Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Ngọc Báu
Bài Viết Của
Trần Ngọc Báu
Nhân Mùa Vu Lan: Nói Về "Báo Hiếu" Mẹ Từ Bi Nhân Hậu
Tìm hiểu về cuốn phim của Mel Gibson « Cuộc Khổ Nạn Của Chúa Kitô »
Con người không phải là Thần Thánh
Nói cho bạn trẻ hải ngoại: Sống bất cần Cha sinh Mẹ đẻ?
Từ lòng bao dung của người đến lượng bao dung của Đạo
NHÂN MÙA VU LAN: NÓI VỀ "BÁO HIẾU" MẸ TỪ BI NHÂN HẬU

Hè năm rồi, từ nhà em tôi bên Dallas tôi xẹt cái rẹt qua Quận Cam thăm bà con bạn bè một tuần lễ. Một hôm, trời xui đất khiên tôi bước vô thương xá Phước Lộc Thọ, vừa xớn xác ngó quanh ngó quất, tôi bỗng thấy bà nào đi toòng teng trước tôi mấy bước, sao mà dáng dấp hơi quen quen. Rấn lên tới gần, tôi giục (vụt) la lên :  

--  Chị Hai ! 

Chỉ quay lại, dán con mắt hít nhìn tôi một lát, rồi khua khua hay cánh tay về phía tôi; đó là dáng điệu thường thấy khi chỉ mừng quíu lên. Bà này lớn hơn tôi một giáp (tuổi Mùi), vậy là năm ngoái bả đã 87 rồi còn gì, mà coi vẫn còn gọn bâng như ngày nào. Có người mới đi ngang: «Chào bà cụ mạnh giỏi luôn!». Bả cười đáp: «Chào cháu.» Bất ngờ gặp lại tôi, chỉ xáp tới, lạng quạng nói:  

--  Trời đất quỉ thần ơi, ông… này, à xin lỗi,… chú Sáu, đi đâu vậy ?  

Rồi chỉ xấn lại gần hơn, nhón gót lên, đập đập, rờ rờ, bóp bóp hai vai tôi, rồi hạ tay xuống vuốt vuốt mân mê hai bàn tay tôi khá lâu, xúc động... Cũng như trước đây, tôi thường có tật hay giởn với chỉ, khi muốn giả lả:  

--  Mới…ơi gặp lại Chị Hai sau mấy chục năm mừng điếng…mà chị hỏi gì lạ vậy! Thì tôi đi chợ như Chị Hai đây mà! Chị mạnh giỏi luôn chớ ơ?  

Bà chị này khi quíu lên hay nói sảng lắm ! Bả nói tía lia : 

--  Giỡn hoài! Không mạnh mà sao đi được đến gặp chú em đây! Mà còn ở… bển hông? Qua khi nào? Sao ờ ờ… đi lang thang lửng thửng một mình vậy?    

--  Vẫn còn ở Thụy Sĩ, chớ ở đâu nữa giờ! Mới qua ba hôm. Đi lang thang tìm chị muốn chết đây… Chị đổi nhà khi nào mà tôi hổng biết. May mà thấy chị …(Tôi hạ giọng :) Trời đất ơi, thấy chị, tôi nhớ thằng nhỏ tôi quá…, Chị Hai à! 

Nghe nói đến thằng nhỏ tôi, bả xìu mặt xuống, mấm mấm hai môi…, như muốn khóc. Rồi nhỏ nhẹ : 

--  Tội nghiệp thằng nhỏ! Mới lớn lên đã chết tức tưởi, chết tai nạn xe hơi, năm…

--   Năm 89 đó. Chị Hai có bay qua đưa đám hụt thằng nhỏ đó mà!   Tại vậy mà thấy chị là tôi nhớ nó liền… 

Hồi còn ở Sài Gòn, chỉ là hàng xóm của tôi. Chỉ thương thằng nhỏ tôi lắm. Thằng nhỏ hay qua hỏi chỉ xem có gì phụ chuyện lặt vặt trong nhà. Chỉ nói với người lối xóm sao mà nó giống cha nó quá, có tình có nghĩa với bà con láng giềng. Tôi á hả, không bằng chỉ một gốc! Ai đau ốm gì là có mặt chỉ, đi chợ nấu ăn không được là có mặt chỉ, bị lấn cấn người nuôi bịnh ở nhà thương là có mặt chỉ, tang chế gì cũng đều có mặt chỉ hết… Mà đâu phải chỉ có mặt cho có đâu, bả làm đủ thứ y như người nhà thôi. Hỏi sao, bả nói chuyện người ta như chuyện mình vậy mà, có gì lạ đâu !  

Tôi nhớ có lần chị hàng xóm mất con gà, xỏ mỏ qua nhà Chị Hai chửi đỏng từ sáng tới tối, mà chỉ tỉnh queo. Ba hôm sau, bà hàng xóm lò dò bước qua làm hòa: «Chị Hai đừng giận em nghe, em nhín nhút tiện tặn nuôi con gà để thằng nhỏ đi lính về thăm có con gà mà ăn, nên khi mất gà em tức quá chửi bậy chửi bạ tùm lum… Chị bỏ qua cho em nghe.» Bà Chị Hai nói giả lả: «Ờ, thì người ta ăn cũng như nó ăn thôi! Có lần nó vìa nói với tôi, con đi lính không có đói đâu, lương lậu thì không đủ hút thuốc, đi bố ráp qua làng nào là bắt gà người ta ăn cũng đỡ lắm.» Bà hàng xóm phân bua : «Làm gì có chuyện đó hoài, lâu lâu lính tráng nó làm bậy vậy thôi!»   Bà Chị Hai phủi ruồi, nói : «Ối, lính tráng mà có làm xằng làm bậy ấy hả, bà con mình tức thì cũng tức thiệt, nhưng cho qua luôn. Lính tráng quốc gia hay việt cộng gì cũng coi như con cháu trong nhà, mình đẻ con mình ra, thì cũng có bà đẻ tụi nó ra, cho chúng ăn tới đâu mà lo. Hồi tôi còn ở quê Bến Tre đó hả, việt cộng việt kiết gì tôi cũng coi như người mình mà…, đói đến nhà là tôi ôm nuôi hết. Quốc gia quốc giếc gì cũng vậy thôi!»  

Bà Chị Hai này đôi khi nói cái giọng khó nghe! Tôi là đàn ông con trai, lại có chút học thức, ăn nói có lý có sự, tôi chịu đâu có thấu cái giọng huề vốn của bả. Có lần tôi nói gắt: «Tại mấy bà chị như Chị Hai cứ lình xình, nửa nạt nửa mở, thương thương xót xót, làm mẹ lính quốc gia bên này, làm mẹ chiến sĩ bên kia, nên mấy ổng mới len lỏi cùng khắp thôn ấp, đánh phá tứ tung, khủng bố người quốc gia mình, chị có thấy không chớ ờ!…» Chỉ rầu rầu nét mặt, mấm mấm hai môi như muốn khóc, rồi thở dài, chắt lưỡi : «Ờ thì thằng lớn tôi làm việc ở xã bị mấy ổng vô ban đêm bắt cho đi «mò tôm» mất tiêu. Còn thằng nhỏ tôi đi lính bị tụi nó bắn vỡ sọ, chết tươi, chưa kịp kêu hai tiếng Má ơi nữa! Thằng thứ ba đi tập kết ra Bắc, biệt tăm biệt tích luôn…» Rồi bả phân bua : «Ối, thì quốc gia về làng cũng bắn phá tưới hết. Đàn bà con gái cũng chạy trốn muốn chết luôn. (Bả lại chắt lưỡi:) Thôi mà!   Tội nghiệp! Cứ ăn ở thất nhân thất đức, làm oán trả oán hả, thì làm sao diệt hết cái vòng nghiệp chướng đây ???» Rồi bả lắc đầu nói láp dáp: Tội nghiệp, tội nghiệp, tội nghiệp!!!  

Tôi ấy hả, tôi không «tội nghiệp» ai hết, không có thương xót ai hết, mà cũng không chịu ai thương xót tôi. Người mà, chớ phải chó mèo gì mà thương với xót! Lạng quạng xớ rớ lấn lướt tôi là tôi quất thẳng tay, không thương xót bậy bạ… Nhưng lạ kỳ, cái bà Chị Hai này bả không làm tôi buồn khi bả săn sóc tôi từng chút khi tôi bị tai nạn xe hơi, phải vô nhà thương, mà bà xã tôi thì tối mầy tối mặt với mấy thằng nhỏ tôi, không thể cùng lúc ôm nuôi chồng và nuôi bầy con dại. Bà Chị Hai cứ nói: Tội nghiệp, tội nghiệp !… Rồi bả chăm sóc tôi như là người nhà của bả vậy. Lúc ấy tôi mới hiểu cái lòng thương xót của bả… Bả có thương nên mới biết xót. Bả thương người như thể thương thân. Bả hay nói con người ta đói thì cũng như con mình đói, mình phải xót chớ ờ… ! Bả đâu có lý luận như tôi…  

Bả làm tôi nhớ má tôi quá à! Năm 1954, tôi bị bịnh lao phổi ở Đà lạt, nên hàng tháng phải xuống Sài Gòn chữa bịnh tiếp. Một lần, mới ngồi chưa nóng đít ở ghế xe đò, bỗng thấy bà già tôi lò dò đến gần cửa sổ xe, len lén đưa cho tôi bịt cam, nói nhỏ: «Con đi đường mệt, có cam ăn cho phẻ.» Tôi giận quá, la lên: «Má ở nhà nghỉ ngơi không chịu, bày đặt mua cam cho con làm gì chớ ơ, con lớn cái đầu rồi mua không được sao?» Bà già bỏ đại bịt cam vô xe, cúi đầu lủi thủi quay đi, rơm rớm nước mắt, sung sướng được thằng con la mà vẫn chịu nhận bịt cam của bả! Cứ như thường thì tôi quăng trả lại, bắt đem về… Thấy bà già lủi đi như người lỡ tay ăn cắp mà được tha ra, tôi ăn hận…, mà vẫn chưa chịu là mình la lối bà già vô lý …  

Hồi còn nhỏ, năm 1944-45, bỏ Sài gòn chạy giặc về Phan Thiết, lúc Mỹ bắt đầu dội bom đánh phá Nhật tại Đông Pháp (tức thuộc địa Đông Dương Việt-Miên-Lào của Pháp), gia đình tôi có tất cả sáu miệng ăn, mà cứ phải ăn nhờ ở đậu nhà người bà con, không biết làm gì ra tiền. Má tôi phải bôn ba đôn đáo, chạy ngược chạy xuôi, làm tưới việc gì cũng được, miễn có miếng gì bỏ miệng. Nhiều lần tôi đi theo bồng em nhỏ cho má tôi bán dạo vải ở Rạng (phía Mũi Né). Vải thì lấy chịu tiệm vải Bác gái tôi ở đường Gia Long, rồi bán được bao nhiều về trả bấy nhiêu… Rồi lấy tiếp, bán tiếp…  

Là người thành thị, má tôi có khi nào biết gồng biết gánh gì đâu, mà cũng phải gánh mấy xấp vải, đi bộ rẻo rẻo ở mấy rặng dừa, gặp nhà nào vô đại nhà nấy xin miếng nước lả, rồi nói láp dáp ba điều bốn chuyện chị chị em em, hỏi thăm may ra có người chịu mua vài thước vải. Cứ vậy mà đi suốt ngày, không cơm nước, mồ hôi mồ kê dầm dề, thở không ra hơi nữa, mà chớ phải bán được gì cho cam. Về tới nhà ở trọ người quen, má tôi xà vô ăn vài bụm cơm, đang khi cho thằng nhỏ bú. Nó vừa bú vừa nảy nảy ra khóc, vì bú chỉ có nước lả và mồ hôi, chớ có được chút sửa nào đâu! Thấy mặt má tôi rầu mà tôi muốn khóc thé lên! Thằng nhỏ mới có sáu bảy tháng, sáng bú được chút sữa mẹ, rồi lai rai cả ngày chỉ uống nước cơm lờ lợ, không quen, khóc quá trời, khóc suốt đến sưng cả mắt. Tôi lúc đó mới mười ba tuổi mà cứ phải bồng nó trên cánh tay, đi tới đi lui, ru ru cho nó đỡ khóc, may có khi nó thiếp đi được thì đỡ… thấy đói.  

Có lần má tôi làm liều, lấy tiền bán được vải chuyến đó mua đại một thùng thiếc dầu dừa, dấu trong giỏ càng xé, trên phủ mảng cầu, để trở về Phan Thiết bán kiếm được thêm chút tiền. Vừa xuống bến xe đò, ông cảnh sát đến đá đá mấy cái vô cái hông giỏ càng xé, rồi thét lên: «Giỏ này của ai? Giở ra coi!» Bà già làm bộ làm ngơ, đến khi chịu hết thấu đành ríu ríu bỏ đi, mặt mày không còn chút máu, sợ bị bắt bỏ tù, vì Nhật lúc đó cấm dân buôn bán dầu dừa, để lấy dùng vào việc binh bị… Ngày hôm sau, cả nhà tôi húp cháo, còn má tôi thì nhịn đói, nhìn đám con ăn đói mà nước mắt dầm dề, không một lời than thân trách phận. Không khi nào má tôi nặng lời với con cái. Mà có ăn mày đi ngang nhà là má tôi quờ quàng đi vét cơm, vét gạo cho. Họ đói thì cũng như mình đói đó mà, má tôi nói. Hột muối cắn hai, ăn cho đồng chia cho đều, thì mới đẹp lòng nhau và đẹp lòng Chúa chớ!!!  

Đến năm 1963, lúc ở Phú Nhuận, Sài Gòn, má tôi nằm liệt giường sắp chết vì bịnh ung thư tử cung, mà tôi thì còn đi học (đi học trễ) nên chưa ra trường, nên không có tiền chạy thuốc giảm đau cho bà. Bả bị ung thư lâu rồi mà không biết, cứ thấy mủ máu chảy ra thì cứ tưởng là bịnh đàn bà, đi thầy thuốc ta chữa bịnh. Đến năm 1962, khi tôi biết được đem vô nhà thương Bình Dân thì đã quá muộn. Bác sĩ chạy kim điện nhằm đốt chỗ sưng ở tử cung để giảm đà phát triển ung thư. Khi cho về, bác sĩ nói nhỏ với tôi là má tôi có thể sống rấng rấng thêm được một năm nữa thôi. Chịu vậy! Về nhà, má tôi thấy khỏe trong người, mừng lắm, tưởng hết bịnh nhờ phép lạ. Tôi thản nhiên, không nói gì, cứ để cho má tôi vui được ngày nào tốt ngày đó!  

Đến khi đổ bịnh trở lại, đem vô nhà thương, bác sĩ chạy làng, nói cho má tôi nghỉ lại vài ngày rồi đem về nhà chờ chết. Hỏi thuốc men thì bác sĩ chỉ nói: có tiền thì chích thuốc giảm đau và cho ăn uống bổ dưỡng, cũng như uống thêm thuốc bổ. Rồi chờ chết! Tôi làm gì có tiền lo thuốc thang cho má tôi! Đi vô đi ra thấy bả nằm êm ru, nhăn nhó ôm bụng mà rầu thúi ruột. Nhưng tôi vẫn tỉnh táo. Tôi sống bằng lý trí. Không buồn lo lắng làm chi cho mệt. Ráng tránh mặt má tôi để khỏi thấy bả lo, nghĩ rằng tôi phải chạy đôn đáo lo thuốc men cho bả. Rồi đến khi chờ hoài không thấy tôi nói động đậy gì về chuyện chữa bịnh, bả nhìn tôi với con mắt thăm dò, chịu đựng, không nói một lời than trách. Chỉ có vậy thôi cho đến khi chết!!! Tôi thật là đứa con bất hiếu, không có lấy được một lời an ủi má tôi, vì cứ sợ không biết phải nói làm sao… Không lẽ cứ nói dối má tôi hoài sao chớ !!  

Ba tôi chết trước, năm 1955. Lúc tụi tôi còn nhỏ, ổng hay đánh tụi tôi lắm. Mỗi lần đánh là ổng nhắc lại: «Thương con cho roi cho vọt. Đừng có tái phạm nữa, nghe con!» Mỗi lần thấy ổng đánh tụi tôi là má tui nhào vô đỡ đòn, bị ổng quất cho tơi bời. Rồi lúc nào về nhà mà biết ba tôi có đánh đứa nào, thì má tôi khóc thút thít. Ông già nghe được còn mắng cho: «Bà cứ chiều con làm nó hư hết. Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà, bà biết không?»  

Lần gặp lại bà Chị Hai ở thương xá Phước Lộ Thọ, bả kể chuyện huyên thiên trên trời dưới đất, rồi có lần bả nhích lại hỏi nhỏ tôi, biết tôi là người có đạo Chúa: «Chú Sáu này, hỏi một chút nghe, đừng có giận à. Tôi có mấy chị bạn đi nhà thờ, mà tại làm sao không thấy mấy bả đến vái bàn thờ Chúa, mà cứ đến cắm bông, đốt đèn, khấn vái Đức Mẹ thôi. Như vậy nghĩa là mấy bả sợ Chúa lắm hay sao chớ?»  Tôi nói: «Thì Đức Mẹ từ bi nhân hậu như bà Quan Âm vậy đó mà, mấy bả dễ nài xin hơn!»  Bả nói vặn họng tôi: «Còn Chúa thì sao? Chớ bộ Chúa gắt lắm hả, mà sao thấy mấy bả y như né né Chúa vậy kìa? Mấy bả nói Chúa lòng lành, nhưng thưởng phạt công minh, còn Đức Mẹ thì khỏi chê, Đức Mẹ luôn bào chữa cho kẻ đến cùng Mẹ.» Tôi giải thích: «Ờ ờ, mấy bả nói vậy thôi, nhưng Chúa Trời cũng có lòng thương xót, từ bi nhân hậu như các bà mẹ vậy chớ. Người ta hình dung ra Chúa Trời có râu, đứng oai nghiêm trên mấy bệ từng mây, chắc có làm cho mấy bả sợ như sợ bọn mầy râu tụi tôi vậy mà! Chớ Chúa Trời có giống đực cái gì đâu! Ổng có mặt khắp nơi, có mặt ngay trong lòng chị lòng tôi, biết rõ hết, nếu ổng thẳng tay như tôi ấy hả, thì bỏ mẹ hết bà con mình rồi!»   

Lần đầu tiên, tôi thấy chỉ vỗ tay! Chỉ tán đồng: «Ờ hớ, Chúa mà thẳng tay như chú em, thì ổng bẻ cổ hết mấy thằng Việt Cộng bắt thằng con út tôi đi tù học tập cải tạo mút mùa, đến bỏ thây nơi rừng sâu nước độc, (chỉ vừa nói vừa mấm mấm hai môi, như muốn khóc)!... Còn nữa, Chúa vặn họng hết mấy thằng đó bây giờ leo lên đầu lên cổ dân, ăn hại đái bát, tham nhũng, cướp đất, phách lối với bà con mình. Hồi xửa hồi xưa, Mỹ đánh Đức Quốc Xã, liệng bom phá sập bình địa các nhà thờ ở Đức, mà Chúa đâu có bóp cổ vặn họng thằng phi công Mỹ nào đâu! Ông chồng tui ổng nghĩ vậy cũng phải!»   Tôi lại khen chỉ: «Còn Chi Hai đi chùa, chị xá lạy, khấn vái Đức Phật đó, ổng là đàn ông mà!»  Chỉ nói: «Đức Phật từ bi nhân hậu, nên tôi không sợ. Mà chú đừng giận nghe, ông Phật cũng như ông Chúa vậy, có mặt khắp nơi, chớ không phải chỉ ở trong chùa đâu. Có chín phuơng trời, mà có đến mười phương phật lựng. Còn hơn nữa đó, Phật ở tại tâm nè. Phật là đây nè. Ối hả, đàn ông đàn bà gì cũng có phật tính hết. Mỗi lần tôi xá chú em, là tôi xá Phật đó, như Thầy Nhất Hạnh nói vậy.»  

Tôi cảm phục tấm lòng từ bi hỉ xả của Chị Hai vô cùng, nên nghe chỉ nói tôi nghĩ ra đúng là chỉ có tâm Phật, đức Phật. Chắc chỉ gần Chúa hơn tôi! Chỉ không tu chùa mà cũng như tu chùa! Có lần chỉ hạ giọng nói   rất thận trọng nho nhỏ cho tôi nghe thôi: «Này, chú em, những thày chân tu có nói rằng theo Phật thì phải «sát Phật» mới thành đạo, nghĩa là phải biết tự mình thành phật, chớ không bám vô ông Phật để chờ ổng hóa phép cho mình làm phật đâu. Làm gì có! Phải «sát phật» thì mới thành Phật được!» Nghe vậy, tôi hết hồn, không ngờ bà chị tu đạt tới mức siêu đẳng đến vậy, mà bề ngoài coi có vẻ tầm thường như người phàm. Tôi nhớ đến chỉ là tôi nhớ đến má tôi. Má tôi không tu phật, nhưng bả cũng hiền lành lắm! Theo Chúa, má tôi cũng học theo gương từ bi nhân hậu như Chúa dạy…  

Giờ đây, nghe tin Chị Hai mất ba tháng rồi, mà lòng tôi còn thổn thức. Mùa Vu Lan năm nay, tôi thầm nhớ ơn chị, một cách nào đó tôi cũng có thể nói được là muốn «báo hiếu» đối với chỉ. «Hiếu» đây là hiếu đối với tấm lòng từ bi, thương xót, nâng đỡ tôi và gia đình tôi trong những lúc hoạn nạn, đau khổ. Mùa Vu Lan năm nay, tôi cũng khấn với má tôi rằng: «Má ơi, con hối tiếc vì khi má còn sanh tiền, con không có được một cử chỉ, lời nói nào làm má vui, mà má vẫn không hờn giận con, lại còn thương con nhiều hơn, lai láng như «nước trong nguồn chảy ra». Vậy thì con xin hứa với má là, như đã bao năm nay con vẫn hứa với Chúa, con sẽ tiếp tục báo hiếu má, bằng cách con sẽ ra tay giúp đỡ được đến đâu tốt đến đó các bà mẹ việt nam, cũng như những cô gái việt nam đến tuổi yêu đương để rồi làm mẹ. Mẹ nào thì con cũng coi như là mẹ con, để tất cả xứng đáng là Bà Mẹ Việt Nam.»

Fribourg 18-07-2007

Tác giả: Trần Ngọc Báu
   dunglac@gmail.com