầu hết sẽ nên cuối hết, và những kẻ cuối hết sẽ nên đầu hết" (Mc. 10:31) "Phúc cho ngươi không vấp ngã vì ta" (Mt. 11:6). Thực tế, trong khi nhiều người tầm thường đi theo ngài thì hầu hết những người Biệt phái và các luật sĩ giữ cách biệt.

  "Sự phân biệt chủng tộc"

 Qua việc Đức Giêsu kiên định bày tỏ lòng nhân ái của Thiên chúa đối với người Samaria, một dân tộc có niềm tin không chính thống, sinh sống giữa Giuđa và Galilê, ta có thể thấy thông điệp của ngài đã chuyển dịch các đường ranh cách thân ái biết bao. Tuy thế, ngài không có ý đặt dị giáo của họ lên ngang cùng một chỗ đứng với Do Thái giáo (x. Ga. 4:22).

 Có lẽ Đức Giêsu không rao giảng bên ngoài Palestin, nhưng có một người nước ngoài, viên bách quản ở Capharnaum cho ngài cơ hội nói về việc sẽ có nhiều người phương Đông phương Tây đến, được dự tiệc cùng Abraham, Isaac và Giacóp (x. Mt. 8:11). Do đó, các đường ranh của Israel không còn giá trị nữa. Sự cứu độ rõ ràng là bắt đầu với người Do Thái, nhưng dân tộc được nước trời tập hợp lại thì gồm những người đến từ khắp thế gian. Người ta choáng váng khi nhận ra điều này.

 Nhưng điều làm bối rối nhất là cách ngài vượt quá đường ranh trong cung cách ứng xử với kẻ phạm tội công khai. Khi được một người Biệt phái, là kẻ được dân chúng kính trọng, mời dùng bữa tối, ngài nhận lời (Lc. 7:36). Nhưng ngài cũng nhận lời mời của một viên chức thu thuế làm việc cho người La Mã, một kẻ lừa đảo và đào ngũ khỏi dân tộc ngài. Thật ra, chính ngài đã tự mời mình tới nhà người đó (Lc. 19:5-6). Điều này chưa từng nghe thấy. Một thầy giảng tôn giáo không bao giờ hạ mình ăn uống với người tội lỗi.

 Có thể nhìn thiển cận, xem thái độ của Đức Giêsu chỉ như thể cố ý bất chấp qui ước. Ngài không dự trù chỉ làm người bạn tốt, để mặc những người phạm tội này trong tình trạng của họ. Họ đang sống khốn khổ và ngài đem nước Thiên chúa đến cho họ: chuyện ngài ăn với họ chỉ là một phần của việc nước trời đến. Bữa tiệc chung chạ ấy làm Đức Giêsu thành biểu tượng của nỗi hân hoan thời cứu thế và của sự hiệp nhất với Thiên chúa. Điều này ngài sắp biểu lộ cho mọi thời đại tại bữa tiệc ly, nhưng những bữa ăn như thế, mà chúng ta đọc thấy, là những gợi ý trong cùng một chiều hướng. Ăn uống với người tội lỗi có nghĩa ngài đem quyền năng đầy yêu thương của Thiên chúa đến cho họ, và vì thế, giải phóng họ khỏi tội lỗi.

 Những sự việc ấy toát ra một hạnh phúc sâu đậm. Chúng cho thấy sự đến của nước Thiên chúa biểu hiệu như thế nào trong việc Đức Giêsu làm, và cũng cho thấy bằng các mối phúc thật, Đức Giêsu nhắm tới hạng người nào. Đây là một trong những khoảnh khắc hạnh phúc đó:

 "Ngài vào và đi tắt qua Giêricô. Và này: có người tên gọi Giakêô, ông ty trưởng quan thuế, và là người giàu có. Ông tìm cách để coi cho biết Đức Giêsu là ai; nhưng bởi có đám đông nên không thể được, vì ông thì vóc dạng lại thấp bé. Vậy ông chạy đón đằng trước, trèo lên một cây sung để thấy được Ngài, vì Ngài sắp ngang qua đó. Khi Đức Giêsu vừa đến chỗ ấy, Ngài ngẩng lên nhìn và nói cùng ông: "Giakêô, xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại nhà ngươi". Ông vội xuống liền và mừng rỡ đón tiếp Ngài. Mọi người thấy vậy thì kêu ca trách rằng: "Ông ấy vào ngụ nhờ một người tội lỗi!" Đứng lại, Giakêô thưa cùng Chúa: "Này nửa phần của cải tôi, thưa Ngài, tôi xin bố thí cho kẻ khó, và nếu tôi đã gian lận gì của ai, tôi xin đền lại gấp bốn." Đức Giêsu nói cùng ông ấy: "Hôm nay ơn cứu rỗi đã đến cho nhà này, bởi chưng người này cũng là con cái của Abraham. Vì Con Người đã đến để tìm cứu sự đã hư đi" (Lc. 19:1-10).

 Nỗi hân hoan

 Sự đến của Nước trời là ân sủng Thiên chúa đã được ban hành và ban phát. Nhưng ân sủng ấy đòi hỏi rằng chúng ta phải tự mình qui thuận nó. Việc này phải làm như thế nào?

 Chúa nói với chúng ta, "Ai không đón nhận Nước Thiên chúa như một trẻ nhỏ thì sẽ không được vào trong đó" (Mc. 10:15). Điều này không có nghĩa, như đôi khi được nghĩ có hơi lãng mạn, là Đức Giêsu nêu tính ngây thơ của trẻ con ra làm điều lý tưởng. Nó có nghĩa là "cảm thấy hèn mọn" để chấp nhận được ban cho một cái gì đó, và cũng có nghĩa rõ ràng là lòng khiêm nhượng của một sự bắt đầu mới. Nó liên quan tới điều mà Đức Giêsu nói với Nicôđêmô trong phúc âm Gioan: "Ai không được sinh ra một lần nữa thì không thể thấy được Nước Thiên chúa" (Ga. 3:3). Nó chung một thái độ sống đòi hỏi trong các mối phúc thật.

 Vì thế, những ai trở thành trẻ thơ, những ai chấp nhận cho bản thân mình được ban ân sủng, và tiếp đó, những ai tự mình qui thuận, đều nhận được nỗi hân hoan phát xuất từ Thiên chúa. Từ chối là bỏ lỡ nỗi hân hoan này. Phúc âm thường ghi nhận sự thảm sầu sâu xa của những ai bám víu lối sống cũ và từ chối không để Thiên chúa xâm nhập vào. Nó bùng ra bằng những "kêu ca" hoặc kêu rên phản đối khi thấy Đức Giêsu ăn uống cùng những người tội lỗi (Lc. 19:7), khi ngài chữa trị người bệnh (Mc. 3:6) và khi lũ trẻ nhảy múa vui mừng trong Đền thánh (Mt. 21:15). Những người thợ đã ở trong vườn nho trước mười một giờ sáng (Mt. 20:11) và người anh cả của đứa con hoang cũng không vui, "nhưng phải ăn khao mà mừng chớ, vì em con đó, nó đã chết mà lại sống, đã mất đi mà lại tìm thấy được" (Lc. 15:32).

 Nỗi hân hoan là hân hoan cho những ai cảm thấy vững lòng vì ân sủng Thiên chúa, không phải vì sự trọn lành của mình. Họ là những kẻ biết mình được ban cho rất nhiều. Bởi thế, kiểu mẫu quyết liệt nhất về sự từ chối nỗi hân hoan cứu độ có lẽ được nêu ra trong ví dụ về người đàn ông được tha món nợ khổng lồ mà không một ai ở Palestin có thể trả được (gần ba mươi triệu lạng vàng). Y ra về và bóp cổ một bạn đồng sự vì món nợ khoảng ba mươi lạng vàng. Y quên hết mọi sự Thiên chúa đã tha thứ cho y, kể cả nỗi hân hoan của việc được phóng thích, mà đi tấn công một người cùng tình cảnh với mình nhưng nằm trong quyền hạn của mình (Mt. 18:21-35). Theo Đức Giêsu, khước từ tha thứ cho kẻ khác tức là không nhớ đến sự phạm tội, sự tha thứ và nỗi hân hoan của mình.

  Phán xét

 Thông điệp của Đức Giêsu là một thông điệp nghiêm khắc. Hãy lấy dụ ngôn về người gieo giống (Mt. 13:3-23). Y, kẻ giáp mặt nước trời, là vừa đất sỏi đá lẫn đất tốt. Thật ra, đất thì có thể tốt cho việc khởi sự, nhưng sự vươn lên bị chết ngộp vì "lo âu việc đời và bả phú quý" (Mt. 13:22). "Hãy vào cổng hẹp. Vì rộng rãi và thênh thang là con đường dẫn đến hư vong và lắm kẻ đi ngang qua đó" (Mt. 7:13, x. Lc. 13:23). Đó là lời cảnh cáo hãi hùng. Đức Giêsu không tuyên bố về con số người được cứu thoát. Nhưng ngài nói rằng có rất nhiều người từ chối đáp ứng và làm hỏng tặng phẩm của mình bằng sự thiếu nhiệt tình, và rằng vì thế họ từ chối nỗi hân hoan, có lẽ là nỗi hân hoan bất diệt của họ. Ngài thấy cách đó như là một cổng hẹp.

 Ta không nên tiếp tục nói về lời giảng đó trước khi nó mất đi vẻ nghiêm trọng đáng sợ của nó. Nhưng tốt hơn, nên thường nghĩ về trường hợp cá nhân mình hơn là về nhân loại cách tổng quát. Đó dường như là ý định của Đức Giêsu, theo Luca 3:23. Người ta hỏi ngài: "Thưa Ngài, ít người được cứu thoát thôi phải không?" Đây là câu hỏi tổng quát về nhân loại, nhưng ngài đáp lại bằng một lời cảnh cáo gởi tới những ai đang đứng ngoài mà xem: "Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào, vì Ta bảo các ngươi: có những kẻ tìm cách vào nhưng không thể đuợc". Điều mà mọi người phải làm là cố gắng để vào. Cá nhân nào cũng thật sự có khả năng đạt tới. Chúng ta không thể xét đoán về số lượng.

 Nước Trời là cái mà để được nó ta phải cho đi mọi thứ:

 "Về Nước trời, thì cũng in như một kho báu giấu trong ruộng, người kia gặp thấy thì giấu đi, và bởi vui mừng, anh đi bán tất cả những gì anh có mà tậu thửa ruộng đó" (Mt. 13:44).

Đức Giêsu nói điều y như thế trong Bài Giảng Trên Núi nhưng với sự nghiêm trọng và cấp bách tới độ đời sau dường như đã rất gần:

 "Nếu mắt phải các ngươi làm các ngươi vấp phạm, thì hãy móc mà quăng đi khỏi ngươi: vì thà mất một chi thể còn lợi cho ngươi hơn là cả toàn thân bị xô vào hỏa ngục. Và nếu tay phải ngươi làm ngươi vấp phạm, thì hãy chặt mà quăng nó đi khỏi ngươi: vì thà mất một chi thể còn lợi cho ngươi hơn là cả toàn thân bị sa hoả ngục" (Mt. 5:29-30).

 Đức Giêsu thường đòi hỏi sự canh thức:

 "Các ngươi hãy lo sao: áo xắn đai lưng và đèn chong sáng. Các ngươi hãy nên giống như những người đợi chủ về, lúc mãn tiệc cưới, để thoạt chủ về gõ cửa, thì lập tức mở được cho chủ. Phúc cho những tôi tớ nào chủ đến mà sẽ gặp được đang canh thức. Quả thật, ta bảo các ngươi, chủ sẽ thắt lưng, đặt họ nằm trên giường tiệc; và qua lại, chủ sẽ hầu bàn cho họ" (Lc. 12:35-37).

 Trong Mat-thêu 25: 31-46, Đức Giêsu giải thích loại hành động nào mà ngài đòi hỏi. Trong đoạn phúc âm đó, những người được trả công hoặc bị kết án theo việc thiện đã làm cho hoặc không làm chu toàn cho "một người trong các anh em hèn mọn nhất này" mà Đức Giêsu gọi là các anh em của ngài.

 

 Nước trời trong dòng thời gian

 Nước Thiên chúa cao cả và thiêng liêng tuy không hề mất quan hệ với thế gian, mọi nơi mọi lúc và với chúng ta. Chúng ta lúc này đang xây dựng sự vĩnh cửu. Thời điểm vương quyền là "hôm nay", từ ngay lúc hiện diện của Đức Giêsu nơi trần thế. Nhưng, như chúng ta thấy trong các dụ ngôn về sự tăng trưởng, nước trời ngày càng thâm nhập vào vạn vật. Nó vươn lên hướng tới một biểu thị trong tương lai.

 Biểu thị đầu tiên là sự sống lại của Đức Giêsu. Vì thế Đức Giêsu nói: "Quả thật, ta bảo các ngươi: trong những kẻ có mặt đây, có người sẽ không nếm biết cái chết, trước khi thấy Nước Thiên chúa đến trong quyền năng" (Mc. 9:1). Đó là thời điểm vĩ đại khi Thiên chuá biểu dương quyền năng ngài bằng sự sống lại của Đức Giêsu từ cái chết và bằng ban phát Thánh linh cho nhân loại. Lúc ấy, khởi sự kỷ nguyên quyền năng Thiên chúa lan tràn khắp thế gian. Đức Giêsu chọn các môn đồ cho công việc đó: "Đừng sợ! Hỡi đàn chiên nhỏ bé! Vì Cha các ngươi đã không ban Nước cho các ngươi" (Lc. 12:32). Ngài còn để lại sau ngài "các chìa khoá của Nước trời". Tóm lại, ngài thành lập cho ngài một dân tộc để làm vương quốc của ngài sống động trên trần gian. Ngài gọi dân tộc này là "Giáo Hội của ngài". Giáo hội chưa là Nước trời đó, nhưng "Giáo hội là mầm mống và khai nguyên Nước ấy trên trần gian. Đang lúc từ từ phát triển Giáo hội vẫn khát mong nước ấy hoàn tất và thiết tha hy vọng, mong ước kết hợp với Vua mình trong vinh quang" (Vatican II, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 5).

 "Rồi sẽ là cùng tận, lúc Ngài trao trả vương quyền cho Thiên chúa và là Cha, sau khi đã hủy ra không, mọi thiên phủ, mọi uy thế và quyền năng. Vì Ngài phải giữ quyền vua cho đến khi Ngài đặt mọi địch thù dưới chân Ngài. Địch thù cuối cùng bị hủy ra không là sự chết... Vì khi mọi sự đã phục quyền Ngài, thì bấy giờ Con cũng sẽ phục quyền Đấng đã bắt mọi sự phục quyền mình, ngõ hầu Thiên chúa là trong tất cả mọi sự" (1 Cr. 15:24-29). Nước trời mà lần đầu tiên được biểu thị trong mộc mạc và thương yêu tại vùng thôn dã Galilê, sắp đạt tới sự hoàn thành vĩ đại của nó trong tình yêu vĩ đại giữa muôn người muôn vật hiện hữu.

 Tiếp nhận nước trời nghĩa là sẵn sàng lắng nghe thông điệp này. Tin vào nước trời nghĩa là tin vào sự hiệp nhất bất diệt của con người trong nỗi hân hoan của Chúa Cha.

 Giáo Hội công bố Đức Giêsu

 Chương này sẽ chưa đề cập nhiều điều về nước trời. Cũng không nói gì về Chúa Cha, dù Chúa Cha là trung tâm của tư tưởng của Đức Giêsu và là vầng thái dương toả sáng qua tâm linh ngài. Lướt qua điều ấy ở đây cũng không thiệt hại gì vì theo diễn biến của cuốn sách này chúng ta sẽ còn nói lui nói tới quyền năng Thiên chúa. Thực ra mọi điều trong sách này đều bằng cách nào đó nói về quyền năng ấy.

 Tuy thế, chúng ta không dùng thuật ngữ "nước Thiên chúa" thường xuyên như Đức Giêsu đã dùng. Từ những thời kỳ sơ khai nhất, Giáo hội cũng không làm thế. Một số người cho rằng sở dĩ vậy là vì Giáo hội đã nói quá nhiều về Giáo Hội. Đó không là lý do thật sự. Lý do thật sự là sự sống lại và vinh quang của Đức Giêsu đã đưa tới mạc khải ngài là ai. Nhân vật khiêm tốn này không chỉ là sứ giả của vương quyền, ngài cũng là vua. Vị tôn sư này không chỉ hoàn toàn là sứ giả của quyền năng của Chúa, ngài cũng là Chúa. Thực thế, như Origen nói, "chính ngài là Nước trời". Thấy ngài là thấy Chúa Cha. Do đó, công bố ngài là công bố Nước trời, và đó là điều Giáo Hội phải làm, nỗ lực làm. Xuyên qua mọi thời đại mà Giáo hội rao giảng về Đức Giêsu, Giáo hội rao giảng về Nước trời.

 Quả là điều tốt thường xuyên quay lại Galilê mà nghe thông điệp ấy. Một trong các cách chúng ta làm điều ấy là qua phụng vụ. Và không có ngày nào qua đi mà không có lời cầu từ gia đình Kitô hữu lên Thiên chúa: "Nước Cha trị đến".

Ghi chú:

Bài này trích từ cuốn “Giáo lý mới Thời đại mới: Đức tin Công giáo”. Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2005, Chương “Nước Thiên Chúa” tt.170-188”.

Xin xem them phần Lời người dịch, trong bài “Giáo hội và Nhà nước” vừa đăng trên trang nhà Dũng Lạc.

Trích dẫn Kinh Thánh lấy từ “Kinh Thánh”, bản dịch Nguyễn Thế Thuấn, Nxb Dòng Chúa Cứu Thế, Sàigòn, Việt nam, 1976.

Trích dẫn Văn kiện Công đồng Vatican 2 lấy từ “Thánh Công Đồng Chung Vatican II” bản dịch của Phân Khoa Thần Học, Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Đàlạt, Việt nam, 1972.

Tác giả: Nguyễn Ước
   dunglac@gmail.com