Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Ngọc Báu
Bài Viết Của
Trần Ngọc Báu
Nhân Mùa Vu Lan: Nói Về "Báo Hiếu" Mẹ Từ Bi Nhân Hậu
Tìm hiểu về cuốn phim của Mel Gibson « Cuộc Khổ Nạn Của Chúa Kitô »
Con người không phải là Thần Thánh
Nói cho bạn trẻ hải ngoại: Sống bất cần Cha sinh Mẹ đẻ?
Từ lòng bao dung của người đến lượng bao dung của Đạo
AI TÂN TIẾN, AI LẠC HẬU

Nói Cho Bạn Trẻ Hải Ngoại

Hiện nay, Chính phủ Mỹ đang cổ võ cho tất cả trường học trên toàn quốc khuyến khích học sinh vận động thân thể nhiều hơn, bắt đầu bằng cách đi bộ hoặc đi xe đạp đến trường. Nghe vậy, có người nghĩ trong bụng rằng nước Mỹ ngày nay sao mà «lạc hậu» quá xá, thua xa Việt Nam ngày trước!

Thật vậy, trước 1975, tuyệt đại đa số học sinh Việt Nam đều đi bộ hoặc đi xe đạp đến trường, mà không cần phải có nhà nước khuyến khích gì ráo. Những chàng thư sinh có sống ở Huế vào thời đó vẫn còn thấy luyến tiếc những hình ảnh nên thơ của nữ sinh trường Đồng Khánh vào giờ tan học. Với quần trắng, áo dài trắng, chiếc nón «bài thơ» trắng, những tà áo «phin» trắng thướt tha trước gió, hàng ngàn nữ sinh kẻ đi bộ người đi xe đạp, lũ lượt kéo nhau nối dài những con đường dọc bờ sông Hương, lướt dài qua cầu Trường Tiền thành những vệt trắng lung linh di động, duyên dáng và thơ mộng làm sao ấy!

Thế rồi trong suốt mười năm sau, kể từ năm 1975, không riêng gì học sinh, mà toàn dân Việt Nam, từ già đến trẻ, từ thành thị đến nông thôn, mọi người đều đi bộ hoặc đi xe đạp, đi từ quê lên tỉnh và từ nhà ra phố, đến sở, đến trường. Lúc bấy giờ, người nước ngoài đến thăm Việt Nam đều lấy làm ngỡ ngàng trước cảnh một thành phố Saigòn bị tràn ngập mọi ngã đường bởi xe đạp và xe đạp. Họ nghĩ rằng Saigòn, hòn ngọc Viễn Đông trước kia, lúc bấy giờ đã hiên ngang trở nên thành phố «văn minh xe đạp». Vâng, lúc ấy có một vài du khách lạc loài đến Việt Nam không ngớt nức lòng khen ngợi : «Saigòn tân tiến quá!  Saigòn đẹp như mơ!».

BAO GIỜ MỚI CÓ MỘT NỀN «VĂN MINH XE ĐẠP» ?

Những người ngoại quốc nói trên nhìn Saigòn «văn minh xe đạp», như người ở tỉnh về quê nhìn cảnh người dân cày làm ruộng mà thèm thuồng tấm tắc : «Trông đẹp như mơ!». Chỉ những người ở tỉnh thuộc hàng trưởng giả thành thị hoặc những nhà «thơ thẩn» yêu đời, chưa hề biết chân lấm tay bùn là gì, mới biết khoái ngâm nga những vần ca dao đồng án do người dân quê làm ra. Họ ngâm nga thế cho người nông dân đầu tắt mặt tối làm lụng vất vả, suốt ngày tầm tã dưới mưa nắng thất thường. Mắt họ vẽ ra cảnh đồng quê thật an nhàn, tươi mát :

« Rủ nhau đi cấy đi cày,

« Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu.

« Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,

« Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa. »

« Xin ai đừng bỏ ruộng hoang,

« Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu. »

Đứng từ ngoài nhìn vào cảnh đồng quê «tấc đất, tấc vàng», hay nền «văn minh xe đạp» tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam -- mà thực chất trong đó người dân phải «xếp hàng cả ngày» để mua được vài lít gạo lúc bấy giờ --, người ngoại quốc có biết chăng người dân Nam phải có thật nhiều tiền «cụ Hồ» mới sấm nổi một chiếc xe đạp cho con đi học ! Họ chỉ mơ có được tiền rừng bạc biển để bước vào thế giới «văn minh xe hơi» thôi. Thì ra, người Việt đi bộ hay đi xe đạp vì nghèo, chớ chẳng phải vì đam mê một thứ «văn minh xe đạp» nào cả!  Ra đến nước ngoài, trong 100 người thì hết 99,99 người đều mơ tậu cho mau một chiếc xe hơi, xe «sang tay» xoàng xoàng nào cũng được, miễn là có đủ bốn bánh. Ngồi được vào chiếc xe hơi, thấy nó mát trong bụng làm sao ấy!  Ừ nhỉ, hết hồi «bỉ cực» phải đến thời «thái lai» chớ. Rồi mai đây mình cũng phải «tân tiến» như ai!

Riêng những ai đến Mỹ, công việc đầu tiên là bằng hết mọi giá phải sắm ngay xe hơi, vì không có xe hơi thì bị cụt giò cụt cẳng. Nhưng rồi dần dà có thêm tiền, người tị nạn Việt Nam không những sắm xe tàn tàn để dùng, mà còn sắm xe thật «xịn» để có thêm bề thế với người. Ở Âu Châu, cứ thấy những chiếc đầu đen lái xe Mercedes, Audi, BMW của Đức thì đoán chừng cũng có vài ba người trong 10 người là người Việt. Ở Mỹ, không thiếu người Việt chạy xe Mỹ, xe Đức, xe Nhật đời mới song song với những xe tồi tàn của người Mỹ chính cống.

Về thăm Việt Nam ngày nay, đa số người gốc Việt đều sững sờ nhìn thấy thành phố Saigòn «đổi mới», tấp nập xe cộ : Mercedes, Toyota, và nhất là xe gắn máy Nhật và Trung Quốc chạy ngập đường ngập xá, không còn chỗ cho người đi xe đạp… Bà con «Việt Kiều» thầm nghĩ rằng không ngờ Saigòn lúc này cũng «tân tiến» dữ dội, đâu còn «lạc hậu» như xưa ! Kể cả những người chống cộng hung hãn nhất cũng đành phải nhìn nhận là «bọn tư bản đỏ» ngày nay cũng biết ăn chơi tiêu xài ra phết, «tân tiến» không thua gì các nước tiền tiến ! Họ có thật «tân tiến» không, hay chỉ biết chạy «theo đuôi» thiên hạ?

Dĩ nhiên, xe hơi là một sản phẩm tân tiến hơn là xe đạp cộc cạch rồi. Nhưng đã chắc gì người đi xe hơi «tân tiến» hơn người đi xe đạp chớ! Ở Hòa Lan chẳng hạn, từ những năm 1960, đã có nhiều nhà giáo, văn sĩ, trí thức, học giả, bác học có đầu óc tân tiến đã ung dung dùng xe đạp để đi làm, đi dạo phố, đi nghỉ cuối tuần với gia đình. Và ngày nay, trên 14 triệu con dân Hoà Lan, đã có xấp xỉ 14 triệu chiếc xe đạp được dùng để di chuyển đó đây. Hòa Lan lại là nước tiên tiến trong các nước tiên tiến Âu Châu.

Trở lại chuyện chính phủ Mỹ khuyên con dân họ đi bộ hay đi xe đạp đến trường, ta thử xét lại xem lối di chuyển này «lạc hậu» hay «tân tiến». Số là các cuộc khảo cứu ở Mỹ cho thấy thanh thiếu niên Mỹ ngày càng lười vận động thân thể. Có đến gần nửa số thanh thiếu niên từ 12 đến 21 tuổi không tích cực tham dự vào các hoạt động thể dục thể thao thường xuyên. Do lối sống ăn no ngủ kỹ, số trẻ em từ 6 tuổi đến 11 tuổi mập phì đã gia tăng hơn gấp đôi, kể từ 30 năm trở lại đây. Người ta đã biết là bịnh mập khi còn nhỏ có thể tiếp tục đến khi lớn và gây ra nhiều thứ bệnh khác, như đau tim, cao huyết áp, bị tắc nghẽn mạch máu, bị tiểu đường, bị một số chứng bệnh ung thư và bệnh về bàng quang.

Vì những tác hại nghiêm trọng của bịnh mập, chính phủ Mỹ cổ võ cho tất cả trường học trên toàn quốc khuyến khích học sinh nên vận động thân thể, bắt đầu bằng việc tập đi bộ hay đi xe đạp đến trường. Các phụ huynh học sinh hãy dạy cho con cái biết thân thể người ta cần vận động mới khỏe mạnh và sống lâu. Đi bộ hoặc đi xe đạp đến trường hàng ngày là nhằm giúp cho học sinh có thói quen vận động, bớt ngại, bớt làm biếng khi nghĩ đến việc phải chạy, phải nhảy, phải ném banh hay đá bóng. Hơn nữa, tự nguyện đi bộ hay đi xe đạp đến trường và chơi các môn thể thao sẽ giúp tăng cường tinh thần độc lập, tự tin, yêu đời nơi giới trẻ và còn có thể giúp gia tăng khả năng học tập cũng như giúp cho đầu óc thêm minh mẫn nữa.

Như vậy, người Việt Nam buộc lòng phải đi bộ hay đi xe đạp vì nghèo so với người Mỹ tự nguyện đi bộ hay đi xe đạp vì những lợi ích thiết thực cho bản thân, người nào tân tiến hơn ? Còn tân tiến hơn cả người Mỹ nữa, người Hòa Lan đi bộ hay đi xe đạp không chỉ vì lợi ích của bản thân, mà còn vì lợi ích của xã hội ngày nay và về sau nữa. Họ quyết tâm đi xe đạp, vì ý thức được rằng cần phải bớt xả khói xăng ra bầu khí quyển, để cho con người ngày nay còn có khí trong để thở, để cho thời tiết bớt bị hâm nóng lên, và để cho con cháu mai sau còn có đất lành để dung thân… Ờ, thường thì cái mới phải hơn cái cũ, nhưng con người tân tiến không nhất thiết phải là người biết xài đồ mới, mà là người có đầu óc canh tân vậy! Ngày nào thì nhân loại mới tiến đến được một nền «văn minh xe đạp» đây ?

THỜI NÀO «CÓ TIỀN MUA TIÊN CŨNG ĐƯỢC» HẾT !

Với cái tính tiếu lâm dí dỏm nhẹ nhàng nhưng không kém phần thâm độc, người dân Saigon ngày nay chế diễu chế độ cộng sản với bài vè châm biếm sau đây:

« Tiền là tiên là phật,

« Là sức bật của con người,

« Là nụ cười tuổi trẻ,

« Là sức khỏe ông già,

« Là cái đà danh vọng,

« Là cái lọng che thân,

« Là cán cân công lý. »

Ờ thì mới năm nào đây thôi, chế độ «xã hội chủ nghĩa» tại Việt Nam hô hào cả nước «tiến nhanh, tiến mạnh, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội» để mọi con dân sớm được bình đẳng với nhau, không còn giai cấp bóc lột, không còn người giàu kẻ nghèo, ai ai cũng ăn đồng chia đều, và xã hội sống có tình có lý với nhau nhiều hơn, văn minh hơn, tân tiến hơn xưa. Đảng cộng sản thì không ngớt rêu rao «tất cả là vì lợi ích của dân».

Trước 1975, đã có vị tổng thống miền Nam Việt Nam dặn dò : «Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm». Đúng, hãy nhìn kỹ, cộng sản ngày nay làm hay lắm, «tân tiến» lắm các bạn ơi ! Bây giờ họ nêu thật cao và đánh thật bóng khẩu hiệu «dân giàu nước mạnh» của thời ông bà ta. Thế là họ xung phong đi đầu để làm gương cho bà con ta noi theo. Dĩ nhiên, các quan lớn quan nhỏ cộng sản ngày nay dễ dàng trở thành những nhà «tư bản đỏ», nhờ đảng và nhà nước cho phép tập tành làm ăn theo kiểu «kinh tế thị trường» kể từ khi có chính sách «đổi mới».  «Đổi mới» tức là chịu «canh tân» để trở thành người «tân tiến» đó, thưa bạn.

Thế là tiền bạc rủng rỉnh đổ đầy túi các quan viên lớn nhỏ, để rồi từ đó hy vọng họ sẽ bố thí lại cho con dân được nhờ. Đồng tiền đã nghiễm nhiên khôi phục lại ngôi vị bá chủ của mình. Thật vậy, thời đại «đổi mới» là thời đại kim tiền, thời đại của «tiền là tiên là phật», phe phẩy, nhởn nhơ lộng hành trên xã hội hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, xin các bạn thử xét lại xem, đâu có phải chỉ có chế độ cộng sản Việt Nam ngày nay mới biết «tiền là sức bật của con người», là «cái lộng che thân», là «cán cân công lý»!  Đúng như người xưa nhận xét : «Vạn sự chỉ ư tiền», mọi sự đều do tiền chi phối hết!  Như vậy, đã có gì «đổi mới» đâu!

Thì ra, người xưa đã từng cảnh giác sức chi phối mãnh liệt của đồng tiền đối với con người và xã hội loài người. Đặc biệt hơn cả chính là sức công phá của đồng tiền đối với luật pháp, công lý, luân lý, như tục ngữ có câu  «kim ngân phá luật lệ», hoặc «nén bạc đâm toạc tờ giấy», hay «tiền bạc đi trước, mực thước đi sau». Như vậy, không chỉ có thời nay mới biết cho rằng «lắm tiền nhiều bạc là tiên trên đời»!  Tuy nhiên, đối với chuyện tiền bạc, người thời nay chắc phải có nhiều mánh mung «tân tiến» hơn người xưa chớ?

Thực vậy, ngày nay, trong phạm vi quốc gia, vùng miền hay quốc tế, người ta chỉ biết có một thứ ngôn ngữ, đó là ngôn ngữ của lợi nhuận, của kim tiền. Nghĩa là tất cả những quan hệ giữa người và xã hội loài người đều chủ yếu dựa vào thế lực của đồng tiền. Ai có khả năng thâu tóm được càng nhiều tiền và càng nhanh thì càng hùng càng mạnh. Do đó, để làm giàu nhanh hơn, các tổ hợp kinh doanh tìm cách kếp hợp lại với nhau trong phạm vi vùng miền và thế giới để giảm thiểu chi phí hành chánh và nhân sự, và để củng cố thêm thế thượng phong trong các cuộc cạnh tranh sống mái quyết liệt trên bàn cờ quốc tế. Hậu quả là người ta sa thải không thương tiếc hàng loạt công nhân, dựng lên những xí nghiệp làm «gia công» ở các nước nghèo là những nước đang sẵn sàng ngửa tay ăn mày đồng lương bóc lột của ông chủ tư bản quốc tế. Chính phủ các nước nghèo, như nước Việt Nam ngày nay, thì sẵn sàng cấu kết với tư bản quốc tế để chia nhau làm giàu trên đầu trên cổ con dân họ. Tất cả là vì tiền thôi!

Như vậy, bạn thử nghĩ xem có cái gì thật mới giữa xưa và nay không. Hay có cái gì thật khác biệt giữa xưa và nay không. Nói thật ra, cái mới giữa xưa và nay chính là cái khác biệt quan trọng này: người xưa tuy cũng biết giá trị của đồng tiền như người ngày nay, nhưng không hề biết tuyệt đối tôn thờ tiền bạc như người ngày nay. Thời đó, dư luận dân gian thường miệt thị những người giàu sang phú quí. Tục ngữ ca dao Việt Nam không thiếu những lời bình phẩm chua cay đối với giới người giàu :

« Miệng nhà quan có gan có thép,

« Đồ kẻ khó vừa nhọ vừa thâm. »

Thật vậy, miệng «nhà quan» quyền thế và giàu sang thì thế nào lại chẳng nói ra những lời gan thép sắc bén chết người. Còn «đồ quí» của kẻ khó thì lọ lem xấu xí, làm gì dám so bì với con nhà quan được ! Ngoài ra, miệng lưỡi của người giàu thường thốt ra những lời vàng ngọc cả:

« Vai mang túi bạc kè kè,

« Nói quấy nói quá người nghe rầm rầm. »

Hơn nữa, thời xưa người ta càng không coi đồng tiền là động lực duy nhất thúc đẩy cái gọi là tiến bộ kinh tế- xã hội!  So với thế giới ngày nay «ngựa xe như nước, áo quần như nêm», thì thời xưa quả là «lạc hậu»!  Ừ thì thế giới ngày nay có tiến bộ hơn xưa, nhưng tiến bộ là tiến về đâu đây?  Về thời con người ăn lông ở lổ, mạnh được yếu thua,  đạp đổ nhau mà sống, chèn ép nhau mà tiến chăng?  Trong lịch sử loài người, chưa có thời nào mà người giàu, chẳng những giàu nứt tường, mà còn giàu nứt tuốt luốt cả nhà băng và kho bạc nhà nước nữa. Còn người nghèo không chỉ nghèo hèn, mà còn nghèo đói đến phải chết hằng triệu triệu người ! Như vậy, con người có ăn có học ngày nay thật ra có đầu óc và nếp sống tân tiến hơn người xưa chăng, hay ngược lại là còn lạc hậu gấp bội phần nữa? 

THỜI NAY, CÒN AI COI « MIẾNG ĂN LÀ MIẾNG TỒI TÀN » ?

Thử lấy ví dụ trong lãnh vực nông nghiệp. Bạn có biết chăng hiện nay trên thế giới, cứ mỗi một phút đồng hồ, có khoảng 70 người chết vì đói, trong số đó có 8 em bé dưới 10 tuổi?  Dĩ nhiên, người dân các nước kỹ nghệ có chết vì tai nạn xe cộ thì nhiều, chớ hiếm có chuyện chết quay ra vì đói. Oái oăm là tại các nước nông nghiệp, chuyên sản xuất ra của ăn, lại có lắm người chết đói!

Quả thế, được biết, trên quả địa cầu ngày nay, mỗi ngày có khoảng 100 ngàn người chết vì đói và vì nghèo đói. Có 826 triệu người thiếu ăn thường xuyên và trầm trọng. Và có 2 tỷ người đang sống «dưới mức nghèo khó», nghĩa là không có đồng lương cố định, không có việc làm vững chắc, không có nhà ở phải chăng, không được chăm sóc sức khỏe, không có nước sạch để dùng, và không được đi học!  Nói cách khác, cuộc sống của họ bấp bênh với bữa đói bữa no, không bằng lấy một gốc nếp sống kiêu sa của hàng trăm triệu con chó nhà giàu chẳng hạn.

Với nỗ lực điều hợp của Tổ chức Lương nông Quốc tế (FAO) của Liên Hiệp Quốc trong những điều kiện canh tác tân tiến hiện nay, lẽ ra trái đất đã có thể sản xuất đủ lương thực để nuôi sống 12 tỷ người, đang khi hiện nay dân số thế giới chỉ mới có 6 tỷ thôi. Thế mà nạn đói chẳng những chưa được khắc phục, mà lại càng ngày càng gia tăng hoành hành hơn trước. Không lẽ xã hội tân tiến ngày nay tập cho con người «tân tiến» chỉ biết thụ hưởng cho mình, đến đỗi lòng người  trở nên khô cằn, chai đá, độc ác, và con người cư xử bất nhân với nhau hơn cả thời còn ăn lông ở lổ chăng?!

Nhưng tại sao phải đói chớ?  Dĩ nhiên là tại người ta không kiếm ra tiền để nuôi thân. Mà tại sao không kiếm ra tiền?  Chắc chắn phần lớn là tại vì nhà nước không tạo được công ăn việc làm cho con dân . Tệ hơn nữa, có thể tại vì nhà nước tham ô, móc ngoặc với các thế lực kim tiền, phe phẩy ăn trên ngồi trốc, để cho các nhà tư bản tha hồ chèn ép, bóc lột, bần cùng hóa dân chúng. Nhưng cũng có thể vì hệ thống kinh tế thế giới không cho phép các nước nghèo cạnh tranh nổi với các nước giàu cả về kỹ thuật lẫn về tài chánh. Chẳng hạn, các nước nghèo phải vơ vét tất cả để xuất cảng các nông sản ngon nhất, tốt nhất, hoặc có thể bán được cho dù với giá rẻ mạt, để giúp cho con dân họ sống qua ngày, đang khi nông sản của các nước giàu được nhà nước nâng đỡ, «bù lỗ» để cạnh tranh với thị trường nông sản thế giới. Ờ đã nói tự do cạnh tranh, thì người ta tất nhiên phải giành ăn theo qui luật «mạnh được yếu thua» và chẳng còn mấy ai coi «miếng ăn là miếng tồi tàn» nữa. Dĩ nhiên rồi, thời buổi kinh tế thị trường mà lấy đạo đức ra làm kinh tế thì còn gì «lạc hậu» bằng, người thời nay nghĩ vậy!

Nào, ta thử ôn cố tri tân xem nào! Từ nghìn xưa, dân tộc Việt Nam từng chứng minh là một dân tộc cần cù, chịu khó làm ăn, tự lực cách sinh, tự lo xoay sở kiếm sống và đã sống còn trong những điều kiện khắc nghiệt của những vùng phong thổ đất đai khô cằn, keo kiệt. Tuy vậy, lúc nào họ cũng cố gắng giữ tư cách và phẩm giá làm người : «lành cho sạch, rách cho thơm».  Đạo đức đến thế là cùng!  Nhưng khi bất trắc phải sa cơ thất thế vì những vụ hạn hán, lũ lụt, mất mùa, họ cũng đành ngậm đắng nuốt cay cam chịu cảnh đói rách cùng cực đến nỗi có khi phải mất vợ đợ con, như tục ngữ có câu :

« Thiếu thuế mất vợ,

« Thiếu nợ mất con ».

Ngày nay, tuy vẫn còn sợ mất vợ mất con vì những rủi ro bất trắc xảy ra, người dân Việt Nam và dân các nước nghèo còn thường trực bị đe dọa phải đánh mất ngay chính bản thân mình vì phải chật vật kiếm sống. Thực vậy, không phải vô cớ mà tại Việt Nam ngày nay và nhiều nơi trên thế giới, nạn đĩ diếm lan tràn từ thành thị đến nông thôn. Một mặt, người ta thẳng tay bóc lột số người lao động để làm giàu, và mặt khác, với số còn lại, người ta tìm cách bốc lột trên thân xác của họ, bằng cách xô đẩy số người thất nghiệp, đói rách, vào con đường bán trôn kiếm sống. Tệ nạn mãi dâm như con bạch tuột hoành hành khắp nơi trên thế giới, không chỉ lôi kéo những đàn bà con gái vào con đường bán thân nuôi miệng mà thôi, mà còn đưa đẩy cả con trai đi làm đĩ đực và đày đọa thân xác con nít cho bọn người khai thác tình dục xài xể thả dàn nữa. À, ngày nay người ta không chết vì đói, thì cũng chết mòn vì phải đánh mất tất cả phẩm giá làm người thôi!

Cái khác biệt lớn lao nhất giữa xưa với nay chính là ở thời buổi tân tiến, cái gì người ta cũng «toàn cầu hóa» được hết. Đã có những hệ thống quốc tế khai thác thị trường lao động, thì cũng có hệ thống quốc tế khai thác thị trường mãi dâm. Cá nhân đơn dộc làm sao chống lại nổi cả một guồng máy quốc tế?  Đã thế, mấy ai ngày nay còn nghĩ đến phẩm giá làm người của những con người phải đánh mất cả phẩm giá của họ chỉ vì phải kiếm chút «miếng ăn tồi tàn» để vất vưởng sống còn?  Nói cách khác, mấy ai còn nghĩ rằng «miếng ăn là miếng tồi tàn» để không thừa cơ bóc lột đến hai lần trên bản thân kẻ bần cùng đói rách:  lần thứ nhất là cướp nồi cơm của họ, và lần thứ hai là đem chút cơm chim ra nhử họ để cướp cả thân xác của họ?  Thật vậy, ngày nay mấy ai còn biết chia cơm sẻ áo cho kẻ sa cơ thất thế, vì ý thức rằng họ cũng có phẩm giá làm người như chính mình?  Thử xét lại xem, thời đại gọi là văn minh tiên tiến ngày nay có thật «tân tiến» hơn xưa, hay ngược lại là còn bội phần «lạc hậu» hơn bao giờ hết, thưa bạn?

BÀ MẸ QUÊ VIỆT NAM NÀO BIẾT «LẠC HẬU» LÀ GÌ !

Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ năm 1989 và tiếp theo sau là khối cộng sản Liên Xô tan rã, cả thế giới nao nức ăn mừng!  Từ đấy, người ta tin rằng, trên trái đất này, cái quyền được làm người đã vĩnh viễn toàn thắng trên khổ nhục và đói rách! Nhân loại tràn đầy hy vọng trước viễn tượng một thế giới hòa bình, thịnh vượng, ấm no, ổn định mãi mãi, như đâu lịch sử loài người đã tất yếu «chấm dứt» ở cuối con đường tiến hóa của nó rồi. Toàn cầu đạt đến mức cực kỳ «tân tiến» rồi, bà con ơi, không còn phải mong đợi gì nữa ráo!

Thật vậy, năm 1989, quân đội cộng sản Việt Nam rút ra khỏi Cam Bốt và trả lại quyền tự quyết cho dân tộc Khờ Me. Năm 1990, Nam Phi da trắng đã trả tự do cho nhà lãnh tụ da đen Nelson Mandela sau 27 năm tù tội, và năm 1994 tên tù chung thân Mandela đã trở thành tổng thống dân cử đầu tiên của Nam Phi ngày nay. Năm 1993, Âu Châu dứt khoát bước vào tiến trình «chung sống hòa bình» với việc thực thi nghiêm túc hiệp ước Maastricht. Năm 1994, kháng chiến quân Công giáo và phe cánh Tin Lành ở Bắc Ái Nhĩ Lan (Âu Châu) đã chấp nhận ngưng chiến và bước vào bàn hội nghị. Năm 1995, hai kẻ thù không đội trời chung là Israel và Palestine đã đạt được hòa uớc lịch sử Oslo, chấm dứt cuộc xung đột đẫm máu dằng dai tại Trung Đông. Cuộc xung đột đẫm máu ở vùng Ba Nhĩ Cán (Âu Châu) cũng thành đạt một hòa ước giữa ba nước anh em Serbie, Croatie và Bosnie. Năm 1996, ngưng chiến giữa Nga và phong trào dành độc lập Tchétchénie. Năm 1998, nước cộng sản Cuba hân hoan tiếp đón Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đến thăm. Năm 1999, 7 nước giàu nhất thế giới họp tại Cologne (Đức) đã đồng ý xí xóa tất cả các món nợ của 40 nước nghèo nhất thế giới. Năm 2000, thế giới tổ chức liên hoan ăn mừng lớn việc chấm dứt một thiên niên kỹ đầy loạn lạc và máu me, để chuẩn bị bước vào một thiên niên kỷ mới an bình, huy hoàng và phúc lạc!

Thế nhưng, loạn lạc và chiến tranh chẳng những chưa chịu chấm dứt hẳn ở Bắc Ái Nhĩ Lan, các vùng Ba Nhĩ Cán, liên bang Nga, Trung Đông, Ấn-Hồi, Đông Nam Á, và Nam Mỹ, mà lại có mòi lan rộng thêm ra. Bằng chứng hiển nhiên là năm 2001, năm đầu của thiên niên kỷ thứ ba, đã thực sự mở màn bằng một cuộc tấn công kinh hoàng của bọn không tặc árạp đánh vào nước Mỹ. Họ đã dùng máy bay dân sự đánh sập hai tòa nhà chọc trời ở Nữu Ước và một gốc của Ngũ Giác Đài, tượng trưng cho quyền lực kinh tế và quân sự của siêu cường số một thế giới!  Oái oăm thay, ngay vào năm thứ nhất của thiên niên kỷ thứ ba, toàn cõi địa cầu lại rơi vào tình trạng bất ổn và chiến tranh. Chưa bao giờ loài người bị ám ảnh ghê gớm bởi cuộc chiến tranh khủng bố toàn cầu như hiện nay. Khắp nơi nơi, người người nơm nớp lo sợ, vì bất luận nơi nào trên thế giới cũng đều có thể bị khủng bố tấn công được cả! Mà thật ra bọn khủng bố đã có mặt khắp nơi, đang khi các lực lượng chống khủng bố cũng dàn ra cùng khắp. Thịt rơi, máu đổ đã thấy tung tóe đó đây!  Thế Chiến Thứ Ba đã thực sự bắt đầu rồi chăng?!

Thế là ở vào thời đại tân tiến nhất của loài người, chiến tranh vẫn là món đòn hữu hiệu nhất để tranh sống và giành ăn giữa loài người với nhau!  Đó đây người ta lại nghe bàn toàn một giọng điệu phải hạ cẳng tay thượng cẳng chân, đấm đá nhau chí tử, sát phạt nhau không thương tiếc, thẳng tay giết người hằng loạt, để bảo vệ quyền lợi sở đắc của phe nhóm mình. Thật vậy, cuộc sống càng đáng sống thì càng đáng được đổ máu ra nhiều hơn để bảo vệ nó. Mà có thời nào cuộc sống con người được thoải mái, phè phỡn, dư thừa, xa xí, đầy khoái lạc hơn thời nay đâu?  Thế thì cuộc chiến để bảo vệ nó cũng phải cực cùng ghê rợn hơn bao giờ hết. Rồi ra, bạo lực sẽ đẻ thêm bạo lực. Nợ máu sẽ đòi thêm nợ máu. Vũ khí tân kỳ mà con người nắm được trong tay hiện nay cũng đủ để phá hủy hằng ngàn quả địa cầu giống như quả đất này rồi ! Thế mà người ta vẫn còn đua đòi chế thêm vũ khí giết người hằng loạt nữa!  Thời ông bà ta còn ăn lông ở lổ, có uýnh nhau giết nhau, thì cũng có nơi có chỗ, có chừng có mực. Nhưng thời nay «tân tiến» hơn nhiều,  chiến tranh gì cũng sẽ bao cấp toàn cầu và toàn diện thôi!

Dĩ nhiên, cũng như nạn đói và nạn mãi dâm, chiến tranh cũng không thể vô cớ từ trời rơi xuống hay từ đất nẩy lên. Thời buổi kinh tế phát triển, thì lòng tham vô đáy cũng phát triển không ngừng. Người ta tham ăn, tham mặc, tham làm đẹp, tham đú đỡn, tham khoái lạc, tham sống vội, tham hưởng thụ, chớ đâu có quê mùa như bà mẹ Việt Nam trước đây suốt đời chỉ biết quên mình vì chồng vì con đâu ! Mà đã tham thì thâm, và đã thâm thì độc, đã độc thì hại cả người lẫn mình!  Lòng tham không còn là chuyện riêng rẻ từng người nữa, nên chẳng ai màng nói đến chuyện tu thân. Ngày nay, lòng tham đã được «toàn cầu hóa» cùng với trào lưu toàn cầu hóa kinh tế, chính trị, xã hội, và cả chiến tranh nữa, dĩ nhiên. Càng đua đòi ham sống, người ta càng ham tìm cách triệt hạ nhau để được sống ngon hơn. Thế mới biết thời buổi văn minh, con người ta «tân tiến» siêu đẳng đến mức dám liều thí mạng kẻ khác để phe ta được sống phây phây một mình.

Thật vậy, tham vọng đã được đề cao như một đức tính cao quí của thời đại tân tiến. Chẳng hạn, phụ nữ ngày nay phải có tham vọng đạt đến những địa vị chính trị, kinh tế, xã hội và có đầy đủ tự do ngang bằng với bọn mầy râu, như tự do đi đứng, tự do ăn nói, tự do đồng tính luyến ái, tự do làm tình, tự do ly dị, tự do tái hôn, v.v.. Có như thế, người phụ nữ tiên tiến ngày nay mới thật sự đảm đang ngàn lần hơn phụ nữ quê mùa thời xưa, chỉ biết vá áo túi cơm thôi. Đáng phục thay! Nhưng quái lạ là, đối với người Việt Nam, hình ảnh của người phụ nữ ngày nay không thể nào sánh bì với hình ảnh bà mẹ quê họ hằng ôm ấp trong lòng.

Thật vậy, mấy ai không thuộc vài câu của bài hát «Bà mẹ quê» của Phạm Duy đã vấn vương mang máng trong lòng ngay từ cái tuổi thiếu thời :

 « Mẹ quê vất vả trăm chiều,

 « Nuôi một đàn con chắt chiu.

 « Bà mẹ quê, đêm sớm không nề hà chi.

 « Bà mẹ quê, ngày tháng không ao ước gì.

 « Nhỏ giọt mồi hôi vì đời trẻ vui… »

 Và không hiếm người đã từng thì thầm ngân nga bài «Lòng mẹ » của Y Vân mỗi khi thơ thẩn nhớ về Quê Mẹ :

« Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào.

« Tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào.

« Lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.

« Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu… »

 Vâng, bà mẹ quê không hề biết «lạc hậu» là gì, bởi lòng mẹ bao giờ cũng mới, mới mãi, mới như mỗi sáng bình minh rạng rỡ, tỏa hơi ấm trên mái lá thôn nhà, ôm ấp đàn con chắt chiu. Hình ảnh bà mẹ quê nơi lòng người Việt tha hương luôn luôn là hình ảnh một người phụ nữ cao quí, đáng yêu, và muôn thuở bất diệt vậy !

Tác giả: Trần Ngọc Báu
   dunglac@gmail.com