Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Văn Đoàn
tran@ntu.edu.tw
Bài Viết Của
Trần Văn Đoàn
Chương VII: Những Trường Phái Thông Diễn Học - Trường Phái Dilthey-Betti
Tinh hoa ý thức hệ của Việt Nho
Hiện tượng học tại Việt Nam - Phenomenology in Vietnam
Trang nối kết
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 4: Kết luận: những đề nghị
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 3: Hệ thống đào tạo tín chỉ tại ĐHQG
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 2: Sứ Mệnh, Mục Đích, Mục Tiêu của ĐHQG.
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 1: Thế nào là tín chỉ, đào tạo tín chỉ ?
Tưởng Niệm Cụ Kim Định - In Memoriam Dominici Luong Kim Dinh
Mẫu tính trong văn hoá Việt
Sự Thiết Yếu của Tự Do Nghiên Cứu.
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ - BÀI 2: SỨ MỆNH, MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU CỦA ĐHQG.

1. Thế nào là tín chỉ, đào tạo tín chỉ.
2. Sứ Mệnh, Mục Đích, Mục Tiêu của ĐHQG.
3. Hệ thống đào tạo tín chỉ tại ĐHQG.
4. Kết luận: những đề nghị.

********************

II. SỨ MỆNH, MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA ĐHQG     

Trước hết, chúng ta cần phân biệt đại học tùy theo mỗi mục đích (the main purposes) của mỗi đại học. Sự khác biệt giữa các đại học, và đẳng cấp cao thấp của đại học được nhận ra theo (1) mục đích của mỗi đại học, (2) thành qủa (có đạt tới mục đích hay không), (3) ảnh hưởng (rộng lớn, sâu xa hay hạn hẹp và ngắn ngủi).[17] Nói một cách chung, ta có thể nhận ra đẳng cấp đại học tùy theo mục đích, thành qủa và ảnh hưởng mà đại học này đạt và có được. Trong phần này, chúng tôi chỉ bàn về mục đích của đại học, và ĐHQG cách riêng.

Các đại học phân cấp tùy theo những mục đích, và những nỗ lực của họ để đạt tới mục đích này được ta gọi là sứ mệnh đại học. Những mục tiêu nhỏ (goals) thường mang tính chất công cụ (instrumental), là những đích của mỗi chặng đường nhắm tới mục đích chính. Thí dụ, mục đích của ĐH Harvard là Chân lý (Veritas), sứ mệnh của nó phải là đi tìm chân lý (Veritas), và mục tiêu là những phương thế, kiến thức, tạo công cụ, v.v. hữu hiệu để đạt tới chân lý. Hiểu như vậy, ta tạm phân chia mục đích chính của các loại đại học như sau:

 

2.1. Mục Đích Đào Tạo Giới Lãnh Đạo trong Mọi Ngành 

Những đại học đẳng cấp là những đại học nhắm tài lãnh đạo (leadership) hay đi tìm những lí tưởng cao vời (chân lý, nhân tính, thánh thiện, v.v.). Họ đào tạo những nhà lãnh đạo trong mọi ngành, đó là những chuyên gia hàng đầu, những nghệ sĩ sáng tạo, những nhà khoa học tiên phong, những nhà tư tưởng sâu sắc, những nhà chính trị tài ba, những nhà kinh tế lỗi lạc, v.v. 

Trong danh sách các đại học này, ta lại phân biệt, những đại học (1) đẳng cấp thế giới, (2) đẳng cấp quốc tế, và (3) đẳng cấp quốc gia. Đẳng cấp thế giới đào tạo những nhà lãnh đạo có tầm mức thế giới (hoàn vũ); đẳng cấp quốc tế sản sinh ra những nhà lãnh đạo của cả một đại lục, hay nhiều nuớc (thí dụ Á châu hay Đông Nam Á), trong khi đẳng cấp quốc gia tạo ra giới lãnh đạo quốc gia. Thí dụ, các đại học Oxford, Cambridge, Sorbonne, Harvard, Yale.... đã từng đào tạo và đương đào tạo những nhà lãnh đạo về tất cả mọi ngành trên thế giới; trong khi Đại học Đông Kinh, Kinh Đô, Bắc Kinh... từng đào tạo giới lãnh đạo của Á châu, Nhật, Tầu và cả của các nước Phi châu, v.v.; trong khi các Đại học như ĐHQG Đài Loan, ĐH Hồng Kông, Đại Học Quốc Gia Hán Thành, ĐH Chulalongkorn (Bangkok), ĐH Thanh Hoa (Bắc Kinh)... đào tạo giới lãnh đạo của các quốc gia này. Cần phải nói thêm, là những đại học Á châu nói trên đương cố gắng để trở thành đẳng cấp thế giới. Họ cạnh tranh với những đại học hàng đầu của Âu Mỹ, nhất là trong các lãnh vực khoa học công nghệ, y học, dược học, canh nông và những lãnh vực Á châu.[18] Mộng của họ là đạt tới đẳng cấp thế giới chứ không chỉ nằm ở đẳng cấp quốc gia hay quốc tế mà thôi.[19]

 

2.2. Mục Đích Đào Tạo Chuyên Viên, Công Chức, Giáo Chức  

Trong loại hai đào tạo chuyên viên, ta thấy những đại học hiện nay của nhà nước Việt Nam: đại học sư phạm đào tạo giáo viên trung học, cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học, mẫu giáo; trường bách khoa đào tạo kỹ sư, chuyên viên khoa học; trường hành chánh đào tạo công chức cấp cao, trường văn hóa đào tạo cán bộ văn hóa, trường Nguyễn Du đào tạo nhà văn, vân vân.

Điều cần phải nói là, đây là một hệ thống được hoàng đế Napoléon Bonaparte ra lệnh sáng lập, mục đích để phục vụ nhà nước, mà người Pháp mệnh danh là “les grandes écoles” (những trường lớn, hay đại học viện). Trường Bách Khoa (Polytechnique) vốn là một trường đào tạo các sĩ quan pháo binh (chuyên về toán) của đội quân Napoléon,[20] trong khi trường Cao Đẳng Sư Phạm (Ecole normale supérieur) nhắm đào tạo các giáo viên trung học. Chính vì nhắm vào mục đích đào tạo công chức, kỹ sư, bác sĩ, giáo viên... nên những đại học viện này thường đề lại trách nhiệm nghiên cứu cho đại học.[21] Ai muốn nghiên cứu, hay giảng dạy tại đại học phải trở lại đại học làm tiến sĩ ở đây.[22] 

Ngày nay, ta không còn thấy sự phân chia như trên nữa. Nhiều đại học giỏi không chỉ đào tạo những chuyên viên, giáo viên mà cùng lúc cũng nghiên cứu. Đây là khuynh hướng chung tại Á châu, và tại các Học viện (Colleges) danh tiếng, cũng như các đại học do tiểu bang lập ra bên Mỹ. Thí dụ các học viện nổi tiếng như Chatham, Wesley, Harvard, Westpoint (quân đội), Virginia... hay các đại học do Tiểu bang lập ra như University of California (viết tắt UC gồm 7 trường, trong đó có UC at Berkeley, UC at Los Angeles, UC at San Diego, UC at San Francisco, UC at Santa Barbara...), họ rất chú trọng vào nghiên cứu, và đạt được những thành quả đáng nể (ĐH UC Berkeley đã từng đạt hàng chục giải Nobel).  

 

2.3. Mục Đích Đào Tạo Chuyên Viên Hạng Hai, Công Chức, Giáo Viên, Cán Bộ, Kỹ Thuật Viên... 

Đây là hệ thống cao đẳng, hay trường kỹ thuật cấp hai. Những trường này không chú trọng đến nghiên cứu, và thường chỉ mở tới cấp Thạc sĩ, ít khi có Tiến sĩ. Thí dụ các đại học do chính phủ tiểu bang lập ra, mục đích cho sinh viên trong tiểu bang (cũng nhận sinh viên từ các nơi khác) như California State University (viết tắt CSU) tại rất nhiều thành phổ ở bang California, hay New York State University, v.v. (những đại học của bang New York cũng đương có tham vọng vươn lên cạnh tranh với các đại học UC của California).[23] Tại Đức ta có thệ thống Cao Đẳng (Hochschule), trong khi tại Nhật và Đài Loan, họ có hệ thống Cao Đẳng Công Nghệ (Cao Công). Từ đây, ta có hai loại kĩ sư: kĩ sư xuất thân từ những Đại Học Viện ở đẳng cấp cao, và kĩ sư xuất thân từ những trường Cao Đẳng với đẳng cấp chuyên viên hạng hai.

 

2.4. Mục Đích Tạo Công Việc, Sở Thích, Phục Vụ Xã Hội... 

Đây là những đại học cộng đồng (Community College), đại học mở (Open University), đại học viễn thông (University on the Air). Mục đích không phải đào tạo, cũng không phải nghiên cứu, nhưng chỉ để đáp ứng sở thích, nhu cầu của học viên. Hệ thống các trường này cũng đáp ứng được phần nào nhu cầu đào tạo cho những người bận phải làm việc ban ngày, hay những học viên chậm, hay nghèo không đủ tiền theo các đại học khác. Nói cách khác, nó gần giống như những lớp “đào tạo tại chức” ở Việt Nam hiện nay, hay bổ túc cho những người học muộn, lớn tuổi, v.v.

 

Sau khi lược qua những mục đích của các loại đại học khác nhau, tôi nghĩ, ĐHQG Việt Nam phải là loại thứ nhất, nhắm tới những lí tưởng cao xa và đào tạo giới lãnh đạo trong mọi ngành cho Việt Nam, cho vùng Đông Nam Á, và lãnh đạo thế giới cho những ngành mà chỉ ở nước ta, hay ở vùng Đông Nam Á mới có thể nghiên cứu sâu. Trong ngành khoa học tự nhiên, y học, sinh vật... chúng ta cũng cần phải đào tạo những chuyên gia tầm mức thế giới.[24] Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cũng nên phân cấp các đại học như Mỹ đã có từ lâu, và hiện nay Trung Quốc đương làm.

 

III. HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ TẠI ĐHQG 

Trường hợp ĐHQG, một khi đã có mục đích rõ ràng, đó là đào tạo giới lãnh đạo, thì việc quan trọng mà chúng ta phải đặt ra, đó là, người lãnh đạo cần phải có khả năng gì? Và làm thế nào để giúp học viên đạt được khả năng đó.

Chỉ khi nhận ra được điều này, chúng ta mới có thể xây dựng một lập trình đào tạo (curriculum), thiết lập “syllabus” tức là thiết lập (1) các lớp học (căn bản hay phụ thuộc), (2) các buổi thảo luận (seminar), thí nghiệm (experiment class), thực tập (practicum) và (3) đưa ra những chương trình nghiên cứu (research-project) (để phát huy khả năng). Lúc bấy giờ ta mới có thể xác định môn “buộc chính” (obligatory, Pflichtfach), môn “buộc phụ” (mandatory, Wahlfach), môn theo ý thích hay môn “tự chọn” (optional, Freifach), vân vân. Cũng lúc bấy giờ, ta mới có thể quy định một môn học cần bao nhiêu tín chỉ (mỗi tín chỉ bao nhiêu tiết học, bao nhiêu tiết tập); mỗi môn thảo luận cần bao nhiêu tín chỉ (bao nhiêu tiết thảo luận, bao nhiêu tiết thực tập, bao nhiêu tiết tự sửa soạn, tự nghiên cứu). Thường thì môn chính đòi hỏi một số lượng tín chỉ (thực tập, thí nghiệm) gấp đôi môn phụ, và môn phụ gấp đôi môn tự chọn. Thí dụ, nếu môn chính đòi hỏi 8 tín chỉ, thì môn phụ cần 4 tín chỉ, trong khi môn tự chọn chỉ có được 2 tín chỉ.

 

3.1. Khả Năng của Người Lãnh Đạo 

Trong qúa khứ, ta thường dùng những mỹ từ như “thấy xa, biết rộng” dành cho giới lãnh đạo nhưng chỉ giải thích, thấy xa, biết rộng theo nghĩa “bác học” (biết nhiều, biết rộng). Thực ra, biết xa biết rộng chỉ là một điều kiện, nhưng chưa đủ để tạo ra nhà lãnh đạo.

Theo thiển kiến của người viết, ta có thể tóm khả năng của giới lãnh đạo vào 3 điểm chính: (1) khả năng nhận ra những vấn nạn (nguyên nhân, hậu qủa, cách thế) của thời đại, của đất nuớc, của nhân loại, hay những vấn nạn của một chính sách, một chế độ, một hệ thống... (2) khả năng tìm ra giải đáp tốt nhất (hiệu quả nhất, không gây ra những hậu qủa xấu, v.v.) cho những vấn nạn trên, và (3) nhất là nhìn ra hướng đi mới của nhân loại, xã hội, và đất nước, để có thể vạch ra hướng đi cho dân tộc, đất nước, hay cho ngành chuyên môn, hay tạo ra ý nghĩa mới cho cuộc sống, v.v.. Nói theo triết lý Tam tài, người lãnh đạo là người biết được nguyên lý “thiên thời và địa lợi”.

Cả ba khả năng trên đều mang các tính chất: (1) sáng tạo (tìm ra giải pháp, tìm ra được đường hướng mới, ý nghĩa mới), (2) nhận thức sắc bén (phê phán sâu sắc, phân tích kỹ lưỡng, tổng hợp chặt chẽ, hiệu qủa), (3) kiến thức sâu rộng (trí chi cách vật).

Ngoài ba khả năng trên, khả năng quản lý, tổ chức, điều hành. Những khả năng này đòi hỏi sự hiểu biết tâm lý, cũng như những kiến thức ngôn ngữ (sức thuyết phục, năng lực biểu tả ngôn ngữ), xã hội (văn hóa, tập tục), khoa học. Ta có thể tóm khả năng này vào nguyên lý “nhân hòa”.[25]

Vậy nên, khả năng của giới lãnh đạo phải là “thiên thời, điạ lợi, nhân hòa”. Để đạt tới mục tiêu này, lập trình tín chỉ phải theo một hệ thống hợp lý: tạo cho học viên những khả năng đó. Mà để tạo những khả năng như vậy, thì đào tạo gồm hai phần chính: (1) đào tạo năng lực, và (2) đào tạo khả năng.

 

3.2. Lập Trình (curriculum academicum)

  

Khi đã nhận ra mục tiêu rõ ràng đó là đào tạo năng lực và khả năng lãnh đạo, chúng ta có thể xây dựng một lập trình cho ban Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ như sau:

 

Đào Tạo Năng Lực

Đào tạo năng lực đòi hỏi 1/2 tổng lượng tín chí. Nói cách khác, nếu cử nhân cần 120-140 tín chỉ, thì lập trình đào tạo năng lực cần quãng 60 tín chỉ. Trong lập trình sau đại học, những môn học đào tạo năng lực không cần thiết nữa (vì đã đủ năng lực có được vào những năm đại học), do đó các môn học, thảo luận, nghiên cứu tập trung vào đào tạo khả năng nhiều hơn.

Đào tạo năng lực bao gồm:

(a) Giúp học viên nắm vững những phương pháp căn bản để làm việc, tự học, tự luynệ tập. Những phương pháp này bao gồm phương pháp suy tư, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, v.v. Những phương pháp tạo ra năng lực căn bản chung cho mọi môn như kỹ thuật đọc sách, tóm lược, phân tích, tổng hợp: dậy vào những lục cá nguyệt đầu.

(b) Giúp học viên luyện tập phương pháp chuyên biệt của mỗi ngành: đó là năng lực chuyên môn cho từng bộ môn khác nhau: thí dụ như phương thế làm thống kê, phỏng vấn, làm thí nghiệm, cách sử dụng công cụ (dụng cụ), cách viết luận văn, cách dùng ngôn ngữ, cách đi tìm vấn nạn (phê phán), v.v.

(c) Tất cả lập trình đào tạo (curriculum) cho những lục cá nguyệt đầu nhắm tới giúp mỗi học viên có những năng lực kể trên. Lập trình này gồm các lớp: lớp tập cách thảo luận (proseminar), tập quan sát (observations, experiments), tập đọc sách, tóm luợc sách (texte-reading), tập viết luận văn (paper-writing), v.v. Nói tóm lại, tất cả các lớp hay thảo luận đều quy về phương pháp, tức tạo ra năng lực (kỹ năng) căn bản để học tập và nghiên cứu.

   Vậy nên, khi thiết lập lập trình trong những lục cá nguyệt đầu tiên, ta cần phải chú ý tới:

-         Những môn học công cụ chung cho tất cả

-         Những môn học căn bản làm công cụ hay nền tảng cho bộ môn khác nhau

-         Những môn học chuyên môn tạo ra năng lực cần thiết.

(d) Đào tạo những bộ môn này, ta thường tạo ra những mô hình hữu hiệu nhất và áp dụng vào giáo dục. Mô hình hữu hiệu gồm các bước, các động tác những phương cách hữu hiệu nhất (mà ta chỉ cần theo một cách máy móc và đúng phương thức). Hiệu qủa sẽ tới một cách dễ dàng hơn. Đây là những mô hình các đại học Mỹ đã tạo ra sau bao năm kinh nghiệm học hỏi. Mô hình này (mà ta nhầm lẫn dồng nghĩa với tín chỉ) được Hạnh Nguyên tóm lại (một cách lạc quan) như sau: “Với hình thức này, người học chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức và quản lý thời gian, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu” (bài đã dẫn).

Thực ra tác gỉa Hạnh Nguyên chỉ nói đúng một phần. Trong việc đào tạo năng lực, một hình thức mà ta từng xây dựng sau bao năm sửa đổi học tập, thường có hiệu qủa cao hơn những cách thế khác mà ta đương mò mẫm, hay hơn hẳn những cách thế “thiếu thí nghiệm” hay “thiếu kinh nghiệm”, thiếu hệ thống. Nhưng khi theo một mô hình nào đó, ta thường mang tính chất “máy móc” nhiều hơn. Do vậy, sinh viên thường thụ động hơn. Những tác động căn bản, những phương thức cơ bản, từ bước một tới bước hai, không thể thay đổi một cách dễ dàng. Thành thử, cần phải nói, đó là, chỉ khi mà ta nhắm đến đào tạo khả năng, lúc ấy người học mới chủ động thực sự. Sự việc học viên có thể tự tạo cho mình một hình thức mới, chứng tỏ khả năng sáng tạo của mình, trong khi sự kiên học viên học bắt chước, hay phản xạ, chỉ là lối đào tạo năng lực hay kỹ năng mà thôi.

 

Đào Tạo Khả Năng

Đào tạo khả năng đòi hỏi nhiều hơn là đào tạo năng lực. Sự khác biệt về đào tạo một chuyên viên (hay thợ giỏi) với một kỹ sư, hay sự chênh lệch giữa một kỹ sư và một nhà phát minh sáng tạo nói lên sự khác biệt giữa hai cách thế đào tạo năng lực và khả năng. Vậy nên, đào tạo khả năng đòi hỏi nhiều sáng tạo, tự ý thức, tự phê bình, tự sửa sai, v.v.

-         Những Môn học sáng tạo giúp học viên có những tư tưởng mới

-         Những Môn học Chuyên môn giúp tới sáng tạo công cụ

-         Những Phương thế tạo ra khả năng, phát triển khả năng đi tìm vấn nạn và đi tìm giải đáp

Nói cách chung, đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ, không phải là đào tạo chuyên viên cấp cao, nhưng đào tạo những người lãnh đạo, đi tìm những kỹ thuật mới, những tư tưởng mới, những vấn nạn, những giải đáp hữu hiệu, những phương hướng mới, v.v.

 

3.3. Giáo Trình (Syllabus)

 

Khi đã phân ra hai loại đào tạo: đào tạo năng lực (kỹ năng) và đào tạo khả năng, chúng ta có thể chia giáo trình thành hai cấp: cầp đào tạo năng lực (kỹ năng), và cấp đào tạo khả năng (khả năng chuyên môn).

Trong giai đoạn thứ nhất, tất cả các giáo trình căn bản (syllabus) nhắm đến đào tạo năng lực, kỹ năng. Các môn học thường theo hình thức được xây dựng trên những nguyên tắc sau đây:

(1)  Thông tin về Giảng viên, về thời khắc biểu, về nơi làm việc, giờ giấc cho sinh viên...

(2)  Thông tin về điều kiện theo học, cách thế giảng dạy hay thí nghiệm, hay thực tập

(3)  Thông tin về môn học: mục tiêu, phương pháp, nội dung, qúa trình giảng dậy, sách học, sách tham khảo

(4)  Thông tin về cách thi, thời gian thi, hệ thống cho điểm, cách thế tăng điểm thưởng, v.v.

(5)  Những thông tin cần thiết về đạo đức trong nghiên cứu, hay trong thi cử (Aggie Honor Code).

(6)  Những thông tin cần thiết khác như về chính sách giáo dục không phân biệt giới tính, mầu da sắc tộc, chính trị, tôn giáo...

 

Trong giai đoạn thứ hai đào tạo vể khả năng, ta cũng theo một lập trình tương tự như các giáo trình của giai đoạn thứ nhất. Nhưng đặc biệt them vào:

(7)  Thông tin về nhiệm vụ tự nghiên cúu, các sinh hoạt hàn lâm (seminars, conferences, symposia, colloquia) mà sinh viên phải tham gia.

(8)  Thời khắc biểu cho nghiên cứu sinh về nghiên cứu, viết luận luận án, gặp giảng viên...

(9)  Những diều nghiên cứu sinh phải thực hiện

(10)        Những sách, tài liệu, thí nghiệm... sinh viên phải đọc, phải làm.. 

 

Dưới đây là một thí dụ về cách viết một giáo trình, hay syllabus.

 

Khoa Triết Học

Ban Cử Nhân Triết Học

Môn học Lịch Sử Tư Tưởng Âu châu vào Thế Kỷ thứ 19

Giảng viên: Tiến sĩ Nguyễn Quang Hưng

2 Tín chỉ:

 

(1) Thông tin về Giảng viên

 Giảng viên: Nguyễn Quang Hưng (xin sinh viên gọi tôi Thầy Hưng).

-         Tiến sĩ ĐH Passau, Cộng Hòa Liên Bang Đức

-         Giảng viên chính Bộ môn Lịch sử Triết họcTây phương

-         Phòng làm việc: Phòng số ..., Khoa Triết Học.

-         Giờ cho sinh viên: Mỗi Thứ hai 10.00-11.30, Mỗi thứ ba: 14.00-15.00; mỗi thứ sáu 15.00-16.00. Ngoài ra có thể gặp theo hẹn.

-         Điện thoại:

-         E-mail:

-         Gia trang cá nhân (Homepage)

(2) Thông tin về Điều kiện, cách thế giảng dậy và điểm thi:

-         Lớp học này chỉ dành cho những sinh viên đã theo các lớp lịch sử triết học cổ đại, trung cổ và cận đại. Lớp học thuộc ban Cử Nhân Triết Hoc.

-         Lớp học bao gồm: bài giảng của giảng viên dựa theo tập sách của Karl Loewith, From Hegel to Nietzsche - The Revolution of Thought in 19th Century (Holt, 1961), và thảo luận. Học viên phải tham dự các buổi thảo luận, và tự trình bầy về 1 đề tài liên quan do giảng viên giao cho

-         Điểm lớp bao gồm:

- Tham dự lớp             10  (1)

- Thi giữa lục cá nguyệt     20  (2)

- Báo cáo                 20  (2)

- Bài viết                  20  (2)

- Thi kết thúc              30  (3)

Tổng cộng                100 (10)

-         Thời gian và Nơi thi: Theo thông báo của Khoa (Đại học)

(3) Thông tin về Nội Dung Lớp Học & Mục Đích Lớp Học

-         Mục đích: Nhắm giúp học viên có một cái nhìn bao quát về sự cải biến của tư tưởng nhân loại, đặc biệt vào thế kỷ thứ 19 tại Âu châu. Đồng thời gợi ý cho học viên biết cách tư duy và phê phán bằng cách học và phê phán những nhà tư tưởng thời danh vào thế kỷ 19.

-         Nội dung: Lớp học gồm 14 bài giảng thuyết và 14 giờ thảo luận, như sau: BG. 1: Sự biến động của Âu châu, và sự phát sinh tư tưởng mới; BG 2: Cách mạng Pháp và sự Tìm kiếm Tự chủ trong Khoa học; BG 3:... (và vân vân).

-         14 giờ thảo luận bao gồm các bài báo cáo của mỗi học viên liên quan với mỗi đề tài trên. Sau mỗi báo cáo, sẽ có phần thảo luận mọi người phải tham dự.

-         Sách tham khảo: Ngoài tập sách của Loewith, Giảng viên sẽ có 1 danh mục các đề tài liên quan, cũng như một số tài liệu tham khảo (công bố trong bảng kê mục, hay sẽ công bố trong giờ lớp). Sinh viên yêu cầu phải tham khảo những tài liệu này.  

(4) Thông tin về Thi và về Cách thế Cho Điểm và Khiếu nại

Sẽ tổ chức hai kì thi viết: Giữa Lục Cá Nguyệt và Kết thúc @0 điểm cho kì thi Giữa và 30 điểm cho kì thi Kết thúc. Tổng cộng 50 (5) điểm. Thơi gian và nơi thi do Khoa (Đại học) xếp đặt.

-         Đề thi rút từ tập sách của Loewith (đã nói trên), và từ Giáo trình của giảng viên.

-         Mỗi kì thi, giảng viên ra 3 đề tài, thí sinh được quyền chọn 2 trong 3 đề tài trên. Mỗi đề tài chiếm một nửa tổng số điểm thi (10 cho kì thi giữa, và 15 cho kì thi kết thúc).

-         Điểm thi sẽ được công bố 1 tuần (7 ngày) sau kì thi. Thí sinh nào không đồng ý với điểm thi, có thể khiếu nại (với đơn khiếu nại viết tay, hay đánh máy) với Giảng viên trong vòng 1 tuần. Qúa thời hạn, Giảng viên có quyền không chấp nhận đơn khiếu nại.

-         Khiếu nại bao gồm: (1) đơn khiếu nại viết tay, với những lí do, (2) bài thi (nếu giảng viên đã trả lại cho thí sinh) (3) các tài liệu liên quan về đề thi (không rõ ràng, hay sai, hay dễ hiểu nhầm, về câu trả lời), (3) nêu lí do tại sao muốn đổi (thêm) điểm, v.v. (4) nếu vì tính sai điểm, thì phải nêu ra rõ ràng (có bản copy).

-         Đơn khiếu nại sẽ không được chấp nhận nếu thí sinh không theo phương thức trên.

(5) Thông tin về viện Tham dự lớp và Báo cáo (miệng) và Bài báo cáo (viết).

Để có thể thu thập kiến thức, và hiểu được sự phát triển của các nền tư tưởng, học viên yêu cầu phải tham dự đều đặn lớp. Nếu không có lí do mà không dự lớp qúa 3 lần, sẽ bị từ chối không được tham dự hai kì thi.

Tham dự lớp bao gồm: (1) Nghe, và đặt câu hỏi cũng như đối thoại về những nội đung bài giảng, (2) Chấp nhận một đề tài do Giảng viên giao cho, tự nghiên cúu, và trình bầy quãng 10-15 phút trước lớp, cũng như (3) viết thành một bài Báo cáo khoa học (quãng 5 trang giấy). Điểm tham dự bao gồm (1) tham dự (10 điểm), (2) Báo cáo miệng (20 điểm), và (3) Bài báo cáo khoa học (20 điểm).

(6)  Thông tin về Luật Viết bài:

-         Học viên không được phép sao, chép bài của bất cứ ai.

-         Những trích dẫn phải nêu rõ nguồn gốc, tác giả, tác phẩm, nhà xuất bản, nơi xuất bản, thời gian, trang sách, v.v.

-         Nếu bị phát hiện sao chép (tức đạo văn), sinh viên sẽ bị đánh trượt và đưa ra hội đồng kỷ luật.

 

3.4. Giảng Dậy và Nghiên Cứu

   Như chúng tôi nhấn mạnh ở trên, Đại học tầm mức thế giới hay Đại học Đẳng cấp Quốc Tế rất chú trọng về nghiên cứu, nhưng không chỉ vì thuần túy nghiên cứu, mà mục đích là để tìm ra hướng mới cho thế giới, tìm ra những khó khăn, và tìm ra những giải đáp cho thế giới và con người. Nói cách khác, nghiên cứu mục đích chính vẫn là để phục vụ xã hội và con người. Nói cách khác, nghiên cứu là để đào tạo. và như vậy, nghiên cứu không thể tách rời khỏi giáo dục, giảng dậy. Như vậy, ĐH không thể và không được phép chỉ đóng gọn mình vào vai trò nghiên cứu mà thôi. ĐHQG cùng lúc là trung tâm nghiên cứu nhưng với mục đích để rao truyền kiến thức, đào tạo càng nhiều nhân tài, càng đông các tài năng lãnh đạo. Đây là sự khác biệt giữa các ĐH như Harvard, Princeton, MIT, Caltech, Stanford, Oxford, Cambridge... và Bell Lab hay ITT Lab hay Max Planck Institut (Đức), Centre national de recherche scientifique (?) (Pháp) hay Viện Nghiên Cứu Trung Ương (Hàn Lâm Viện Trung Hoa, Đài Loan). Nên có sự tách biệt giữa ĐHQG và Viện Khoa Học, hay Viện Khoa Học Xã Hội (Việt Nam).

Giảng dậy hay không phải chỉ giảng bài hay, mà phải cung cấp kiến thức mới cho học viên, giúp học viên đạt tới những năng lực căn bản, và khả năng để phát triển. Nghiên cứu là đi tìm kiến thức mới, là đi tìm phương thế tạo ra năng lực, phát triển năng lực, và nhất là kích thích khiến học viên phát hiện và phát triển khả năng vô tận của mình. Kết qủa nghiên cứu cũng là thước đo mức phát triển của đại học nói chung, và chất lượng của sinh viên cách riêng. Chính chất lượng này khiến xã hội tin tưởng vào giáo dục đại học và biểu hiện rõ rệt nhất cái năng lực và khả năng của học viên.

Trong phạm vi nghiên cứu, vì tri thức như biển đại dương nên không thể có một đại học nào có thể dẫn đầu tất cả mọi ngành. Và như vậy, hay hơn cả là phải tìm những đối tượng nghiên cứu (và học hỏi) thiết thực, gần gũi với đời sống của dân Việt và người dân vùng Đông Nam Á. Đó là đi tìm những vấn nạn cũng như những giải đáp cho người Việt và vùng Đông Nam Á. Chỉ như vậy chúng ta mới dễ dàng phát huy được khả năng, và tạo ra năng lực cần thiết. Và chỉ khi nào có thể giải quyết thỏa đáng những vấn nạn của người Việt, thì đại hoc mới xứng đáng là đấu óc của Việt Nam. Tương tự, chỉ khi nào đại học ta có thể giải quyết được những vấn nạn của vùng Đông Nam Á, thì ta mới được công nhận là đại hcọ lãnh đạo. Đại học đẳng cấp thế giới luôn có tham vọng đi tìm những vấn nạn hoàn vũ, những giải đáp hoàn vũ và những hướng đi cho toàn nhân loại.

Tác giả: Trần Văn Đoàn
   dunglac@gmail.com