Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Văn Đoàn
tran@ntu.edu.tw
Bài Viết Của
Trần Văn Đoàn
Chương VII: Những Trường Phái Thông Diễn Học - Trường Phái Dilthey-Betti
Tinh hoa ý thức hệ của Việt Nho
Hiện tượng học tại Việt Nam - Phenomenology in Vietnam
Trang nối kết
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 4: Kết luận: những đề nghị
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 3: Hệ thống đào tạo tín chỉ tại ĐHQG
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 2: Sứ Mệnh, Mục Đích, Mục Tiêu của ĐHQG.
Đào tạo Đại Học theo hệ thống tín chỉ - Bài 1: Thế nào là tín chỉ, đào tạo tín chỉ ?
Tưởng Niệm Cụ Kim Định - In Memoriam Dominici Luong Kim Dinh
Mẫu tính trong văn hoá Việt
Sự Thiết Yếu của Tự Do Nghiên Cứu.
VỀ NGUỒN, CAO THĂNG VÀ VIỆT ĐẠO

VỀ NGUỒN, CAO THĂNG và VIỆT ĐẠO

Tưỏng Nhớ Linh Mục Trần Cao Tường (1946-2010)

Trần Văn Đoàn

 

1.     Nhà Tư Tưởng và vị Tu Sỹ Yêu Nước 

Độc gỉa quen thuộc với linh mục Trần Cao Tường có lẽ ít, hay không, để ý đến một “sự kiện,” đó là linh mục họ Trần còn có một bút hiệu là Cao Thăng. Bút hiệu này xuất hiện vào cuối thập niên 1960 trên những bài viết đăng trong tập san Lê Bảo Tịnh, một nội san của Hội Sinh Viên tu học tại Roma.  Taị sao Cao Thăng mà không chọn Cao Tiến, tên đầu tiên do cha mẹ đặt cho cậu bé Tường?  Tại sao người sinh viên trẻ vốn mang tên thánh An Đệ (Andrew) từ khi được nhận phép Rửa, khi bước vào tuổi “nhi lập” lại chọn thánh Dũng Lạc làm quan Thầy?

Chúng ta cũng dễ bỏ qua một “sự kiện” khác, đó là trong hầu hết các tác phẩm, vị linh mục này luôn lập đi lập lại không biết mệt ba “ý niệm”: “đạo” (đường), “cao” (thăng) và “về nguồn.” Chỉ cần lướt qua tựa đề trên mười tác phẩm để đời, độc gỉa nhận ra hầu hết đều có chữ nguồn, chữ cao, chữ đạo, chữ đường: Về Nguồn Việt Đạo, Suối Nguồn Tình Yêu, Đường Đi Tới Nguồn, Nẻo Bước Vươn Cao, Vũ Khúc Thăng Ca, Đạo Sống Dũng Lạc, Đường Nở Hoa Lê Thị Thành, Đường Thập Giá Cuộc Đời...  

Tôi nghĩ, chính “sự kiện” và câu hỏi ít được chú ý đến này có lẽ giúp những người từng quen biết hiểu phần nào con người linh mục Việt mang tên Trần Cao Tường chứ không phải là “ông cố đạo Andrew” này.  Dựa vào sự kiện này, tôi có thể nói mà không sợ quyết đoán, đó là tư tưởng trở về nguồn Việt và phát triển đạo Việt mới là động lực hun đúc và phát huy làm nên con người linh mục họ Trần. Một người dám dấn thân vào một công việc, xem ra dễ dàng nhưng lại cực kỳ khó khăn như “đội đá và trời,” đó là làm thế nào để “trở về nguồn” và để “dân Việt ngóc đầu lên.” Họ Trần không dấu diếm ý tưởng này qua bài thuyết giảng trong thánh lễ an táng tiễn biệt Kim Định, một linh mục, một triết gia đi hàng đầu khai quật tư tưởng Việt, và là người có ảnh hưởng sâu đậm trên chính Trần Cao Tường.  Họ Trần nói: “Như trong một cuộc chạy đua tiếp sức, người chạy trước là thầy Kim Định, đã cố gắng hết sức làm xong nhiệm vụ trong một quãng đường đời. Bây giờ bó đuốc lửa Việt này được trao lại cho người chạy tiếp. Mỗi người trong những vị thế khác nhau, xin nhận lấy mà làm một cái gì cho dân mình ngóc đầu lên đi chứ.”[1]

 

Ngóc đầu lên không khó, nhưng ngóc đầu lên theo nghĩa vươn cao nhìn hướng thượng và thăng tiến thì lại chẳng dễ tí nào. Bởi vì để có thể ngóc đầu lên thì trước hết phải có đủ lực tự đứng dậy, thoát khỏi trói buộc và nhất là nhìn ra được cái thực thể của thế giới bên ngoài và trên cao. Và để có đủ lực tự vươn cao, thì cần phải hội đủ tối thiểu ba điều kiện: (1) nhận thức đưọc cái tình trạng thấp lè tè trên mặt đất của mình cũng như nhận ra được cái tầm cao hơn nơi thế giới khác, (2) tích lũy hay luyện tập đủ năng lực để tự đứng lên, tự giải thoát, và (3) nhất là quyết tâm tiến đến cái đích mà ta từng mơ tưởng.

Nói cách khác, để có được những điều kiện trên thì trước hết phải có một nguồn sống trước. Nguồn sống, hay là động lực này sản sinh ra năng lựơng tạo ra nhận thức dân tộc, nhìn tới được đích đi của dân tộc, và thôi thúc ta đi tìm phương thế để đạt tới đích. Đó chính là Việt đạo, cũng chính là nguồn, là đích và là động lực.

 

Điều khó khăn thứ nhất mà cho tới nay dân Việt vẫn chưa vượt qua được, đó là không muốn nhìn lên cao, không thích nhìn ra bên ngoài, và tự mãn trong cái “đáy giếng” (Việt tỉnh) của mình.[2] Trong dụ ngôn “Hang Động,” triết gia Plato đã đưa ra một hình ảnh nghịch đời nhưng thật sâu sắc và bi đát. Qua đối thoại (do Plato ghi lại) giữa Socrates và Glaucon (anh của Plato), ông nhận định, nhóm người nô lệ vì thiếu ý thức, hay ý thức sai lầm, hay mù quáng, họ không thể nhận ra sự thật. Câu chuyện gỉa tưởng về một nhóm phạm nhân. Họ bị trói chặt giam trong hang động chỉ nhìn được một hướng, đó là vách động. Qua ánh lửa bập bùng từ lò lửa đặt sau lưng, họ thấy được chính bóng hình của họ trên vách đá. Và rồi họ tưởng đó chính là cái thế giới trung thực của họ. Họ xác tín, sống chết với thế giới đó. Bi kịch “ếch ngồi đáy giếng,” hay nới rộng ra tới “lũy tre xanh;” bi hài kịch “bằng lòng” với số phận “Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao” (Nguyễn Du), đã biến thành thảm kịch khi có một ai đó may mắn thoát ra bên ngoài, biết được sự thật, và quay trở lại nói cho đồng bào của mình. Họ cám ơn chăng?  Không!  Kinh ngạc và kinh sợ hơn. Plato kể tiếp, có một phạm nhân được giải thoát và thấy được thế giới bên ngoài. Ông quay về để giải thoát đồng bạn, nhưng chẳng ai tin ông. Thậm chí, rất có thể họ còn muốn giết ông nữa.[3]

Thảm kịch “Hang Động” lập đi lại lại trên những nuớc khổ nạn, trong những xã hội đóng kín.  Vẫn chưa có một tín hiệu lạc quan nào. Bi hài kịch của một Nguyễn Truờng Tộ thời Tự Đức vẫn còn tiếp diễn, ngay trong một cái xã hội mà người dân đang “được tận hưởng” cái bánh “độc lập, tự do, hạnh phúc,” một cái bánh rất to và rất đẹp và xem ra rất ngon. Một chiếc bánh vẽ chễm chệ trên đầu mỗi công văn, nghễu nghện trên băng-rôn rực đỏ mọi ngã đường.  Thảm kịch “Hang Động” nói lên hai mặt tiêu cực của con người. Một mặt tự mãn với cái thế giới của mình, và một mặt chống đối, đàn áp hay hủy diệt thế giới khác với mình.  Từ đây phát sinh nhiều bi hài kịch.  Chúng ta rất dễ dãi với chính mình, gia đình mình hay đảng ta, nhưng lại rất khắt khe với người khác.  “Dân trí thấp” là một lời chối tội ngu xuẩn, nhưng tìm đủ mọci cách không nâng cao dân trí, đó mới là nguyên nhân chính của thảm kịch. Những kẻ tự giam mình trong hang động, từ chối tìm hiểu, và bắt người khác phải theo họ.

Kim Định, người muốn vực dậy tâm thức Việt, từng bị nhạo cười, tửng bị hiểu nhầm. Một bên, người ta cho ông là một “lang băm,” là “phản động.” Nhưng người ta lại không thèm đọc sách của ông, và còn ngăn cấm đọc ông. Một bên khác, ngược lại, họ tôn ông là “tổ sư” là một “vạn thế sư biểu.” Sách của Kim Định được nâng niu như “thánh kinh” và được tụng ca như “kinh kệ.”  Nhưng đã có mấy ai đọc Kim Định, đừng nói đọc cho tới nơi tới chốn, tới ngọn tới ngành?  Họ chỉ cần biết có thể dùng ông như một công cụ để xác định chính mình và để gạt những quan điểm khác ra ngoài. Những người phản đối hay ủng hộ Kim Định đều có một hành xử như nhau: họ tự xây dựng một thế giới riêng cho họ, và tự đóng mình trong đó. Bi hài kịch “hang động” vẫn tiếp diễn, từ trong nước ra tới hải ngoại.

 

Tôi nghĩ, Trần Cao Tường thuộc về một số rất ít người hiểu Kim Định. Họ Trần không cực đoan tin hết những gì triết gia họ Lương viết, nhưng ông nhận ra sứ điệp mà nhà triết học muốn đưa ra. Có lẽ vì vậy mà lối nhìn của ông có thể đã bị một số “thức giả” cười mũi cho là “vớ vẩn,” hay “ngớ ngẩn.” Linh mục họ Trần hiểu rõ bi kịch này. Ông không bỏ cuộc. Ông nhận bó đuốc từ tay Kim Định, và ông tiếp tục đi con đường định mệnh: “Segui il tuo corso e lascia dir la gente” “Đường anh cứ đi, mặc thiên hạ nói”[4] (Alghieri Dante).  Trần Cao Tường hiểu rằng, để giúp người Việt ngóc đầu lên, phải làm thế nào để họ tự ý thức được chính nguồn sống, tự phát triển năng lực, và tìm thấy tương lai của họ. Để “cao thăng” họ phải biết tự lực cánh sinh, không ngừng tiến về lý tưởng cao vời, vượt khỏi những đòi hỏi “thấp lè tè” của cuộc sống hàng ngày “cơm áo gạo tiền.”

 

2. Về Nguồn và Dựng Nguồn:

Nguồn sống đó nằm trong văn hóa Việt, nằm trong sự sống vĩnh cửu, nằm trong niềm tin xác quyết về chính định mệnh của mình.  Để ngóc đầu lên, chúng ta không chỉ phải đánh bại căn bệnh hiểm nghèo “tự ti muôn thủa” của “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây” (Trịnh Công Sơn, “Gia tài của mẹ”), mà còn phải khơi dựng lại niềm tự hào dân tộc “Việt Nam nước tôi.”  Nhưng không đại ngôn hay “chém gió” kiểu “Việt Nam soi toàn thế giới, tự do công bình bác ái muôn đời... “ (Phạm Duy, “Việt Nam”).  Để được như vậy, thì vấn đề tìm ra cái nguồn năng lực của chính mình phải là một sứ mệnh của mối người, và là sử mệnh của dân tộc.

Làm thế nào để ngóc đầu nếu chúng ta không có gì? Làm thế nào để không cảm thấy “thấp cổ” và “bé miệng” nếu chúng ta không có tư tưởng, nếu nền văn hóa mình vẫn chỉ là nền văn hóa nông nghiệp “con trâu đi trước, cái cầy theo sau” mà đỉnh cao là “đình làng”? Và làm thế nào để cao ngạo với đời nếu chúng ta suốt đời chỉ biết ngửa tay “ăn xin” (vay mượn) và “ăn xỏ” (đi tắt đón đường) từ những nền văn hóa lân bang, hay xa hơn như Âu Mỹ? Và khi mà những “sáng tạo” của chúng ta chỉ là những “cóp nhặt” (đạo văn)?  “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán / Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” chỉ là một câu tự mỉa mai cho thói cóp nhặt tự ti nhưng lại tự cao tự đại mà thôi. Như Tú Xương, và Tản Đà, Trần Cao Tường đau buồn ý thức về cái sự khốn cùng này. Thế nên, mặc dù không phải là môn sinh của Kim Định, Tường đầy nhiệt huyết, đầy chất Kim Định, không những như mà còn hơn nhiều môn sinh đích tông của triết gia. Họ Trần nhận định, ta không thể vươn lên bằng những khẩu hiệu rỗng tuyếch. Vương lên chỉ có thể nếu chúng ta có được những giá trị đích thực của dân tộc. Trần Dũng Lạc nhận định, để có thể “ngóc đầu lên,” chúng ta phải đi qua hai giai đoạn: (1) Tìm lại nguồn của mình, cũng như thẩm định giá trị của cái nguồn đó, và (2) tiếp tục xây dựng làm nguồn phong phú hơn, gía trị hơn. Công cuộc tìm nguồn qua khảo cổ, lịch sử, ngôn ngữ; công việc đánh gía phải dựa trên chính những hiệu qủa lâu dài như tính bền vững, tính nhân bản, tính siêu việt, tính dân tộc và tính hòa hợp. Nói theo Kim Định, đó chính là những giá trị xây trên “Chí, Trung, Hòa.” Nhưng quan trọng hơn cả, đó chính là giai đoạn tiếp tục xây dựng cái nguồn đó, bằng cách học hỏi từ những bài học nhân loại: bài học Do Thái, tính nhân bản và siêu việt của Đức Kitô, nghệ thuật cổ điển và hiện đại, cũng như giá trị của các tôn giáo khác.

Trong Về Nguồn Việt Đạo,[5] linh mục họ Trần tìm trở lại cái giá trị vốn được cổ nhân xây dựng như trống đồng Đông Sơn, bánh Giầy bánh Chưng, Gia Đạo. Nỗ lực này đã được chính Kim Định khi còn sinh tiền xác nhận: “Những đề tài của Về Nguồn Việt Đạo đều hướng về tổ tiên dân tộc.... Đây qủa là một ngạc nhiên thích thú cho tôi, vì ai cũng biết đạo Thiên Chúa xuất phát từ Tây phương du nhập chưa được sửa soạn nhiều cho việc phục Việt, nên trên nẻo đường về tương đối gặp nhiều khúc khuỷu hơn. Vậy mà Về Nguồn Việt Đạo đã đi được một bước vững chãi như thế hỏi sao không gây thích thú được.”[6]

Như người Do Thái, họ đã vươn lên vì luôn bám lấy nguồn, mà nguồn của họ lại chính là sự xác tín vào Đạo của họ, Trần Cao Tường thao thức, đi tìm, và thúc đẩy mọi người cùng đi tìm với mình: Việt Đạo, Thiên Đạo... Và nơi đây, họ Trần nhận ra được rằng chỉ khi nào ta “về nguồn Việt đạo” thì mới có thể “thăng ca,’ và rằng “Đạo Việt” không phải là một nguyên lý cố định, mà chính là sức sống siêu việt, vươn cao, một sự tự hoàn thiện không ngừng của dân tộc, bằng cách thu nhận, tổng hợp giá trị cũ và giá trị mới. Chỉ như vậy nên Đạo Chúa và Đạo Việt không mâu thuẫn, mà ngược lại còn bổ túc cho nhau khi cả hai đều là mục đích, động lực và con đường làm con người hoàn thiện. Ta không lấy làm lạ khi Trần linh mục gần như ám ảnh bởi lý tưởng trên. Ông lập đi lập lại hình ảnh người Do Thái không biết nhàm; ông ca tụng Phạm Duy không biết chán, mặc cho những thị phi về người nhạc sĩ tài hoa nhưng đa tật này. Người Do Thái luôn dựa vào nguồn, trở lại nguồn để thăng cao, trong khi Phạm Duy là một nhạc sĩ hiếm hoi khai quật âm vận Việt, ca ngợi quê hương, ca ngợi cái nguồn của Việt.

 

3.     Người Nghệ sỹ Cao Thăng

Cao thăng không có nghĩa thăng cao quan, tiến cao chức mà là một bản chất luôn vươn cao, mà Trời phú bẩm cho con người. Trong triết học Tân Plato, cao thăng chính là bản chất siêu việt hướng về tuyệt đối. Triết học Kinh viện coi bản chất siêu việt (transcendence) là chính động lực khiến con người vươn khỏi thế giới tạo vật tìm ra cội nguồn của cuộc sống, đó chính là Thưọng Đế.[7] Nơi giới nghệ sỹ, ý thức, ý chí không ngừng vươn lên, thậm chí lên tới Trời, hay đòi làm Trời (như F. Nietzsche), hay ngang hàng đồng vị với trời (thuyết Tam Tài) nói lên bản chất sáng tạo, tự tạo và tác tạo của con người. Nghệ nhân là người có khả năng tạo ra cái đẹp, tạo ra cảm giác mới, tạo ra cả một thế giới mới, và nhất là tạo ra chính mình. Nói như Nietzsche, nghệ nhân là người từ chối chấp nhận bản chất thụ tạo, và tự cho mình bản năng sáng tạo.

Người nghệ sỹ xác tín vào Thiên Chúa toàn năng có một lối nhìn khác với Nietzsche. Trần Cao Tường hiểu siêu việt (cao thăng) là động lực được Trời phú bẩm đòi hỏi con người phải vươn lên, hướng về lý tưởng tuyệt đối. Mà lý tưởng đó là những thuộc tính (attributes) hay bản chất (essences) của Thiên Chúa. Tường không xa lạ với quan niệm triết học này. “Transcendence” mà chúng ta thường dịch là siêu việt (Lê Tôn Nghiêm dịch từ Transzendenz của K. Jaspers) bao gồm nhiều nghĩa,[8] nhưng nghĩa chính vẫn là quan niệm của giới triết gia trường phái Tân Plato (Neo-Platonism) như Plotinus, Filone, Clemente và nhất là thánh Augustine, đó là tính chất vươn lên cao, và thăng tiến không ngừng về hướng Tuyệt đối. Đó chính là Thiên Chúa (Thượng Đế).

Từ một xác tín vào tính cao thăng này, nhà nghệ sỹ họ Trần không ngừng đi tìm cái đẹp trong thiên nhiên, trong tâm hồn của mỗi người, và trong ngôn ngữ cũng như âm nhạc. Tường viết những bài ca tụng âm điệu của Phạm Duy, cách hòa âm đầy dân tộc tính của Ngô Duy Linh, cách diễn đạt cao điệu tâm hồn Việt của Hải Linh. Tường chụp những bức hình về hoa, về động vật, về những em bé thơ ngây thật điệu nghệ và thật sống động. Và Tường viết lên những câu văn nhí nhỏm vui tươi, trong sáng nhưng lại rất gọt giũa, ngọt ngào (như Quyên Di, một nhà văn thành danh với giọng văn của “tuổi hoa” từng nhận định về Tường). Nói tóm lại, người đọc những bài viết, ngắm những ảnh Tường chụp đều dễ dàng nhận ra bản chất cao thăng qua tu luyện trong con người nghệ sỹ.

 

4. Vài Lời Thay Đoạn Kết: Kim Định và Dũng Lạc Cao Tường 

Vào cuối tháng 10, 2010 tôi đọc được tin ngắn thông báo về tình trạng nguy cập của linh mục Trần Cao Tường do Tiến sỹ Trần Công Nghị, Giám đốc Vietcatholic, một đàn anh của chúng tôi tại ĐH Urbano, thông báo trên mạng. Tình thế có vẻ “căng,” nhưng tôi tin tưởng vào y thuật của giới y sỹ Mỹ, nên chỉ gửi vội vài lời vấn an vào hộp thư của trang Dũng Lạc. Vì bận hướng dẫn một khóa thảo luận (Seminar) tại ĐH Heidelberg bên Đức, [9] ngay sau đó lại phải tham dự và phát biểu luận văn tại ba cuộc hội nghị ở Mexico City, và nhất là tại Tehran,[10] lại không đem theo máy tính, nên mãi đến ngày 29, tôi mới vào được trang Dunglac để liên lạc với Trần linh mục. Thật hụt hẫng đọc được lời cáo phó và những lời phân ưu của thân bằng quyến hữu. Vâng, Trần linh mục đã về nhà Cha không lời giã biệt. Dự định tới thăm “ông cha cháu,”[11] “ông bạn đồng môn,”[12] và “đồng chí,”[13] nhân dịp chuyến qua Mỹ thuyết trình tại Đại Học Chicago vào tháng 5.2011 biến thành dịp tưởng nhớ mà chẳng ai muốn.

 

Tôi chợt nhớ lại 15 năm về trước (04.1997). Kim Định trở về nguồn minh triết vào lúc tôi đương bận tham dự một hội nghị tại Nagasaki (Nhật). Tôi đã nhận lời triết gia mời tới Missouri, dự định viếng thăm cụ vào mùa hè năm ấy. Linh mục Quản lý dòng Đồng Công đã liên lạc để ra đón tại phi trường. Nhân định vẫn không bằng Thiên định. Dự định viếng thăm người sống biến thành một bài viết ngắn ngủi tưởng niệm người qúa cố.[14]

Có gì giống nhau giữa Kim Định và Dũng Lạc Cao Tường nơi đây? Dĩ nhiên là không. Nhưng cả hai đều khiến tôi liên tưởng tới thân phận Việt và sứ mệnh của người trí thức. Chính cái ước mơ “Làm thế nào để dân Việt ngóc đầu lên” bắt ta liên tưởng “hành trình về nhà cha” của Cao Thăng với việc “tìm kiếm về nguồn” của Kim Định. Cả hai gắn chặt với nhau qua câu nói vừa khiêm tốn nhưng lại vừa cao ngạo: “Làm thế nào để dân Việt ngóc đầu lên!” Như Kim Định, Dũng Lạc Cao Tường đã “cao thăng” trở về nguồn, một cái nguồn mang tính Việt, bản thể “bao dung.”[15] Đó là một nguồn mang tính “cõi” hy vọng không bao giờ tận, hy vọng “phục sinh” trở lại nguồn. Đó cũng là một động lực không ngừng muốn “ngóc đầu lên” thoát khỏi cảnh khốn cùng và “cao thăng” của dân tộc.  

Viết tại Huế, dịp tham dự “Hội thảo Quốc tế Nho Giáo Việt Nam Truyền Thống và Phát Triển” (2-7.09.2011) do hai Viện Triết Học (Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam) và Viện Văn Triết (Hàn Lâm Viện Trung Hoa) đồng tổ chức. 

Trần Văn Đoàn

Đại Học Quốc Gia Đài Loan


 

[1] Trần Cao Tường, “Triết gia Kim Định: Làm một cái gì cho dân mình ngóc đầu lên đi chứ.” Trong Trần Cao Tường, Đi Tìm Nét Văn Hoá Việt (New Orleans,: Dũng Lạc, 1995), chương 2. Trong  www.dunglac.net và trong www.taiwanmissionary.org  Cũng xin đọc thêm: Trần Vinh, “Để thay lời tiễn biệt ông bạn đồng môn Dũng Lạc Trần Cao Tường” trong www.dunglac.net .

[2] Nhận ra thói hư tật xấu của mình là một việc không dễ đối với người Việt. Chẳng ai thích bị “vạch áo cho người xem lưng.” Nhưng Trần Cao Tường ý thức được sự thiết yếu. Chúng ta nhục vì sự yếu kém của mình, nhưng càng nhục hơn nều suốt đời vẫn yếu kém. Đây là lí do Trần Cao Tường không gạt bỏ những tác phẩm như Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng, mặc dù không nhất thiết đồng quan điểm với tác giả những tập sách đó.

[3] Plato, The Republic, Tập VI, chương IX, 514a-520a. Bản tiếng Anh của Robin Waterfield: 517a: Vànếu như mà họ có quyền hành và có thể giết được kẻ đã muốn giải thoát và hướng dẫn họ, thì họ đã chẳng giết người đó sao?”

[4] Alighieri Dante, La Divina Commedia, acura di S. Jamuzzi, A. Dughera et G. Joli (Torino: S.E.I., 1990) http://www.liberliber.it

 

[5] Trần Cao Tường, Về Nguồn Việt Đạo(New Orleans: Dũng Lạc, 1990).
[6] Lời Giới Thiệu, Về Nguồn Việt Đạo, www.dunglac.net.

[8] Sacramentum Mundi, vol. 3. “Transcendence” Cũng xin xem thêm Karl Jaspers, Triết Học Nhập Môn. Lê Tôn Nghiêm (và các môn sinh) dịch (Huế, 1968).

[9][9] Seminar “Dao, Himmel und Natur.” Do Gs Bernhard Welke tổ chức cho các học viên lớp Tiến sỹ và Hậu Tiến sỹ của hai đại học Heidelberg và Princeton tại Phân Khoa Thần Học Tin Lành, Đại Học Heidelberg từ 05-18, November, 2010. Ban thuyết giảng gồm: Bernhard Welke và J. Kimberling (Heidelberg University), Tran Van Doan (National Taiwan University), J, Fisher (Princeton)...

[10] Annual Meeting of the Board of Directors of Fédération internationale des sociétés de philosophie (FISP). Dịp này tôi cũng tham dự hội nghị về Triết học tại Mễ Tây Cơ do ĐH Universitas Autonomodad Mexicana tổ chức, và nói chuyện tại ĐH Amuahac sur Nor. Cuối tháng tôi tham dự và thuyết trình tại cuộc hội thảo về tại Tehran dịp Ngày Triết Học (Philosophy Day) do UNESCO và NhàNước Iran tổ chức.

[11] Trần linh mục gọi tôi là cậu, và tôi gọi bà cố thân mẫu của linh mục là chị.

[12] Trần CaoTường trên tôi một lớp thần học tại ĐH Urbano, và cùng theo chương trình Cao học Triết học tại ĐH Latran. Tuy đã hoàn tất những tín chỉ quy định của lớp tiến sỹ và bắt đầu viết luận án, nhưng vâng lời Giám mục Nguyễn Khắc Ngữ, Tường trở về Việt Nam thực tập “giúp xứ đạo” vào hè năm 1973.

[13] Trần Cao Tường cũng như Giáo sư Phan Đình Cho (ĐH Georgetown) và tôi, tất cả đều không phải là môn sinh của Kim Định. Tuy nhiên, chúng tôi đều nhận ra ý hướng cao đẹp của Triết gia và cùng nhất tâm trong công cuộc xây dựng nền tư tưởng Việt.

[14] Trần Văn Đoàn, “Tưởng nhớ cụ Kim Định – In memoriam Dominici Kim Dinh.” Trong www.taiwanmissionary.org

[15] Theo ngôn ngữ của Karl Jaspers, từ “Umgreifen” mà Giáo sư Lê Tôn Nghiêm dịch là “bao dung thể.” Xthk: Karl Jaspers, Triết Học Nhập Môn. Lê Tôn Nghiêm (và một nhóm sinh viên ĐH Huế) dịch. Sàigòn, 1968.

Tác giả: Trần Văn Đoàn
   dunglac@gmail.com