Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Văn Đoàn
tran@ntu.edu.tw
Bài Viết Của
Trần Văn Đoàn
Chương VII: Những Trường Phái Thông Diễn Học - Trường Phái Dilthey-Betti
Tinh hoa ý thức hệ của Việt Nho
Hiện tượng học tại Việt Nam - Phenomenology in Vietnam
Trang nối kết
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 4: Kết luận: những đề nghị
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 3: Hệ thống đào tạo tín chỉ tại ĐHQG
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 2: Sứ Mệnh, Mục Đích, Mục Tiêu của ĐHQG.
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 1: Thế nào là tín chỉ, đào tạo tín chỉ ?
Tưởng Niệm Cụ Kim Định - In Memoriam Dominici Luong Kim Dinh
Mẫu tính trong văn hoá Việt
Sự Thiết Yếu của Tự Do Nghiên Cứu.
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ - BÀI 4: KẾT LUẬN: NHỮNG ĐỀ NGHỊ

1. Thế nào là tín chỉ, đào tạo tín chỉ.
2. Sứ Mệnh, Mục Đích, Mục Tiêu của ĐHQG.
3. Hệ thống đào tạo tín chỉ tại ĐHQG.
4. Kết luận: những đề nghị.

******************

IV. KẾT LUẬN: NHỮNG ĐỀ NGHỊ 

Phần kết luận này bao gồm một số đề nghị gửi tới BGDĐT cũng như các nhà lãnh đạo giáo dục tại nước nhà.[26] Như chúng tôi đã nhấn mạnh nhiều lần, không có một chứng minh nào đủ thuyết phục cho rằng hệ thống tín chỉ trội vượt khỏi các hệ thống khác. Sự sa xút của hệ thống niên học, và ngay cả hệ thống tín chỉ tại cá nước Âu châu và Á châu có nhiều lí do như chính sách đại chúng hóa đại học, số vốn đầu tư qúa ít, tinh cách tự chủ đại học chưa đủ, sự chọn lựa sinh viên và ban giảng huấn thiếu nghiêm túc, mục đích không rõ ràng, mục tiêu không minh bạch, và nhất là thiếu cạnh tranh và sáng tạo.

 Tuy nhiên, theo thiển kiến của chúng tôi, đào tạo theo hệ thống tín chỉ là chính sách mà ta nên chứ không nhất thiết phải theo. Nên theo bởi vì, nếu theo đúng phương thức các lập trình tín chỉ, ít nhất ta có thể tạo cho hoc viên những năng lực thiết yếu.

Nhưng để có thể đạt tới một kết quả khả quan, ta nên đặt ra một chương trình 10 năm. Vì trọng tâm của bản đề nghị nhắm vào ban giảng huấn, và ban lãnh đạo đại học nên trong giai đoạn này, chúng tôi xin đề nghị với hai ĐHQG tại Hà Nội và Tph HCM những điểm như sau:

 

4.1.         Mục Đích đạt tới Lí Tưởng Cao Xa và Lãnh Đạo

Thứ nhất: ĐHQG nên tập trung mục đích chính (sứ mệnh) của mình vào việc (1) đi tìm và bảo vệ lí tưởng cao xa, và (2) đào tạo giới lãnh đạo của Việt Nam và vùng Đông Nam Á. Tôi thiết nghĩ, để đạt được tới đẳng cấp thế giới, ta có một lí tưởng cao vời. Thí dụ, lí tưởng thế giới đại đồng của đức Khổng, lí tưởng nhân ái của đức Kitô, chủ thuyết nhân bản của Marx, lí tưởng chân lý của Socrates, v.v.. Chỉ những ai có lý tưởng cao xa mới xứng đáng là những người lãnh đạo nhân loại. Thế nên, nhắm vào mục đích đào tạo giới lãnh đạo trong tất cả mọi ngành: từ chính trị tới tôn giáo, từ nhân văn tới khoa học tự nhiên, từ kinh tế tới y học, dược học, từ canh nông tới hải học, từ tư tưởng tới thực tiễn...tức đào tạo:

-         Những người lãnh đạo là những người có khả năng nhìn xa thấy rộng. Họ là những người có óc sáng tạo, nhưng cũng là những người cầm cân nảy mực, những người hướng dẫn khiến đất nước và nhân loại tiến bộ.

-         Do đó, quá trình đào tạo, các lớp học, các môn học, các cách thế làm việc phải được cấu trúc để giúp học viên trở thành nhà lãnh đạo.

-         Như vậy, nên chú ý vào công việc đào tạo khả năng. Đó là năng lực luôn phát hiện ra năng lực mới (1) tìm ra những vấn nạn vĩ mô, và đi tìm giải đáp cho những vấn nạn đó; (2) nhận ra những đường hướng mới giúp con người tiến bộ hơn, hạnh phúc hơn; (3) phát minh ra những phương thế, dụng cụ mới giúp con người.

-         Chính vì vậy mà năng lực này không hạn hẹp vào tính chất kỹ thuật. Chúng tôi gọi nó là khả năng (capacity) của người lãnh đạo.

 

4.2.         Tạo Khả Năng Sáng Tạo, Quản Lý, Tìm và Giải Quyết Vấn Nạn

Để đào tạo khả năng, lập trình và cách thế giảng dậy phải chú trọng đến chính học viên: làm thế nào để học viên tự chủ, tự phát hiện khả năng, và biết dùng khả năng để đi tìm vấn nạn, giải đáp, cũng như khám phá ra những tư tưởng mới, đường hướng mới, phương cách mới...

-         Để được khả năng như vậy, nên tổ chức những khóa hội thảo (seminars), thực nghiệm nhiều hơn là các lớp giảng. Thí dụ, một phần nửa các tín chỉ nên dựa vào những lớp thảo luận, và tự nghiên cứu của học viên. Khi tham gia thảo luận và tự nghiên cứu, học viên có thể phát triển khả năng nhanh hơn, và linh động hơn.

-         Khuyến khích sinh viên (đặc biệt, nghiên cứu sinh) cộng tác, trợ giúp giáo sư trong công việc nghiên cứu và giảng dạy.

-         Huấn luyện kỹ năng hay năng lực là bước đầu cho những năm lớp cử nhân, nhưng không được dừng lại nơi đây. Sự khác biệt giữa đại học đẳng cấp lãnh đạo và đại học cho chuyên viên thấy nơi khả năng của học viên, chứ không phải tại kỹ năng hay năng lực. Một giáo sư ngoại khoa ở tuổi 60 tuy kỹ thuật mổ xẻ không còn được linh hoạt như bác sĩ ở tuổi 40, vẫn dư khả năng để chỉ dẫn các bác sĩ trẻ tuổi.

-         Khả năng càng rộng, càng sâu thì sự phát triển càng sâu càng xa. Do đó, ĐHQG nên khuyến khích mở những lớp văn hóa (triết học) cho tất cả mọi ngành.[27] Các nhà bác học Leonardo da Vinci, Galileo, Newton, Leibniz, Pascal, Einstein, Heisenberg, v.v. là những ví dụ cụ thể. Họ không chỉ là những nhà khoa học vĩ đại mà còn là những tư tưởng gia sâu sắc.

 

4.3.         Nghiên Cứu

Để có thể đạt được mục đích lãnh đạo, cũng như để có thể tập trung vào việc đào tạo khả năng, thì ban giảng huấn cần phải có một khả năng hơn người. Nhưng để được như thế, nghiên cứu là một phần quan trọng trong công việc của họ.[28] Ta không thể cung cấp cho học viên kiến thức mới nếu ta không có kiến thức. Ta cũng không thể giúp học viên phát triển khả năng của họ, nếu ta thiếu khả năng.

-         Do vậy, việc đầu tiên ĐHQG nên làm, đó là tạo ra điều kiện để ban giảng huấn nghiên cứu. ĐH nên thành lập một Bộ phận chuyên trách về nghiên cứu (quản lý, lập chương trình, giúp đỡ tài chánh, giúp đi tìm qũy tài trợ, giúp phương tiện, giúp cạnh tranh, giám định chất lượng nghiên cứu, giải thưởng, v.v.).[29]

-         Giảm giờ giảng dậy. Tại các đại học lớn của Mỹ, Giáo sư thường chỉ mở 1 lớp học (2 tiết), 1 lớp thảo luận (2 tiết) mỗi tuần. Ngoài ra có thể mở thêm lớp (2 tới 4 tiết), nhưng thường có trợ giảng (teaching assistant) giúp. Giờ còn lại của ông (bà) là để nghiên cứu, hướng dẫn sinh viên...[30]

-         Thiết bị đầy đủ cho nhân viên để có thể giảng dậy, nghiên cứu, hướng dẫn học viên một cách hiệu quả nhất: (1) mỗi người nên có phòng làm việc riêng, (2) thiết bị như dụng cụ, điện toán, v.v. đầy đủ. (3) Thư viện nên mở thêm giờ (ở ĐHQG Đài Loan, từ 8 giờ sáng tới 10 giờ đêm), (4) Cung cấp nơi cư ngụ hay trợ cấp tiền cư ngụ cho nhân viên (đặc biệt những người ở xa, độc thân và những nhân viên mới, lương còn thấp).

-         Thành lập hệ thống trợ lý (assistants). Các giáo sư (phó giáo sư, giáo sư trợ lý) thường có một trợ giảng (teaching assistant) và một trợ tá nghiên cứu (research assistant) (nếu có chương trình nghiên cứu). Thường trợ tá là những nghiên cứu sinh có học bổng. Nghiên cứu sinh vừa có học bổng, lại vừa có thể học hỏi trực tiếp từ giáo sư. Đây là một lối huấn luyện rất hay đào tạo nhân tài rất hiệu qủa.

 

4.4.         Giám Định – Thưởng-Phạt

-         Thiết lập hệ thống bổ nhiệm, thăng chức theo phương pháp khoa học. Chuẩn mực có thể như sau: Đại học nghiên cứu: 60% kết qủa nghiên cứu, 20% giảng dậy, 10% phục vụ, và 10% ảnh hưởng trong giới học thuật. Đại học chuyên viên: 50% nghiên cứu, 30% giảng dậy, 20% phục vụ. Đại học thường: 40% nghiên cứu, 40% giảng dậy, 20% phục vụ...[31]

-         Tăng thêm một cấp giáo sư: Giáo sư Trợ lí (Assistant Professor): Cấp này dành cho những nhà nghiên cứu sau tiến sĩ (post-doctoral). Những tiến sĩ gỉỏi, nếu có thêm kinh nghiệm giảng dậy một thời gian ngắn, có thể được phong chức Giáo sư Trợ lý. Như vậy ta có 3 cấp: Giáo sư Trợ lí, Phó Giáo sư, và Giáo sư.[32]

-         Thiết lập hệ thống giám định khả năng giảng dậy và nghiên cứu.[33]   

-         Theo kết qủa giám định, tài trợ, tăng lương, cổ võ những người dạy hay, nghiên cứu giỏi. Tại hai ĐH Bắc Kinh và Thanh Hoa (Bắc Kinh), lương một giáo sư lớn gấp 3 lần lương một giáo sư tại đại học khác cũng ở Bắc Kinh. Nhà nước Trung Quốc đã dành cho hai đại học này quyền tự chủ rất lớn, và trợ cấp tài chính rất hào phóng cho họ.

-         Đào thải những người thiếu khả năng giảng dậy và nghiên cứu,[34] cũng như những ai không xứng đáng (sao chép bài của người khác, lạm dụng quyền hành sách nhiễu học viên, sách nhiễu tính dục).

-         Giáo sư Chung thân: Để đảm bảo, và giữ lại những tài năng, ta nên có hê thống giao kèo. Mỗi giao kèo từ hai tới ba năm. Chỉ những học giả nào vượt khỏi 5 kỳ giám dịnh (15 năm), hay lên tới chức Giáo sư mới được ký giao kèo chung thân (tenure). Chung thân có nghĩa là không bị mất chức, cho tới khi về hưu (ở tuổi 65, hay tùy theo mỗi đại học).[35] Tuy nhiên nếu đạo văn, hay sách nhiễu tính dục, vẫn bị cách chức.

 

4.5. Chính Sách Tự Chủ

-         Hoàn toàn dựa vào học thuật, và tuyệt đối không nên dựa vào ý thức hệ chính trị, tôn giáo, giới tính, tuổi tác hay chủng tộc. Đây là bài học của các đại học thời danh thế giới như Oxford,[36] Cambridge, Harvard, Yale, Columbia, Duke, MIT, Caltech, Stanford, v.v.[37] Tại Á châu các đại học Tokyo, Kyoto, Sendai (Nhật), ĐHQG Đài Loan, ĐH Hồng Kông, ĐHQG Hán Thành là những đại học tự do nhất của các nước này. Họ tương đối tự chủ. Gần đây hai đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa cũng đã có được quyền tự chủ tương đối cao.

-         Bãi bỏ chế độ bình quân trong lương bổng. Đề nghị theo bài học của ĐH Bắc Kinh và Thanh Hoa trong vấn đề lương bổng. Ta không thể biến ĐHQG thành một đại học đẳng cấp nếu ban giảng huấn và nghiên cứu cũng như sinh viên sống với đồng lương “sống chưa đủ ăn, chết chưa đủ chôn” hiện nay.

-         Để bảo đảm chất lượng, cũng như để tránh căn bệnh “vọng ngoại” hay “người ngoài sáng giá hơn”,[38] ĐHQG nên theo gương ĐH Tokyo trọng dụng nhân tài từ chính đại học của mình nếu có khả năng tương đương với nhân tài đến từ các đại học khác.[39] Tuy nhiên, nếu người mình chưa đủ lực, ta không được “bế quan toả cảng” mà cùng lúc phải học theo các đại học hàng đầu của Mỹ, trọng dụng nhân tài từ khắp trên thế giới, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, mầu sắc chính trị. Để dung hoà hai chủ trương trên, tôi xin đề nghị Bộ GDĐT nên lập ra 1 danh sách quãng 1000 đại học (top 1000) mà chúng ta chấp nhận (có thể dạy học, nghiên cứu tại nước ta). Riêng ĐHQG nên hạn chế chỉ chấp nhận những ai tốt nghiệp trong số 300 (top 300) đại học hàng đầu trên thế giới.[40]

 

Nơi đây, chúng tôi xin nhấn mạnh, vấn đề quan trọng trong nền giáo dục đại học cách chung, và ĐHQG cách riêng, không phải là theo hệ thồng niên học hay tín chỉ, cũng không phải theo nước này hay nền văn hóa nọ,[41] nhưng chỉ nên theo một chuẩn mục duy nhất: đó là làm thế nào giúp cho học viên phát huy khả năng tới mực tối đa, cũng như giúp cho họ một năng lực, kỹ năng giải quyết những vấn đề kỹ thuật, làm một công cụ đắc lực cho việc phát triển khả năng. Riêng ĐHQG cần phải giúp học viên phát hiện và phát triển khả năng lãnh đạo của học viên.

 

4.6.         Tự Tin – Tránh Lỗi Vọng Ngoại, Tránh Tội Tự Mãn

Điểm cuối cùng mà chúng tôi nhấn mạnh, đó là chiến thắng cái nỗi nhục chung vốn nằm sâu tận trong cốt tủy, gắn liền với mầu da và lịch sử bị đô hộ của dân Việt: sự thiếu tự tin. Những vần thơ “tự cao tự đại” của Cao Bá Quát cũng như những “ba hoa chích choè” của nhân vật (dân gian) Trạng Quỳnh không tạo ra niềm tự tin, ngược lại che dấu bản chất vọng ngoại, thiếu tự tin. Hình như chúng ta chưa bao giờ có một niềm tự tin vào khả năng của dân tộc mình.[42] Tự hào, có lẽ đôi khi có (sau những đại thắng Bạch Đằng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, sau khi đuổi được quân Tầu, quân Pháp và quân Mỹ ra khỏi nước), nhưng tự tin, tôi nghĩ chưa bao giờ. Chúng ta vẫn còn ngưỡng vọng người da trắng một cách mù quáng. Chúng ta vẫn còn bị mặc cảm thua Tầu, thua Tây và lẽ dĩ nhiên thua Mỹ. Và chúng ta vẫn hãnh diện bắt chước họ, từ cách ăn nói đến cả cách cách sống. Nền giáo dục của chúng ta nói chung, và nền giáo dục đại học nói riêng, chẳng “giống ai” có lẽ vì chúng ta có qúa nhiều quan thầy mà chúng ta cố gắng “giống” họ. Nhưng điểm đau lòng nhất vẫn là, ta chưa muốn giống chính mình, và cũng không muốn cải tiến làm mình đẹp hơn, hay hơn, mà chỉ muốn giống “người ta” mà thôi.

Lẽ dĩ nhiên là, hiện nay chúng ta thua họ. Nhưng có lẽ đã đến lúc, phải nghĩ, chúng ta có thể bằng họ, hay vượt khỏi họ.[43] Ta học họ không phải để giống họ, nhưng để vượt khỏi họ. Bắt chước không thể làm chúng ta biến thành lãnh đạo. Chỉ có sáng tạo, tức đi trước, tức dẫn đường, tức tạo ra lịch sử, mới khiến thiên hạ chọn chúng ta làm lãnh đạo. Sứ mệnh của ĐHQG chính là tạo ra cho mỗi học viên niềm tự tin này: xác tín vào khả năng sáng tạo, vào khả năng dẫn đường, vào khả năng tìm ra mục đích của lịch sử. Đây là bài học mà Indian Institute of Technology (ÌIT) đã học đưọc. Đây là bài học mà người Nhật đã chứng minh sau trận đánh bại hạm đội Nga (1905), và các đại học của học đương tiếp tục (trong 100 đại học nhất thế giới, Nhật có tới 5 đại học, trong đó ĐH Tokyo xếp hạng 16). Đây cũng là bài học của ĐHQG Singapore (hiện xếp hạng 29 trên thế giới), của ĐHQG Seoul (xếp hạng 30), của ĐH Hồng Kông (xếp hạng 33), của ĐH Khoa Học Hồng Kông (xếp hạng 58), ĐH Malaya của Mã Lai (xếp hạng 43) và nhất là hai đại học Bắc Kinh (xếp hạng 15) và Thanh Hoa (được người Tầu đánh giá là số 1 hiện nay của Trung Quốc). Nếu họ, những người Á châu như chúng ta có thể làm được, thì người Việt vốn giỏi giang, tại sao không?

 

Viết xong tại Tân Trúc, dịp Tết Đinh Hợi 2007

Trần Văn Đoàn
--------------------------------------------------------------------------------

ª Trần Văn Đoàn ( 陳文團 ) , Đại Học Quốc Gia Đài Loan ( 國立臺灣大學 ) .

[1] Người viết xin gửi đến qúy đồng nghiệp tại ĐHKHXHNV những lời cảm ơn chân thành về thịnh tình và những ý kiến qúy báu. Đặc biệt, xin cảm tạ PGSTS Nguyễn Văn Khánh, Hiệu Trưởng, đã có nhã ý mời tới làm việc về việc chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ. Đồng thời đa tạ PGSTS Trần Đức Thanh, Trưởng Phòng Kiểm Tra Chất Lượng, đã trợ giúp rất nhiệt tâm; cũng như các bạn đồng nghiệp trong Khoa Triết Học, TS Trịnh Trí Thức, Chủ nhiệm, TS Nguyễn Vũ Hảo, Phó Chủ Nhiệm và TS Nguyễn Quang Hưng, Trưởng Bộ Môn Lịch Sử Triết Học Tây Phương, đã dành cho tôi một cảm tình sâu đậm. Riêng về phần Tiến sĩ Nguyễn Quang Hưng, tôi xin được phép đưa tên ông như là một thí dụ trong phần viết về Syllabus.

[2] Hạnh Nguyên, “Suy nghĩ hình thức đào tạo tín chỉ“, trong Tia Sáng (03.10.2006; cập nhật 02.02.2007)

[3] Theo tác giả Hạnh Nguyên – trong bài “Suy nghĩ hình thức đào tạo tín chỉ” (đã dẫn trên), dựa theo bản Hướng dẫn chuyển đổi chương trình đào tạo của ĐHQG Hà Nội -- tín chỉ “là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học một môn học, bao gồm: (1) Thời gian học tập, (2) Thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học, (3) Thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài.” (Chữ in đậm do chúng tôi ).

Theo thiển ý của người viết, đây là một lối hiểu máy móc, hình thức về tín chỉ, chỉ dựa theo khối lượng, mà chưa đặt lại vấn đề phẩm chất và nội dung.

Thực ra, hệ thống tín chỉ không nhất thiết là “một phương thức đào tạo đem lại hiệu qủa giáo dục cao, tạo tính mềm dẻo và khả năng thích ứng, hơn nữa cũng tạo được hiệu quả cao về quản lý và giảm đuợc giá thành đào tạo” (cùng bài trên của Hạnh Nguyên). Bởi lẽ ta khó có thể giải thích được tại sao hệ thống giáo dục Mỹ đều theo tín chỉ, nhưng chỉ có một số ít đại học thời danh mới đặt được “chất lượng cao,” và cái giá đào tạo của Mỹ vốn mắc nhất thế giới (chứ không phải “giảm giá thành” như Bộ Giáo Dục Đào Tạo đã nhận xét)! Theo Tạp chí Thiên Hạ (Hoa ngữ), số tháng 11-12, 2006, tr. 97, thì Mỹ quốc đầu tư cho mỗi sinh viên đại học, bình quân quãng US. 25.000, chỉ đứng sau Hương Cảng, quãng US. 28.000, trong khi Đài Loan quãng US.5000. Riêng Việt Nam, theo tôi được (các đồng nghiệp tại Hà Nội) cho biêt, nhà nước đầu tư rất thấp, quãng US.400, cho mỗi sinh viên (tại ĐHQG), còn thua xa cả Ấn Độ, quãng US. 700. Đây là nói về bình quân chứ chưa nói về những đại học giỏi. Các đại học lớn của Mỹ trung bình đầu tư quãng US. 60.000 cho một sinh viên nghiên cứu, trong khi tại Á châu, ĐH Hồng Kông, ĐHQG Singapore, ĐHQG Seoul... bỏ ra quãng US. 55.000 vào mỗi sinh viên.

Ngoài ra, ta thường nhầm lẫn cho rằng hệ thống tín chỉ là sản phẩm của nền giáo dục đại học Mỹ. Thực ra, nó khởi đầu với nền giáo dục của Đức, và bắt đầu với việc đặt lại sứ mệnh và mục đích chính của đại học. Nhưng ngày nay, sứ mệnh của đại học không còn có thuần túy nghiên cứu, hay đi tìm chân lý, mà đúng hơn nhắm tới lợi nhuận. Sản phẩm khoa học (và nghiên cứu) chỉ có giá trị nếu tạo ra lợi nhuận cao. Nói cách chung, hệ thống tín chỉ ngày nay gắn liền với thị trường kinh tế. Đây có lẽ là lí do chính khiến các nước học theo Mỹ. Xin tham khảo Jean-Francois Lyotard, La condition postmoderne – Rapport sur le savoir (Paris, 1973).

[4] Nơi đây, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa khả năng (capacity) và năng lực hay kỹ năng (ability).

 Khả năng nói lên cái lực có thể phát triển, hay áp dụng (thực thi) của học viên. Thí dụ, khả năng dùng ngôn ngữ, khả năng sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề, khả năng phát triển, v.v. Thủ tướng Konrad Adenauer, với một vốn liếng quãng 300 từ (vocabularies), đã có thể bàn về mọi vấn đề, từ ngoại giao tới tôn giáo, từ khoa học tới chính trị, từ kinh tế tới nghệ thuật, v.v., trong khi học sinh trung học chúng ta, với vốn liếng trên 3 ngàn từ vựng Anh ngữ (hay ngoại ngữ), vẫn không thể viết được một bài luận văn Anh ngữ (hay ngoại ngữ). Sự khác biệt nơi đây là khả năng biết dùng ngôn ngữ một cách snág tạo của Adenauer trong khi học sinh chúng ta chỉ được dậy một năng lực bắt chước, hay lập lại những gì trong sách vở.

Năng lực (ability) hay kỹ năng (technique) có được qua tập luyện, hay học tập. Nó chỉ phát triển tới một độ nào đó, sau đó giảm dần với tuổi tác, hay thể lực, hay trí nhớ... Thí dụ, kỹ thuật lái xe, kỹ thuật đánh tốc ký, hay sử dụng một công cụ nào đó. Tương tự, bác sĩ ngoại khoa thường có một năng lực tốt, kỹ năng cao về mổ xẻ sau nhiều năm thực tập, kinh nghiệm. Nhưng với tuổi già, với sự sa sút thể lực (mắt kém, tay run) ông khó có thể mổ giỏi như một bác sĩ ở tuổi 40. Tuy kỹ năng giảm sút nhưng khả năng nhận thức, kiến thức của ông (qua kinh nghiệm) vẫn không suy giảm.

[5] Tại Âu Mỹ, quan trọng không phải ở văn bằng cao thấp, mà xuất thân ở đại học nào. Ngay tại Cộng Hoà Liên Bang Đức, tuy gần như tất cả mọi đại học đều công lập, nhưng vào thập niên 1960, ĐH Munich (Nam Đức) đã từng từ chối không công nhận bằng cấp của các đại học như Frei Universitaet (ĐH Berlin), ĐH Bremen, ĐH Hamburg, v.v. Lý do, chất lượng ở các đại học bị từ chối qúa thấp. Tại Mỹ, bằng Cử nhân (B.A.) của các đại học, học viện nổi tiếng giá trị hơn bằng tiến sĩ của các đại học tầm thường. Một Cử nhân luật xuất thân từ ĐH Yale vẫn sáng giá hơn nhiều ông (bà) tiến sĩ luật ở các đại học hạng hai khác. Tương tự tại Nhật, bằng tốt nghiệp ĐH Tokyo gía trị hơn bằng tiến sĩ của những đại học kém. Cũng tại Âu châu, nhiều đại học tại một số nước không được công nhận. Thí dụ những bằng cấp về môt số ngành như luật học, triết học, xã hội học, v.v. ở Đông Đức (và tại Đông Âu) trước thời kỳ đổi mới không được công nhận tại các nước Tây Âu. Riêng tại Liên Bang Đức, giới pháp quan, luật sư Đông Đức (DDR) bắt buộc phải học lại luật của Tây Đức (BRD) nếu không muốn bị đào thải. Nhiều giáo sư triết học Đông Đức bị sa thải sau khi thống nhất hai miền Đức quốc, vì cái lực kém cỏi về triết học của họ.

[6] Tại Nhật, tuy theo hệ thống tín chỉ, nhưng sinh viên chỉ có khả năng thật sự khi bắt đầu đi thực tập hay đi làm cho một hãng, hay một sở nào đó. Nói cách khác, khả năng sinh viên có được không phải nơi giảng đường mà chính nhờ vào thực tập. Tại Mỹ, để được nhận vào những đại học thời danh, sinh viên phải chứng tỏ có khả năng về một lãnh vực nào đó. Thí dụ, nếu vào tuổi 18 mà đã thành triệu phú (qua công việc, kinh doanh, phát minh), có sáng chế,, thành đạt (trong chính trị, nghệ thuật, thể thao), hay chứng tỏ bản lãnh lãnh tụ (đại diện học sinh, chủ tịch công đoàn), v.v. thì bất cứ đại học nào cũng mời mọc và tặng học bổng cho học viên này.

[7] Thí dụ, khám phá của Jean Piaget về sự phát triển của tri thức và tâm lý (cho đến một tuổi nào đó) tương ứng với tuổi của trẻ em (học sinh), cũng như dựa vào sự thành công của nền giáo dục duy lý trong qúa khứ.

[8] Lối giáo dục khoa cử tại Việt Nam trong qúa khứ và thi cử hiện nay thường thì vẫn còn theo quan niệm tuổi tác này. Trong hệ thống khoa cử qúa khứ, lớp học phân ra làm tiểu tập, trung tập và đại tập. Đại tập có thể tham dự các kì thi: thi Hương (Cử nhân, Tú tài), thi Hội (Phó bảng) và thi Đình (Tiến sĩ). Ngày hôm nay ta có tiểu học, trung học và đại học, và tại đại học có Cử nhân (Học sĩ), Cao học (Thạc sĩ), Tiến sĩ (Bác sĩ). Để được nhập học, trừ cấp sau đại học, phải đạt tới một số tuổi qui định. Tuy nhiên, cần phải nói, thể chế thi cử của ta tương đối mềm dẻo. Trong qúa khứ chúng ta có những ông trạng, ông nghè rất trẻ. Ngày nay, tuy khó hơn, nhưng không phải không có.

[9] Tại Đức, Áo, Thụy sĩ và các nước Bắc Âu, sinh viên được tự do theo bất cứ lớp nào. Tuy nhiên cũng có những lớp học đòi hỏi phải qua hết thời kì thứ nhất (căn bản), hay hết cử nhân mới được tham dự, hay có một căn bản nhất định (thí dụ ngôn ngữ, v.v.). Quy định này thường do chính giáo sư giảng dậy chứ không phải do nhà trường, hay khoa, đòi buộc. Nơi đây ta thấy tính tự chủ của thầy giáo và học viên rất cao.

[10] Tùy theo mỗi đại học. Có nơi, 14 tiết học tính thành 1 tín chỉ, trong khi cũng có nơi đòi 20 tiết học mới có được 1 tín chỉ. Tại Á châu (Nhật, Đài Loan, Đại Hàn), trung bình quãng 16-18 tiết tính 1 tín chỉ, trong khi tại Mỹ và Âu châu, quãng 14 tiết một tín chỉ. Mỗi tiết quãng 50 phút.

[11] Đây là những chuẩn mực chung cho nhiều nước. Tuy nhiên, mỗi đại học có những chủ trương khác nhau, nên bằng cấp và thời gian không nhất thiết giống nhau. Tại Mỹ, bằng Thạc sĩ (M.S. hay M.A.), trừ bằng MBA, thường không có giá trị lắm. Thành thử người Mỹ thường hay nhạo Thạc sĩ là “Nhiều hơn thì cũng như rứa, more of the same, MS). Thế nên, có nơi chỉ cần 6 tháng, có thể hoàn tất bằng Thạc sĩ. Cũng có những đại học (nổi tiếng như Harvard, Princeton, Yale, UC Berkeley...), nghiên cứu sinh không đủ lực hoàn tất Tiến sĩ thường được cấp bằng Thạc sĩ (nếu yêu cầu) để có thể về nước (mà không xấu hổ về tay không). Tại Anh, văn bằng Thạc sĩ (M.A. hay M.S.) cũng không có gía trị bao nhiêu. Nhiều người chỉ cần một năm, thậm chí 6 tháng cũng có thể lấy được bằng Thạc sĩ. Cũng ở Anh, để theo lớp Tiến sĩ, phải có văn bằng M.Ph. Văn bằng này tương đương với tư cách Ứng viên Tiến sĩ (Ph.D. Candidate) bên Mỹ và Đài Loan, và Phó Tiến sĩ (của nghiên cứu sinh Việt tại Đông Âu và ở nước nhà trước năm 2002)

[12] Các Đại Học Tokyo, Kyoto, Kyushu, Sendai, Osaka, Nagoya... và ĐH Đài Loan (Taihoku) đại học duy nhất ngoài Nhật). ĐH Đài Loan, sau khi Nhật trả lại Đài Loan cho Trung Quốc, đổi tên lại thành ĐHQG Đài Loan. 

[13] Tại ĐH Minnesota, để có tiến sĩ sử học, học viên phải hoàn tất gần 100 tín chỉ. Nhưng tín chỉ của đại học này ngắn hơn (quãng 10 tiết cho một tín chỉ). Trong khi tại ĐH Harvard, có lẽ học viên chỉ cần từ 24 đến 32 tín chỉ (mỗi tín chỉ quãng 14 tiết).

[14] Thí dụ như tại Học Viện New College (ĐH Oxford), sinh viên chỉ có thi hai môn, một môn thi nhập học và một môn thi tốt nghiệp (one to get in and one to get out). Tại các đại học như MIT, Caltech, Cambridge, sinh viên làm nghiên cứu nhiều hơn. Giáo sư hướng dẫn giám định và xác định khả năng của sinh viên qua nghiên cứu. Thi cử theo kiểu Việt Nam là một điều họa hiếm thấy nơi các đại học này. Tại các đại học Đức, thi cử không qúa nhiều, và nhất là không có thi viết một cách máy móc như ở Việt Nam. Thường thi vấn đáp nếu theo lớp giảng (Vorlesung), hay giám định bài viết (báo cáo (Protokol), luận văn nếu tham dự thảo luận (Seminararbeit) và sự tham dự (Teilnehmen) của sinh viên trong các lớp thảo luận (Seminars), hay hướng dẫn (Colloquia, Privatissisma).

[15] Syllabus, tiếng La tinh có nghĩa là vần (syllable). Học đánh vần (syllabary) là môn học căn bản và đòi buộc phải theo thứ tự. Từ syllabus dùng vào trong đại học mang nghĩa (1) chương trình lớp học, (2) bảng tóm lược lớp học, và (3) những lớp mẫu, căn bản mà ai cũng phải học.

[16] Nước Đức được đánh gía rất cao (vào bậc nhất) trong hệ thống sư phạm trung học. Các giáo viên trung học Đức, ngoài bằng Thạc Sĩ sư phạm, thường có thêm văn bằng Thạc Sĩ chuyên khoa. Thí dụ, một giáo viên âm nhạc thường tốt nghiệp cả hai bộ môn sư phạm và âm nhạc (Doppelstudium). Để đáp lại, luơng bổng của họ cũng tương đối hậu hĩ.

[17] Bảng xếp hạng các đại học ở Âu, Mỹ, Á châu và Thái Bình Dương và trên cả thế giới không hoàn toàn đồng nhất. Nhưng tựu trung, đều dựa trên thành qủa và ảnh hưởng. Mà thành qủa và ảnh hưởng được biết qua sự đánh giá giữa mục đích đặt ra và thành qủa đạt được. Tại Mỹ (theo US Magazines, Newsweek, US Report, v.v)), các đại học (tư thục) như Princeton, Harvard, Yale, MIT, Caltech, Stanford, Duke, Johns Hopkins, Columbia, Cornell, Pensylvania, Chicago... luôn được xếp đầu vì họ đào tạo ra giới lãnh đạo của mọi ngành có ảnh hưởng sâu rộng tới nước Mỹ và toàn thế giớ. Thí dụ, ĐH Chicago mang dấu ấn quyết định trên nền kinh tế toàn cầu, trong khi ĐH Harvard ảnh hưởng đến chiều hướng chính trị trên toàn thế giới. Tại Âu châu (theo Tạp chí hay báo chí Der Spiegel, Times Magazine, Sun), các ĐH như Oxford, Cambridge, Louvain, Lausanne, London School of Economics and Politics, v.v. luôn dẫn đầu vì những thành qủa tương tự. Tại Á châu và Úc châu (theo Asiaweeks), các ĐH như Tokyo, Kyoto, National Seoul University, National Taiwan University, National Singapore University, Hongkong University, The Chinese University of Hongkong, Bắc Kinh, Melbourn., National Australian University.. được xếp hàng đầu vì thành qủa và ảnh hưởng của chúng. Gần đây, ĐH Giao Thông (Thuợng Hải) xếp hạng các đại học trên thế giới theo thành qủa khoa học, trong khi nhật báo Sun (của Anh) xếp hạng các đại học trên thế giới theo ảnh hưởng của chúng.

[18] Nhà nước Trung Quốc gần đây đổ rất nhiều tiền vào ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa. Tương tự, các nước Đại Hàn, Singapore, Hongkong và Đài Loan cũng đã đầu tư rất nhiều vào các đại học hàng đầu của họ. Năm 2005, trung bình các nước trên (trừ Đài Loan) đầu tư cỡ US.50.000 vào mỗi sinh viên trong các đại học ưu tú này. Chính vì vậy mà các ĐHQG Đài Loan, ĐHQG Hán Thành, ĐHQG Singapore, ĐH Hongkong đương bám sát các đại học Tokyo và Kyoto, và đã vượt khỏi nhiều đại học tại Âu Mỹ và Úc. Bảng xếp hạng gần đây của tờ nhật báo Sun (Anh), có trên 10 đại học của Á châu xếp hạng trong số 100 đại học giỏi nhất thế giới. ĐH Bắc Kinh xếp hạng thứ 15, trong khi ĐH Tokyo hạng thứ 16, ĐH National Seoul University xếp hạng 29, ĐH National University of Singapore xếp thứ 33. Trong khi nhiều nước Âu châu (trừ Anh), và ngay cả nước Đức, không có mấy đại học lọt vào trong sổ 100 đại học ưu tú này. Đây là lí do mà năm 2006, chính phủ Đức đã quyết định tăng trợ cấp giúp 3 đại học (ĐH Munich, ĐH Khoa Học Công Nghệ Munich, và ĐH Khoa Học Công Nghệ Karlsruhe, tất cả đều nằm ở miền Nam Đức) để cạnh tranh với Anh và Mỹ.

[19] Xin tham khảo bài “Góp Ý Kiến về Việc Xây Dựng Đại Học Đẳng cấp Thế Giới” của chúng tôi.

[20] Chú ý là những trường này, sau này phát triển thành những đại học đầu ngành của Pháp, nên mục đích cũng thay đổi, từ thuần túy phục vụ nhà nước biến thành nghiên cứu khoa học, đi tìm và bảo vệ chân lý. Thực ra, nhà nuớc Pháp đã đổ rất nhiều tiền vào những “trường lớn” này, trong khi chỉ đầu tư “nhỏ giọt” vào các đại học. Đây cũng là lí do trì trệ của các đại học Pháp

[21] Trường hợp Giáo sư Trần Đức Thảo, sau khi tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Paris (phố Ulm), ông phải nhập ĐH Sorbonne để hoàn thành luận án tiến sĩ. Vì chưa hoàn tất luận án, ông đã trở về Việt Nam, nên Giáo sư Thảo không được nhận dậy tại đại học của Pháp, mặc dù tài năng của ông khiến nhiều người nể phục. Tương tự, triết gia Jean-Paul Sartre, tuy tốt nghiệp cùng trường Cao Đẳng Sư Phạm như Gs Thảo, nhưng vì không học tiến sĩ, nên chưa bao giờ được mời dậy tại đại học. Oái oăm là các giáo sư đại học giảng dậy về triết học của Sartre, người không được phép dậy ở đại học. Ớ Anh, Mỹ... không nhất thiết theo quy định như của người Pháp hay Đức. Rất nhiều giáo sư tại ĐH Oxford không có học vị tiến sĩ.

[22] Tại Việt Nam, vì trọng bằng cấp, và nhất là có một quan niệm không hẳn đúng “quan lớn, học vấn lớn” nên gần như tất cả mọi đại học chuyên ngành đều có lớp tiến sĩ, mặc dù không hề phân biệt một cách rõ rệt hai chức năng phục vụ và nghiên cứu. Đa số chỉ nhắm vào văn bằng tiến sĩ chứ không phải vì mục đích nghiên cứu. Có lẽ, đây là một trong nhiều lý do giải thích sự kém chất lượng trong nghiên cứu của các đại học nước nhà. Theo Gs Hoàng Tụy và nhiều nhân sĩ, thì chất lượng tiến sĩ của ta rất thấp. Nhiều ông “nghè hiện đại” lực học còn thua cả các “cu cử” thời trước. Xin tham khảo www.vietnamnet.net Phần bàn về Giáo dục Đại học. Tương tự trong www.tiasang.org

   Tại Mỹ, rất nhiều tài năng chỉ tốt nghiệp đại học (thí dụ tuyệt đại đa số tổng thống, nghị sĩ, thống đốc đều chỉ tốt nghiệp đại học). Nói chung, những người ưa thích nghiên cứu, hay muốn dạy tại đại học mới làm tiến sĩ (Ph.D.). Cũng có những người có danh “tiến sĩ “(Doctor) thí dụ nhu J.D. (Jurist Doctor), bác sĩ (D. Med.), hay “tiến sĩ giáo dục” (Ed.D.), nhưng thực chất chỉ là chuyên gia, chứ không phải nghiên cứu (Ph.D.). Và do đó, họ không được chấp nhận dậy ở đại học. Bằng bác sĩ chỉ là bằng tốt nghiệp Y khoa. Để có Tiến sĩ Y khoa (Ph.D. in Medicine), ông hay bà bác sĩ phải học, thực tập thêm một thời gian khá dài, và nhất là phải có nghiên cứu (luận án).

[23] Những đại học hàng đầu của ta hiện nay, có thể nói mà không sợ quá đáng, chỉ ngang với tầm mức của các đại học này.

[24] Thí dụ toán học là môn sở trường của người Á đông. ĐHQG Đài Loan nổi tiếng vì từng đào tạo ra những nhà toán học nổi tiếng trên thế giới. Đã có một thời, những giáo sư điều hành các viện nghiên cứu toán học ở các đại học nổi tiếng của Mỹ là cựu học sinh của ĐHQG Đài Loan. Tôi thiết nghĩ, về toán học, vật lý, hóa học, y học, Việt Nam chúng ta không thua kém người Tầu hay Nhật, nếu chúng ta biết đào tạo và đầu tư vào những ngành nghiên cứu này.

[25] Theo nguyên lý lãnh đạo trên, Trần Hưng Đạo là nhà lãnh đạo quân sự đại tài, Nguyễn Công Trứ là một nhà lãnh đạo (cả quân sự lẫn dân sự) sâu sắc, trong khi Quang Trung, một nhà lãnh đạo tài ba trong quân sự, nhưng tầm thường trong lãnh vực hành chính, dân sự.

[26] Trong những năm gần đây, người viết cũng đã từng đưa ra nhiều ý kiến về việc cải tổ đại học nước nhà. Nhiều điểm trong bái báo cáo này đã được bàn tới một cách cặn kẽ hơn Xin tham khảo: Trần Văn Đoàn, “Tự Chủ trong Đại Học,” Thông Tin, số  (Hà Nội: Viện Thông Tin, 2005); Trần Văn Đoàn, “Ý Kiến về Việc Thành Lập Đại Học Đẳng Cấp Thế Giới” (viết năm 2005, sẽ in). 

[27] Tại các đại học thời danh, ta thường thấy trường chọn một triết gia, hay một tập sách kinh điển triết học để làm nền tảng cho đại học. ĐH Chicago (một đại học tư thục) với 62 giải Nobel, trong đó 14 giải Nobel về kinh tế (tính tới năm 2001), chọn tập sách Republic của Plato như là tập sách bắt buộc cho tất cả mọi sinh viên phải đọc. Chú ý, Plato là triết gia “nghĩ lớn” (sáng tạo), mạo hiểm và thự c tiễn (thành lập cộng hòa đầu tiên), lại có tài giáo dục, viết lách.

[28] Ngạn ngữ của người La Mã: Làm sao có thể cho điều mà ta không có? (Nihil dabo quid non habeo)

[29] Bộ phận này không đồng nhất với Hội đồng Khoa học hiện có. Tại các đại học lớn, thường Ủy ban do các nhà khoa học, hay các giáo sư thời danh kiêm nhiệm. Những người quản lý không có quyền hành gì nơi đây.

[30] Tại ĐH Đài Loan, Giáo sư (Professor) dậy từ 4 tới 8 tiết mỗi tuần. Phó Giáo sư (Associate Professor) từ 4 tới 9 tiết mỗi tuần. Giáo sư trợ lý (Assistant Professor) từ 6 tới 9 tiết mỗi tuần. Giảng viên thường từ 9 tiết tới 11 tiết. Tại ĐH Bắc Kinh và Thanh Hoa, Giáo sư (hướng dẫn nghiên cứu sinh) không cần mở lớp, trong khi các Giáo sư thường chỉ dậy 2 tới 4 tiết mỗi tuần. Tại các đại học Đức, Giáo sư và Phó Giáo sư mở lớp nhiều hơn các Giảng viên gấp 3 lần. Lý do, giáo sư nhiều kiến thức lại có thêm trợ tá nên mở nhiều lớp, trong khi giảng viên cần phải học hỏi nghiên cứu nhiều hơn. Thường thì giảng viên (với bằng tiến sĩ) chỉ mở 1 lớp (2 tiết) mỗi tuần, trong khi Giảng sư (Univ. Dozent), tức những người đã thông qua luận án Giảng sư (Habilitation, sau tiến sĩ từ 4 đến 9 năm) và chờ đợi lên hàng Giáo sư, có thể dậy 2 tới 3 lớp mỗi tuần. Gần đây, Đức, Áo đã bắt đều theo hệ thống đại học của Mỹ (thêm cấp Giáo sư Trợ lý, và bãi bỏ Habilitation).

[31] Riêng về chức Giáo sư nên mở rộng cho tất cả mọi người ở khắp nơi trên thế giới đăng kí tham dự (trường hợp hai ĐHQG). Hệ thống chọn lựa Giáo sư tại các đại học lớn là một hệ thống đáng học hỏi: tuy tôn kém, nhưng chất lượng và tính chất quốc tế được bảo đảm. ĐHQG nên chủ động đi tìm kiếm nhân tài.

[32] Ngoài ra, tại ĐHQG nên có những ghế Giáo sư Giảng tòa (Chair Professor), khuyến khích những người giàu đầu tư vào giáo dục và nghiên cứu. Giáo sư Giảng tòa là những vị được bổ nhiệm vào một ghế mang tên người hảo tâm tặng tiền lập ra ghế giáo sư này. Thí dụ một ông hay bà, hay gia đình mang tên Nguyễn Văn, có nhã ý tặng cho ĐH một số tiền (thí dụ 50 tỉ) lập một ghế chuyên về Văn Hóa Việt, ĐH sẽ đầu tư số tiền này, và lấy tiền lợi nhuận lập ra ghế Giảng tòa, mời Giáo sư họ Lê giữ. Giáo sư họ Lê sẽ được gọi là The Nguyên Van Professor of Vietnamese Culture, Professor Le.. Tại các đại học hàng đầu của Mỹ, có rất nhiều ghế Giáo sư Giảng tòa như vậy.

[33] Tương tự hệ thống thăng chức hay đào thải. Tuy nhiên cần phải cụ thể hơn về lượng và phẩm: Kết qủa nghiên cứu xuất bản ở đâu (tạp chí nào, có được công nhận hay không, nhà xuất bản nào), tác phẩm có được trích dẫn hay không. Số lượng tối thiểu để thăng chức là bao nhiêu. Tính chất quốc tế cao hay thấp. Ngoài ra, cũng cần phải chú trọng thẩm định của sinh viên theo lớp (cần lập một bản lượng giá để sinh viên dễ dàng thẩm định). 

[34] Tại các đại học như ĐHQG Đài Loan, mỗi 3 năm, mỗi người (giáo sư, phó giáo sư, giáo sư trợ lí, giảng sư, giảng viên) đều phải qua một cuộc giám định (60% thành qủa nghiên cứu, 30% thành qủa giảng dậy, có sự tham gia ý kiến của sinh viên, và 10% phục vụ, tham gia, tổ chức hội thảo quốc tế). Nếu không đủ tiêu chuẩn (70% trở lên), giảng viên sẽ bị cảnh cáo, cắt trợ cấp và chương trình nghiên cứu. Sau một năm, kiểm định lại mà không đủ tiêu chuẩn thì bị đào thải. Chỉ những người đã từng đạt được giải thưởng quốc tế (Nobel, Fields, Kyoto Prize, v.v.), cấp viện sĩ, hay liên tiếp đạt trên 10 giải thưởng của Hội Đồng Khoa Học Nhà Nước mới được miễn không bị giám định.

[35] Cách chung, tuổi về hưu cho các giáo sư là 65. Tuy nhiên trong khoa học xã hội nhân văn, vì nhân tài đa số “tuổi càng cao, trí tuệ càng lớn” nên thường không giới hạn tuổi tác. Tại Mỹ, tùy theo mỗi đại học, có vị giáo sư trên 80 tuổi vẫn được trọng dụng. Những Giáo sư Giảng tòa vì không “ăn lương” đại học (mà do tiền lợi nhuận của số tiền tặng) nên không hạn chế tuổi tác. Tại Nhật, Đài Loan, Đại Hàn, nhiều đại học tư thục vẫn có chế độ đặc biệt dành cho nhân tài: họ có thể làm việc cho tới chết.

[36] ĐH Oxford từng phủ quyết không theo truyền thống cấp tặng văn bằng tiến sĩ danh dự cho thủ tướng đương thời, bà Margareth Thacher, chỉ vì bà này cắt bớt ngân khoản trợ cấp cho đại học nói chung, và cho Oxford cách riêng. Theo truyền thống của Oxford, bất cứ cựu sinh viên nào giữ chức tổng thống, thủ tướng hay quốc vuơng đều được tặng bằng tiến sĩ danh dự. Bà Thatcher là cựu sinh viên duy nhất bị Oxford từ chối.

[37] ĐH Berlin (Humboldt) đã có một thời là đại học số 1 trên thế giới. Đến thời Hitler (bị đảng Nazi chi phối), và sau này vì thiếu tự chủ, đại học này xuống cấp một cách thê thảm. Nói chung, văn bằng của đại học này trước 1990 không được các đại học Tây Đức, và Tây Âu công nhận. Ngày nay, ĐH Humbolbt đương cố gắng phục hồi lại vinh quang qúa khứ trước thời Nazi.

[38] Vọng ngoại sinh ra tệ hại mua bằng giả ngoại quốc, hay căn bệnh đua đòi “du học”. Đài Loan cũng có bệnh này. Nhưng từ khi Bộ Giáo Dục Đài Loan chỉ chấp nhận 300 đại học, nhiều “du học sinh” với những bằng cấp ở các đại học không được công nhận, không kiếm được việc làm trong các đại học công lập hay cơ sở của nhà nước nữa. Từ đây tạo ra được sự tự trọng của hệ thống đại học Đài Loan, cũng như giảm hoang phí “du học” (như hiện đương thịnh hành ở Việt Nam).

[39] Tuy nhiên, để tránh tệ đoan “thầy trò bênh nhau” hay “môn hộ” con hát mẹ khen hay, ĐHQG nên theo gương các đại học lớn của Mỹ, chỉ dùng người của mình sau khi họ đã có nhiều năm thử thách và thành danh tại các đại học khác.

[40] Bộ Giáo Dục Đài Loan có một danh sách quãng 300 đại học trên thế giới mà nhà nước Đài Loan chấp nhận văn bằng. Riêng ĐHQG Đài Loan (nơi tôi đương công tác) chỉ chấp nhận quãng 50 đến 100 đại học hàng đầu thế giới. Điều này có nghĩa là, nều không có bằng tiến sĩ từ những đại học này, thì không hy vọng có thể được chấp nhận vào làm việc hay dậy học tại ĐHQGĐL. Chính vì vậy mà ngay cả những người có tiến sĩ ở ĐH Bắc Kinh cũng không được nhận vào làm việc ở ĐHQGĐL. Tuy nhiên, điều cấn phải nói, đó là, bất cứ sinh viên từ đại học nào đều có quyền ghi tên dự thi vào ĐHQGĐL. Nếu có đủ lực và tài năng, thì người này được chấp nhận. Tương tự, nếu có những công trình nghiên cứu nổi tiếng, thì cho dù tốt nghiệp ở Đại học nào đi nữa, vẫn được mời tới dậy hay nghiên cứu ở ĐHQGĐL.

[41] Thực ra, như nhiều học gỉa đã nêu ra (xin tham khảo các bài đóng góp trên www. vietnamnet.org, hay www. tiasang.com.vn), bất cứ một hệ thống giáo dục đào tạo nào cũng có nhiều ưu điểm cũng như khuyết điểm. Hệ thống tín chỉ thực ra có rất nhiều khuyết điểm bởi lẽ nó được xây dựng trên tôn chỉ lợi nhuận. Đối với những nước nghèo, hệ thống tín chỉ khó có thể thực thi. Đây là lí do tại sao Đài Loan từng theo hệ thống tín chỉ cả trên 50 năm, nhưng đến gần đây, nhờ vào sự phát triển kinh tế, nên mới có thể gần được như Mỹ.

[42] Tôi rất buồn phiền khi nhiều nhà trí thức lón Việt Nam từng hỏi ”có phải tôi dậy tiếng Việt bên Tầu hay bên Đức bằng tiếng Anh?” Họ nghĩ, làm sao mà có người Việt có thể dậy triết học tại các đại học số một của Tầu bằng tiếng Tầu, tại các đại học nói tiếng Đức bằng tiếng Đức! Họ không tin vào khả năng của người Việt. Tôi từng trả lời, bất cứ người Việt nào biết tận dụng khả năng của mình đều làm được, và tôi không phải là một ngoại lệ. Trên thế giới đã có bao người Việt như thế, và tại bất cứ nước nào bằng tiếng nói của nước ấy!

[43] Nam Hàn tự cho mình sứ mạng phải bắt kịp Nhật trong 20 năm, và Nhật tự đặt 20 giải Nobel như là mục đích của cả nền khoa học Nhật trong vòng 30 năm. Nhỏ hơn, ĐH Giao Thông (Đài Loan) tự cho họ 1 sứ mạng bắt kịp đại học số 50 trên thế giới tức Carnegie Mellon University (Mỹ) trong vòng 10 năm, trong khi ĐHQG Đài Loan tự cho mình sứ mạng sẽ đánh bại đại học giỏi nhất của Australia (Úc châu), tức ĐH Melbourn, trong một thời gian ngắn hơn. Vậy thì, cái “sứ mạng” tức mục tiêu cụ thể nhất của hai ĐHQG là gì? Ta có dám “nghĩ lớn” (thingking big) thay vì chỉ “nói lớn” (boastfully) hay không?

Tác giả: Trần Văn Đoàn
   dunglac@gmail.com