Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Văn Đoàn
tran@ntu.edu.tw
Bài Viết Của
Trần Văn Đoàn
Chương VII: Những Trường Phái Thông Diễn Học - Trường Phái Dilthey-Betti
Tinh hoa ý thức hệ của Việt Nho
Hiện tượng học tại Việt Nam - Phenomenology in Vietnam
Trang nối kết
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 4: Kết luận: những đề nghị
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 3: Hệ thống đào tạo tín chỉ tại ĐHQG
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 2: Sứ Mệnh, Mục Đích, Mục Tiêu của ĐHQG.
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 1: Thế nào là tín chỉ, đào tạo tín chỉ ?
Tưởng Niệm Cụ Kim Định - In Memoriam Dominici Luong Kim Dinh
Mẫu tính trong văn hoá Việt
Sự Thiết Yếu của Tự Do Nghiên Cứu.
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ - BÀI 1: THẾ NÀO LÀ TÍN CHỈ, ĐÀO TẠO TÍN CHỈ ?

1. Thế nào là tín chỉ, đào tạo tín chỉ.
2. Sứ Mệnh, Mục Đích, Mục Tiêu của ĐHQG.
3. Hệ thống đào tạo tín chỉ tại ĐHQG.
4. Kết luận: những đề nghị.

*************

Bản Góp Ý này được viết ra sau gần hai tuần (từ ngày 15 đến 27 tháng giêng năm 2007) học hỏi và trao đổi ý kiến với qúy ban giảng huấn và nhất là với ban lãnh đạo ĐHKHXHNV (Đại Học Quốc Gia Việt Nam) tại Hà Nội về việc chuyển đổi thể chế giáo dục đào tại hiện tại thành hệ thống tín chỉ.[1] 

Bài viết sau đây gồm ba phần chính: (1) phần thứ nhất đặt lại lối nhìn về ý nghĩa của tín chỉ, và hệ thống tín chỉ; (2) phần thứ hai bàn về sứ mệnh, mục đích và mục tiêu của đại học, cách chung, và của hai Đại Học Quốc Gia Việt Nam, cách riêng; (3) và cuối cùng, phần thứ ba về hệ thống đào tạo tín chỉ, phương thế lập một lịch trình đào tạo và cách thế soạn một lớp học, hay một lớp thảo luận. (4) Phần kết luận đưa ra một số đề nghị với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo và hai Đại Học Quốc Gia Việt Nam tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. 

I. THẾ NÀO LÀ TÍN CHỈ, ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ 

Nhận ra sức mạnh của nền giáo dục đại học Mỹ, và để hội nhập vào thế giới, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (sau đây viết tắt BGDĐT) đã ra quyết định chuyển đổi thể chế đại học hiện nay sang hệ thống tín chỉ vào năm 2001. Tuy nhiên, cho đến năm 2006, chỉ có một số rất ít đại học đã chuyển sang hệ thống này. Thành công hay không, đó là một chuyện mà đại đa số các nhà giáo dục đương thắc mắc.[2] Một trong những lí do chính yếu khiến nhiều thức giả ưu tư, đó là những câu hỏi như tín chỉ là gì, có gì chứng minh được tính chất ưu việt của hệ thống tín chỉ vẫn chưa được trả lời thỏa đáng. Đồng thời, dẫu cho rằng hệ thống đạo tạo đại học Mỹ có hay đến đâu đi nữa, thì ta đã hội đủ điều kiện để đi theo một con đường như vậy không. Những vấn nạn tương tự như vậy phát sinh từ, tôi thiển nghĩ, một sự thiếu minh bạch về tín chỉ, và từ sự hiểu biết phiến diện đồng nhất hệ thống tín chỉ với hệ thống đại học Mỹ.

 

1.1.         Ý Nghĩa của Tín Chỉ  

Ta thường nhầm lẫn đồng nghĩa tín chỉ với một phương thức đào tạo nào đó mà ta tin tưởng cho là hay nhất, hay được một cường quốc nào đó áp dụng.[3] Thực ra, tín chỉ (credit) (mà người Tầu dịch theo phân lượng gọi là học phân) là một quan niệm dựa trên sự tín nhiệm (credentia), tự xác tín (credere) vào khả năng (capax/capacity) cũng như năng lực (abilitas/ability) của người đối tác (thầy giáo, học viên, nhân viên, v.v.). Trong kinh tế, thương mại, hay trong giao tiếp thường nhật chữ tín (credentia) luôn được coi như là một đức tính, một nguyên tắc thiết yếu không thể thiếu. Người Hoa thường giao tiếp với nhau dựa trên chữ tín (qua giao tiếp, quan hệ) chứ không nhất thiết trên văn bản, trong khi người Âu Mỹ tin tưởng vào đối tác dựa trên văn bản (bằng cấp, chứng nhận, giới thiệu, khế ước, v.v.) được pháp luật quốc gia, giáo hội hay quốc tế bảo đảm. Chính vì vậy những thuật ngữ như vay tiền, hay nợ tiền, giao trách nhiệm, chịu trách nhiệm, công lao, ngân hàng tín dụng (credit, accredited, credit-bank, v.v.) đều gắn liền với chữ tín (credibility). Trong ngoại giao, từ ủy nhiệm, trình uỷ nhiệm thư (credentials), v.v. cũng phát xuất từ chữ tín nói trên.

 

Đưa vào trong hệ thống giáo dục, tín chỉ mang nghĩa là sau một khóa học, hay một quá trình học tập và đào tạo, học viên có đủ khả năng, năng lực và trình độ đáng để chúng ta tin cậy.[4] Hay nói cách khác, sau một học trình, nếu học viên theo đúng lối huấn luyện, tập luyện... thì chắc sẽ có một khả năng, hay một năng lực đạt được mục đích đã đặt ra. Thí dụ, sau 20 (hay nhiều hơn) tiết lý thuyết về luật lái xe, về những kiến thức căn bản về kỹ thuật xe, và sau 20 (hay nhiều hơn) giờ tập luyện lái xe theo đúng những chỉ dẫn, qua từng giai đoạn, vân vân, thì học viên có thể có một khả năng (capacity) hiểu biết, áp dụng vào hoàn cảnh giao thông và một năng lực kỹ thuật (ability) có thể tự lái xe.

 

Trong qúa khứ, văn bằng là một chứng minh về khả năng và năng lực của học viên. Lẽ dĩ nhiên, văn bằng này chỉ có thể có nếu học viên có đủ năng lực hay khả năng quy định. Ngày nay, vì sự bùng nổ đại học, lạm phát văn bằng, quản lý lỏng lẻo tạo ra chất lượng thấp kém, nên ngoài văn bằng, phải thêm giấy chứng nhận, lời giới thiệu... của nhà trường, ban giáo sư. Hơn thế nữa, chúng ta còn đặc biệt chú ý đến qúa trình học thuật, đào tạo của người đương xin việc.[5] Chính vì vậy mà khi xin việc, ta thường được phỏng vấn. Người cho việc giám định khả năng và năng lực của người xin việc qua việc giám định tất cả qúa trình đào tạo. Nói cách khác, ngày nay chúng ta không chỉ dựa vào năm học hay văn bằng mà thôi, mà quan trọng hơn, vào chính khả năng hay năng lực của học viên.[6] Như vậy, ta có thể nói, tín chỉ là sự chứng nhận khả năng, năng lực naò đó của học viên sau một khóa học, và hệ thống tín chỉ là cả một lập trình đào tạo giúp học viên có khả năng và năng lực mưu sinh sau khi tốt nghiệp.

 

1.2.         Đào Tạo trong Qúa Khứ 

Tại các nước Âu châu, Mỹ châu và cả Á châu, chúng ta thường đào tạo đại học theo thời gian bao nhiêu năm (niên học, academic year), và theo tuổi tác. Một lối nhìn như vậy, tương đối có cơ sở, và khá hợp lý.[7] Vào một số tuổi nào đó, học viên có thể học những môn gì căn bản, rồi sau đó lên tới năm thứ hai, rắc rối hơn, năm thứ ba chuyên môn hơn, và năm thứ tư chuyên biệt hơn.[8] Do đó tại Mỹ, ta từng phân biệt theo lớp: lớp năm đầu (freshmen/women)), lớp năm thứ hai (sophomores), lớp năm thứ ba (juniores) và lớp năm thứ tư (seniores). Tại Anh, đại học chỉ có ba năm, nhưng trước đó cần hai năm dự bị (trung học cấp 1, 3 năm, cấp 2, 2 năm và 2 năm dự bị). Rất nhiều nước Âu Mỹ, và các trường quân đội trên toàn thế giới vẫn còn theo hệ thống niên học này. Tại Việt Nam, cho đến nay, chúng ta vẫn áp dụng hệ thống niên học (hay niên chế). Trước đây ta theo Pháp, đại học có một năm dự bị và 3 năm cho cử nhân. Đã có một thời ta áp dụng hệ thống của Nga, nhưng tựu trung vẫn theo hệ thống niên học.

Chỉ vào lịch sử gần đây, một số nước đi tiên phong, cải cách hệ thống niên học thành hệ thống lục cá nguyệt (semester system), hay theo tổng số các học phần cần thiết, và do đó, tạo ra hệ thống tín chỉ. Theo hệ thống lục cá nguyệt như ở Đức, Áo, Thuỵ Sỹ (vùng Đức ngữ) và các nước Bắc Âu, ta thường thấy học viên không theo qui định niên học, từ năm thứ nhất tới năm thứ hai, vân vân, nhưng tùy theo sức học của mình. Họ có thể tự sắp xếp thời giờ và chọn lựa tùy theo khả năng để dự các lớp học, thảo luận hay nghiên cứu. Tuy nhiên họ bắt buộc phải học hết bao nhiêu tiết học (về chuyên môn, về những môn căn bản tri thức, về những kiến thức tương quan) thì mới được cấp bằng tốt nghiệp.[9]

 

Tính theo tiết học, thông thường trung bình 16 tiết học (hay 32 tiết thảo luận, hay 48 tiết thí nghiệm, thực nghiệm) được tính bằng một tín chỉ.[10] Để tốt nghiệp, học viên cần từ 120 tới 140 tín chỉ, tùy theo trường, và tùy theo bộ môn. Như vậy, một sinh viên giỏi hay chăm học có thể hoàn tất cử nhân trong 3 năm (6 lục cá nguyệt), trong khi thông thường là 4 năm (8 lục cá nguyệt), và những người chậm có thể kéo dài tới 6 năm (12 lục cá nguyệt). Tương tự, sinh viên ưu tú có thể hoàn tất bằng Thạc sĩ trong vòng 2 lục cá nguyệt, và Tiến sĩ trong vòng 6 lục cá nguyệt, trong khi trung bình phải mất 4 tới 6 lục cá nguyệt mới xong Thạc sĩ, và 8 tới 16 lục cá nguyệt mới xong Tiến sĩ.[11]

 

Vào đầu thế kỷ 20, các đại học Mỹ học (cũng như các đại học hàng đầu của Nhật, đặc biệt “bát đế đại”,[12] theo mẫu của đại học Đức (đặc biệt ĐH Berlin). Hệ thống lục cá nguyệt được áp dụng một cách rộng rãi, và linh động. Họ không tính theo niên học, nhưng theo tổng số các tín chỉ quy định. Và từ đây ta thấy phát sinh hệ thống các đại học của Mỹ, mà ta gọi là hệ thống tín chỉ (credits system). Tùy theo mỗi đại học, hay bộ môn, hệ thống giáo dục tín chỉ không nhất thiết theo một mẫu mực nào. Như ta thường thấy, những đại học giỏi thường không đòi hỏi nhiều tín chỉ như các đại học trung bình, và thi cử cũng tương đối ít hơn. Tại các Đại học như Oxford, Cambridge, Harvard, MIT, Caltech, Stanford... sinh viên không có phải thi nhiều như các đại học hạng trung tại Mỹ[13] và tại Á châu. Thậm chí có thể nói, họ thi rất ít.[14] Tại các đại học này, khả năng, năng lực của sinh viên được ban giáo sư và nhất là đạo sư (tutor) giám định. Tại ĐH Oxford, mỗi đạo sư thường phải chịu trách nhiệm giám định và hướng dẫn 7 sinh viên. Mỗi sinh viên cần gặp đạo sư mỗi tuần, ít nhất một tiết học. Tại các đại học danh tiếng của Mỹ, những sinh viên mới nhập học đều phải chọn đạo sư, trong khi tại các trường nghiên cứu, cần phải có giáo sư hướng dẫn (director). Vai trò của đạo sư là hướng dẫn sinh viên chọn lớp, giám định học lực của sinh viên, và đôi khi, trợ giúp sinh viên khi gặp khó khăn (tâm lý, và cả nghề nghiệp...), trong khi vai trò của giáo sư hướng dẫn thường là vấn đề nghiên cứu (luận án, chuyên đề, phương hướng, v.v.).

 

1.3.         Đào Tạo theo Tín Chỉ

 

Đào tạo theo tín chỉ có tham vọng tạo cho mỗi học viên cái khả năng, hay năng lực cần có sau một qúa trình học tập. Thí dụ, sau khi tốt nghiệp, học viên có thể tự mưu sinh, tự lập công ty, làm một chuyên viên (kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, y tá, dịch gỉa, phóng viên, nhạc công, v.v.), một nhà giáo (trung hay tiểu học), công chức, v.v. Tương tự, sau mỗi khóa học học viên phải đạt tới một trình độ nào đó, điều mà tôi tạm gọi là mục tiêu (goals) hay mục đích công cụ (instrumental purpose). Mà những mục tiêu này giúp học viên có thể đạt tới mục đích (main purpose) của qúa trình học tập. Thí dụ, sau một khóa học như phát âm, thì sinh viên có đủ khả năng phát âm trúng bất cứ từ nào của ngôn ngữ anh hay cô ta đương học; sau một khóa học lái xe, thì học viên có đủ khả năng tự lái xe; và sau một khoá tập luyện bơi lội thì học viên có đủ năng lực bơi lội. Các khóa học phải sắp xếp một cách rất khoa học, từ căn bản đến phát triển, để có thể giúp các học viên đạt được năng lực và phát huy khả năng mà mục đích chính đã vạch ra.

Xếp đặt những lớp căn bản, làm mẫu mực là điều mà chúng ta gọi là giáo trình căn bản (syllabus).[15] Thí dụ, về sự khác biệt giữa giáo dục cao đẳng sư phạm và đại học sư phạm có thể thấy ngay từ cách xắp xếp môn học đến xác định nội dung cũng như cách thế giảng dậy. Nói cách khác, chỉ cần nhìn chương trình, các lớp căn bản (syllabus), chúng ta có thể biết được mục đích chính của hai trường ra sao. Để có thể có khả năng dạy tiểu học, học viên phải có khả năng sư phạm, tâm lý, xã hội và kiến thức phổ thông cũng như chuyên môn, đồng thời năng lực ăn nói hấp dẫn, dễ hiểu, sáng sủa, làm học sinh thích thú, chú ý, và dễ hấp thụ được kiến thức, v.v. Trong khi để trở thành giáo viên trung học, ngoài các môn trên, học viên cần có khả năng sâu hơn về chuyên môn. Và như vậy, đào tạo một giáo viên trung học đòi hỏi nhiều tín chỉ chuyên môn hơn, tức là nhiều lớp chuyên môn căn bản hơn.[16] 

Thế nên, bất cứ một hệ thống tín chỉ nào cũng cần đặt ra một mục đính chính và nhiều mục tiêu phụ (công cụ) giúp đạt tới mục đích chính này. Nói cách rõ ràng hơn, cả một qúa trình đào tạo (từ 120 tới 140 tín chỉ) nhắm tới một mục đích chính, trong khi mỗi khóa học (từ 2 tín chỉ tới 12 tín chỉ) nhắm tới một mục tiêu (mục đích phụ) giúp học viên có những năng lực hay khả năng cần thiết để đạt tới mục đích chính.

  

Hiểu như vậy, việc đầu tiên mà chúng ta phải đặt ra, đó là mục đích chính của đại học, và đặc biệt của Đại Học Quốc Gia (ĐHQG) Việt Nam. Bởi lẽ, chúng ta chỉ có thể xây dựng được một hệ thống tín chỉ khoa học chặt chẽ nếu chúng ta biết rõ mục đích chính của chúng ta là gì. Chỉ như vậy, các lớp học, nghiên cứu, thảo luận mới được sắp xếp, xây dựng để đạt tới mục đích chính. Thí dụ, nếu mục đích chính của ĐHQG nhắm đào tạo giới lãnh đạo trong mọi ngành, thì các môn học, các cách thế dạy học, nghiên cứu và cách thế tổ chức sẽ khác với bất cứ đại học nào khác mà mục đích chỉ là đào tạo chuyên gia, hay đào tạo công chức, hay giáo chức, hay những kiến thức thông thường...

Trong phần sau, chúng tôi xin bàn về sứ mệnh, mục đích và mục tiêu của ĐHQG.   

 

 Còn tiếp:

2. Sứ Mệnh, Mục Đích, Mục Tiêu của ĐHQG

3. Hệ thồng đào tạo tín chỉ tại ĐHQG

4. Kết luận: Những Đề Nghị.

Tác giả: Trần Văn Đoàn
   dunglac@gmail.com