Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Phong Vũ
Bài Viết Của
Trần Phong Vũ
Phái viên tạp chí Việt Nam Dân Chủ ở Paris, Pháp quốc nói chuyện với nhà văn Trần Phong Vũ
Nói chuyện với nhà văn Trần Phong Vũ, tác giả “Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Vĩ Nhân Thời Đại “
NÓI CHUYỆN VỚI NHÀ VĂN TRẦN PHONG VŨ, TÁC GIẢ “GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II, VĨ NHÂN THỜI ĐẠI “

Ký giả Đinh Quang Anh Thái

(Một phần bài phỏng vấn này đã được ký giả Đinh Quang Anh Thái thực hiện trong chương trình phát thanh dài một tiếng đồng hồ tối Thứ Sáu 10-12-2005 trên đài  Little Sàgòn Radio và trước đó, trên tuần báo Việt Tide số 229 phát hành từ 02 đến 08 tháng 12-2005. Toàn bài phỏng vấn được đưa vào cuối tác phẩm GH/GPII/VNTĐ dịp TQH tái bản lần đầu nhân húy nhật thứ nhất của cố Giáo Hoàng ngày 02-4-2006 )

 

Hỏi: Đức Giáo Hoàng PhaoLô Đệ Nhị đã để lại rất nhiều di sản cho thế giới. Với anh, một cách thật vắn tắt, anh cho rằng những di sản nào của cố Giáo Hoàng được coi là quan trọng nhất?

 

Trả lời: Thưa anh. Nhận định về công lao, sự nghiệp của cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, người ta thường cho rằng di sản đáng kể nhất của Ngài là sự góp phần làm thay đổi cuộc diện thế giới qua biến cố Đông Âu, đưa tới sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Điều này xét về nhiều phương diện, quả không sai. Những nhân vật then chốt trong cuộc như Mikhai Gorbachev, chủ nhân ông cuối cùng của điên Cẩm Linh và Lech Walesa[1], người cầm đầu Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan, sau đó trở thành Tổng Thống đầu tiên của đát nước Ba Lan tự do, đã hơn một lần công khai nhìn nhận như vậy.

Nhưng theo cách nhìn và cách suy nghĩ của cá nhân tôi, nhận xét một cách giản lược như thế rất dễ dẫn tới những suy nghĩ lệch lạc về tư duy và hành động của vị cố Giáo Chủ. Từ thành quả nhìn thấy là sự sụp đổ của hệ thống chư hầu cộng sản ở Đông Âu mà khởi đầu là quê hương Ba Lan của Ngài, dẫn tới sự cáo chung của bộ máy cầm quyền Mạc Tư Khoa, chiếc nôi của chủ nghĩa cộng sản quốc tế, người ta thường nghĩ rằng chủ nghĩa này là đối tượng duy nhất cần triệt hủy trong tầm nhìn của Giáo Hoàng. Nhưng, nếu bám sát những suy tư cũng như hành động của Gioan Phaolô II trong hơn một phần tư thế kỷ ở ngôi vị Giáo Hoàng Công Giáo, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra rằng chủ nghĩa vô thần độc tài cộng sản chỉ là một mục tiêu cấp thời ở vào một giai đoạn nhất định, một giai đoạn quá độ, trong tổng thể mục tiêu lớn rộng mà Ngài nhắm tới. Mục tiêu lớn rộng mang tính bao trùm đó qui chiếu vào đối tượng duy nhất là CON NGƯỜI, (con người viết hoa), dù con người đang ở đâu, bao giờ và dưới chế độ nào? Trong những dịp lên tiếng đây đó và qua các Thông Điệp cũng như những văn kiện quan trọng, Giáo Chủ Gioan Phaolô II luôn luôn nhấn mạnh: “CON NGƯỜI là nẻo đường của Giáo Hội Công Giáo”, là đích điểm phục vụ của Giáo Hội Công Giáo.

Về điểm này Stefan Kaufer đã chỉ ra rất rõ trong bài tham luận của ông mang tựa đề “The Triumph of John Paul II – Cuộc Vinh Thắng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị” đăng trên tạp chí Life số phát hành tháng 12-1989 ngay sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ tan tành tại Đông Âu, kéo theo sự  tan vỡ của khối Liên Xô mà cá nhân chúng tôi đã chuyển ngữ để đưa vào tác phẩm “Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Vĩ Nhân Thời Đại” (trang 420).

Stefan Kaufer viết: “ĐTC không chỉ hài lòng với những thắng lợi ở Đông Âu mà thôi. Mục tiêu của Ngài không phải là một cuộc Thánh Chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản, mà chính là sự giải phóng toàn thế giới. Theo quan điểm của Ngài thì cả hai chủ nghĩa cộng sản và tư bản đều bất toàn, cả hai đều không đáp ứng được những tiếng kêu gào đòi CÔNG LÝ VÀ NHÂN PHẨM CỦA CON NGƯỜI”[1].

Tóm tắt lại, để trả lời câu hỏi của anh, xin thưa: đối với tôi, di sản lớn nhất, đáng trân trọng nhất của vị Giáo Chủ Công Giáo vừa từ giã chúng ta mới đây là Ý HƯỚNG và QUYẾT TÂM PHỤC VỤ PHÚC LỢI CON NGƯỜI của Ngài.

 

Hỏi: Dù sao thưa anh, có thể nói, nếu không có những nỗ lực của Đức Thánh Cha, chưa chắc các chế độ cộng sản đã bị xụp đổ tại Ba Lan, tại các nước Đông Ậu và tại ngay cái nôi của công sản là Liên Xô. Theo anh thì có bằng chứng nào cho thấy, Đức Thánh Cha đoái hoài đến số phận của dân tộc Việt Nam bị oằn oại dưới sự cai trị độc ác của công sản Hà Nội?

 

Trả lời: Là một vị Giáo Chủ xuất thân từ Ba Lan, một trong những quốc gia cộng sản trong quỹ đạo Liên Xô, hơn ai hết Ngài cảm thông với những dân tộc còn đang ở trong những cảnh ngộ tương tự. Do đó không riêng gì Việt Nam mà cả Trung Hoa Cộng Sản, Bắc Hàn, Cuba..., Ngài luôn tỏ ra hết sức quan tâm.

Riêng với đất nước và dân tộc Việt Nam chúng ta, tôi thấy có khá nhiều bằng chứng cho thấy sự quan tâm này. Trong chương XXII từ trang 355 đến trang 366 của tác phẩm biên khảo nói trên, với tiểu đề “Việt Nam Trong Trái Tim Tôi”, tôi đã trưng dẫn khá nhiều chi tiết nói lên lòng ưu ái và mối quan ngại của cố Giáo Hoàng về số phận dân tộc Việt Nam. Lòng ưu ái và mối quan ngại ấy khơi nguồn từ mối cảm thông của một người đã một thời đồng hội đồng thuyền với dâc tộc Việt Nam chúng ta.

Tôi xin được trưng dẫn vài thí dụ cụ thể: cố linh mục niên trưởng Trần Ngọc Thụ trong thời gian còn là bí thư riêng của cố Giáo Hoàng đã nhiều lần kể lại những cử chỉ trân trọng cùng những lời lẽ ân cần, trìu mến của Ngài mỗi khi nói tới dân tộc và đất nước Việt Nam, cách riêng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Theo lời cố linh mục thì vào năm 1995, trong cuộc hành trình qua Phi Luật Tân chủ tọa đại hội Giới Trẻ Thế Giới, khi phi cơ bay ngang vùng bán đảo Đông Dương, từ cửa sổ phi cơ nhìn xuống, Giáo Hoàng đã yêu cầu linh mục xác định vị trí lãnh thổ Việt Nam với một thái độ hết sức trân trọng và ân cần.

Thái độ này còn bộc lộ rõ ràng qua lần chủ tọa lễ tuyên thánh 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam năm 1988, qua những lời tâm tình nhân dịp tiếp xúc với các linh mục, các phái đoàn giám mục và phái đoàn giới trẻ ở Vatican, ở Hoa Kỳ, và trong dịp kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ Maria hiện ra ở La Vang v.v... Nếu cần phải nói thêm, tôi nghĩ sự kiện một linh mục VN như linh mục Trần Ngọc Thụ được cử làm bí thư riêng cho Giáo Hoàng cũng như việc một giám mục VN như TGM Nguyễn Văn Thuận thuở sinh thời từng được cất nhắc vào cương vị Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng đặc trách Công Lý Hòa Bình, (sau này lại được tấn phong Hồng Y). Hồi ấy, người ta thường suy diễn là trong thâm tâm hẳn vị cố Giáo Chủ Công Giáo không khỏi kỳ vọng nơi Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, với cương vị người cầm đầu một Thánh Bộ quan trọng như thế, sẽ làm được một điều gì hữu ích cho dân tộc và Giáo Hội Việt Nam như Ngài đã làm cho Giáo Hội và dân tộc Ba Lan trước đây. Sự suy diễn này chắc không xa sự thật bao nhiêu. Điều đáng tiếc là Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã qua đời quá sớm!

 

Hỏi: Đức Thánh Cha, trong suốt hơn 26 năm làm vị Chủ chăn Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ, đã công du hải ngoại trên 100 chuyến, nhưng, theo anh, lý do nào khiến Ngài chưa một lần đến thăm Việt Nam?

 

Trả lời: Nói chính xác, trong 26 năm ở ngôi Giáo Hoàng, Ngài đã du hành ra ngoài Ý Đại Lợi 104 lần, thăm viếng 129 quốc gia trên địa cầu. Nhưng theo tôi nghĩ thì cho đến khi nhắm mắt Ngài vẫn không ngừng mong mỏi được thăm viếng hai dân tộc không may còn bị đặt dưới ách thống trị của chủ nghĩa cộng sản. Đó là Trung Hoa lục địa và Việt Nam của chúng ta. Lý do Ngài chưa một lần đặt chân đến hai quốc gia này là vì guồng máy thống trị Bắc kinh và Hànội đã ngăn cản bước chân của Ngài.

Người ta kể lại rằng: sau khi Hànội khước từ đề nghị của HĐGMVN mời Đức Thánh Cha chính thức qua thăm Việt Nam, Ngài hỏi một giám mục lúc ấy đang có mặt ở Vatican: “thế còn nhân dân Việt Nam thì sao?” và cặp mắt của Ngài sáng lên khi nghe câu trả lời là nhân dân Việt Nam rất khát khao được diện kiến Đức Thánh Cha trên quê hương của họ.

Theo nhận định của giáo sư Đỗ Mạnh Tri thì có thể trong thâm tâm Hànội cũng muốn mời Giáo Hoàng Gioan Phaolô II qua thăm Việt Nam, cũng như mong mỏi được bình thường hóa bang giao với Vatican, nhất là khi họ đang cần tranh thủ dư luận quốc tế để gia nhập WTO, nhưng chỉ vì không dám qua mặt quan thày Trung Cộng mà thôi. Vẫn theo giáo sư Tri và nhiều người Công Giáo khác thì đấy là một điều đáng tiếc. Cá nhân tôi chia sẻ những suy nghĩ này. Thật đáng buốn! Sau hơn nửa thế kỷ Hànội vẫn không thể tự mình tạo dựng thế chủ động trong chính sách đối ngoại, không sao thoát khỏi tâm trạng tôi tớ, mà chỉ biết theo đuôi và rập khuôn đường đi nước bước của quan thày Bắc Kinh mà thôi!

 

Hỏi: Đức Thánh Cha chỉ trích chủ nghĩa Cộng sản là không tôn trọng tính người và đồng thời chỉ trích tư bản là nền văn minh của sự chết. Vậy thưa anh, cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô  Đệ Nhị có đưa ra một mô hình xã hội nào toàn hảo hơn cộng sản và tư bản không?

 

Trả lời: Theo tôi, cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị không cụ thể đưa ra một mô hình, một ý thức hệ chính trị nào để thay thế cộng sản hay tư bản chủ nghĩa. Ngài thường quan niệm một cách dứt khoát là những vấn đề liên hệ tới cách điều hành các cơ cấu trong xã hội loài người, dù ở cấp quốc gia hay quốc tế, đặc biệt là những vấn đề liên quan tới quyền bính thế tục, trong đó có chính trị, không thuộc phạm vi trách nhiệm của tôn giáo, và nên tách rời ra khỏi tôn giáo. Vì thế, nếu có sự lên tiếng nào của giáo quyền liên quan tới những vấn đề liên hệ thì thường chỉ mang tính khuyến cáo hoặc góp ý, chứ tuyệt nhiên không hề có ý áp đặt như đôi khi có người ngộ nhận. Và những khuyến cáo hay góp ý này, nếu có, thường phát xuất từ quan niệm công bằng và bác ái của Giáo Hội Công Giáo.

Sở dĩ đôi khi có sự ngộ nhận là vì đã có sự suy diễn thiếu cơ sở của một số người, cả trong lẫn ngoài Giáo Hội Công Giáo, về sự hiện hữu của một hệ thống tư tưởng được mệnh danh là “Học Thuyết Xã Hội Công Giáo”, một học thuyết liên quan tới xã hội chung quanh, được quảng diễn qua những Thông Điệp của các Giáo Hoàng, tiếp theo Thông Điệp Tân Sự (Rerum Novarum) của Giáo Hoàng Lêô XIII cuối thế kỷ 19 –trong đó có có những văn kiện quan trọng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, như Thông Điệp Bách Chu Niên của Ngài chẳng hạn.

Để hiểu rõ quan điểm của Giáo Hội Công Giáo –cách riêng của Giáo Chủ Gioan Phaolô II, độc giả có thể tìm đọc lại những lời minh xác của Ngài trong Thông Điệp “Sollicitudos Rei Socialis – Những Nỗi bận Tâm Xã Hội”, trong đó có những câu như:

“Học Thuyết Xã Hội Công Giáo không phải là CON ĐƯỜNG THỨ BA giữa tư bản phóng nhậm và tư bản mác-xít... Học thuyết này cũng không phải là một Ý-Thức-Hệ mà là một đúc kết thành công thức rõ rệt những kết quả của một suy nghiệm chín chắn trên những thực tại phức tạp của cuộc sống con người trong xã hội và giữa thế giới, dưới sự soi chiếu của ánh sáng đức tin...”

Trong khi ấy, như anh đã biết, và như tôi đã nhắc lại ban nãy, cố Giáo Hoàng từng quan niệm: CON NGƯỜI là nẻo đường của Giáo Hội CG, là đối tượng phục vụ của Giáo Hội CG. Như vậy, để thay thế những bất toàn của hai chủ nghĩa cộng sản và tư bản, vì một bên không tôn trọng tính NGƯỜI, một bên phục vụ nền văn minh SỰ CHẾT, tuy không đề ra một ý thức hệ chính trị thứ ba, cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đã căn cứ trên sự soi chiếu của ánh sáng đức tin mà cung cách thực hành đức tin trong thực tại trần thế là gì nếu không phải là PHỤC VỤ PHÚC LỢI CỦA CON NGƯỜI. Như thế, cho dẫu Ngài không chỉ ra một mô thức, một khuôn mẫu nào nhưng rõ ràng là Ngài khuyến khích và cố võ cho bất cứ cơ chế và ý thức hệ chính trị nào trên mặt đất lấy CON NGƯỜI làm đối tượng phục vụ.

 

Hỏi: Trước mối đe dọa trầm trọng về nạn nhân mãn hiện nay trên địa cầu, anh nghĩ thế nào về quyết tâm của cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong việc bảo vệ giáo lý của GHCG là tuyệt đối ngăn cấm tín đồ trong việc dùng những phương pháp ngừa thai mà Giáo Hội xem là trái thiên nhiên... tỉ như dùng bao cao su chẳng hạn?

 

Trả lời: Thưa anh. Trước hết chúng ta cần trả lại sự công bằng cho vị Giáo Hoàng quá cố. Thuở sinh thời không phải là Ngài không nhận biết và không quan tâm tới vấn đề sinh xuất của nhân loại ngày càng gia tăng trên mặt địa cầu. Ngay từ khi còn là một Linh mục, một Giám mục ở Ba Lan, Ngài đã ý thức được trọn vẹn tình trạng này và đã từng viết sách để hướng dẫn giới trẻ và những cặp vợ chồng Công Giáo trên đất nước Ngài về vấn đề điều hòa sinh sản và ý thức trách nhiệm trong hôn nhân. Đứng trên cương vị Giáo Chủ một tôn giáo luôn tôn trọng Sự Sống của Con Người, đồng thời bảo vệ sự trong sáng, thuần khiết trong đời sống hôn nhân giữa người vợ và người chồng cũng như giữa những cặp thanh thiếu niên nam nữ  đang chuẩn bị kết thành đôi lứa, Ngài không thể chấp nhận những phương pháp trái tự nhiên trong liên hệ tính dục.

Đối với những người sống trong bậc vợ chồng, Giáo Hội Công Giáo không những chuẩn nhận mà còn tôn trọng quyền được hưởng niềm vui và sự khoái lạc trong liên hệ phu thê, bên cạnh sứ mạng cao cả là sứ mạng truyền sinh của họ. Nhưng nếu sự hưởng dụng này vượt quá xa, đưa tới chỗ lạm dụng quá đáng về tính dục, tạo nguy cơ xúc phạm tới phẩm giá con người thì lại khác. Thế thì giải pháp của vấn đề là đâu? Chắc anh đã từng nghe nói tới những phương thức ngừa thai tự nhiên, dựa theo chu kỳ hành kinh của người phụ nữ từng được giáo quyền Công Giáo quảng bá và cổ võ từ lâu.

Đối với những người trẻ, việc Giáo Hội Công Giáo ngăn cấm dùng những phương pháp ngừa thai trái tự nhiên, thí dụ như việc dùng bao cao su, theo suy nghĩ của một tín hữu như tôi, là một việc làm chính đáng và cần thiết. Nó tạo cho những người trẻ, nam cũng như nữ ý thức trách nhiệm và thái độ tôn trọng những bạn bè khác phái của mình ngay từ khi chưa bước vào đời sống hôn nhân, đời sống vợ chồng. Trong các Đại Hội Giới Trẻ Thế giới, hơn một lần cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đã thiết  tha mời gọi giới trẻ biết tự chế trong sinh hoạt tình dục, cố gắng tránh những liên hệ tính dục tiền hôn nhân. Không có thống kê nào cho biết kết quả đích xác của lời khuyến dụ này. Có điều tôi biết chắc chắn là đã có không ít những người trẻ ở Đông cũng như ở Tây, ở Âu cũng như ở Á đã chịu ảnh hưởng sâu đậm những bài học giáo lý tương tự của người cha tinh thần tối cao của họ trong Giáo Hội Công Giáo là cố Giáo Chủ Gioan Phaolô II. Xin anh và độc giả đọc lại những chương tôi viết về về Giáo Hoàng và những người trẻ trong tập sách mới mà có lần tôi đã đề cập trong cuộc trao đổi này.

Xin hỏi thật, có bao giờ anh nghĩ rằng chủ trương khuyến khích –đôi khi gần như cưỡng bách- giới trẻ, kể cả những em còn ở lứa tuổi vị thành niên, ngay khi chúng còn mài đũng quần ở bậc tiểu học, dùng bao cao su, dùng thuốc ngừa thai, đã là căn nguyên tạo nên những liên hệ bừa bãi và quá sớm về giới tính ngày nay không? Riêng cá nhân tôi, tôi nhận ra một điều khá mỉa mai là nếu sự khuyến khích này có giúp tránh đi phần nào tệ trạng mang bầu trong giới trẻ vị thành niên thì cùng lúc nó cũng gây ra một hệ quả nguy hại khác là làm cho họ mất hết ý niệm về sai quấy và nhất là vẽ đường cho không ít những người trẻ đi tìm cảm giác khoái lạc trong liên hệ phái tính, mà bình thường họ chưa hoặc không nghĩ tới vào lúc còn quá trẻ.

 

Hỏi: Nói tới những người trẻ, tôi muốn biết ý kiến riêng của anh là tại sao giới trẻ toàn cầu lại yêu kính Đức Thánh Cha đến như thế? 

Đáp: Câu hỏi này của anh đã được rất nhiều người trên thế giới đặt ra. Và câu trả lời tìm thấy khá giản dị.

Sở dĩ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị có một hấp lực khác thường, gần như bí nhiệm đối với giới trẻ khiến họ hết lòng yêu kính, tín thác nơi Ngài, trước hết là vì chính Ngài chân thành yêu mến tuổi trẻ, luôn tìm mọi cơ hội để đến với họ và lắng nghe họ tâm sự. Cũng chính Ngài đã là căn nguyên đưa tới sáng kiến triệu tập những Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới từ giữa thập niên 1980 cho đến nay. Trong mỗi đại hội, dù được tổ chức ở Á, ở  Âu, bắc hay nam Mỹ Châu, thì đều thu hút hàng triệu người trẻ đến vây quanh Ngài. Thí dụ như trong kỳ Đại Hội Giới Trẻ ở Manila, Phi Luật Tân năm 1995, số thanh niên thiếu nữ tìm đến vây quanh Ngài lên tới con số hai, ba triệu. Tại Paris, Pháp quốc vào năm 1997, số người trẻ đến với Ngài cũng đạt tới trên một triệu, trong khi trước đó, những người lạc quan nhất trong Giáo Hội Pháp cũng chỉ dám ước lượng không ngoài con số từ 500 đến 600 ngàn người.

Lý do khiến giới trẻ hết lòng yêu kính và tín thác nơi cố Giáo Hoàng còn là do thái độ khiêm tốn cố hữu của Ngài. Chúng ta có thể tìm thấy bằng chứng về điều này qua mẩu đối thoại sau đây giữa ký giả và cũng là nhà văn André Frossard với Giáo Chủ Gioan Phaolô II trong dịp Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Paris năm 1997. Trước câu hỏi: “Thưa Đức Thánh Cha. Con nghĩ rằng với ảnh hưởng sẵn có, Đức Thánh Cha có thể dẫn giắt giới trẻ đi đâu tùy ý”, Giáo Hoàng đã nghiêm nghị trà lời: “Ông nghĩ sai rồi. Chính những người trẻ dẫn giắt tôi”.

Có lẽ cũng cần nói tới một nguyên do khác: đó là sự am tường tâm lý tuổi trẻ của Giáo Hoàng ngay từ những năm ngài còn là một linh mục, giám mục trên đất nước Ba Lan xuyên qua những tác phẩm viết về tuổi trẻ cũng như qua những sinh hoạt thường xuyên của Ngài với họ. Để có câu trả lời chính xác, xin anh và độc giả tìm đọc Chương XI “Gioan Phaolô II Trong Lòng Giới Trẻ” trang 199 hoặc chương XXV “Sau JMJ 97” trang 389 trong tập biên khảo “Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Vĩ Nhân Thời Đại”.

 

Hỏi: Người Công Giáo thường đề cao sự công bằng, bác ái. Trong những bài viết cũng như trong tác phẩm biên khảo mới về Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, anh cũng thường nói tới những tấm gương công bằng bác ái của cố Giáo Chủ. Tôi muốn nhân đây thay mặt một số thính giả và độc giả nêu lên một điều mà nếu có trái tai, xin anh rộng lòng bỏ qua cho.

Những người này cho rằng Giáo Hội Công Giáo, mà biểu tượng là các đời Giáo Hoàng trong đó có cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, không công bằng! Cụ thể là trong vấn đề hôn nhân chẳng hạn. Tại sao mỗi khi một thanh niên hay một thiếu nữ có tín ngưỡng Công Giáo chuẩn bị kết hôn với một người khác tôn giáo lại thường đưa ra điều kiện thiếu tiêu chuẩn công bằng là người kia phải cải đạo để theo về đạo Công Giáo? Như thế là bất công chứ sao gọi là công bằng được?

 

Trả lời: Thật không ngờ lại có người suy nghĩ như vậy. Tôi thành thực cám ơn anh đã nêu lên câu hỏi quan trọng này.

Cần nói ngay: đây là một ngộ nhận hết sức tai hại! Giáo Hội Công Giáo mà tiêu biểu là Giáo Hoàng, không bao giờ bắt buộc một người thanh niên hay thiếu nữ khác đạo phải từ bỏ tôn giáo mình mới được kết hôn với một thanh niên hay thiếu nữ có tín ngưỡng Công Giáo. Nói cách khác, giáo lý Công Giáo nhìn nhận sự tự do tuyệt đối của con cái mình. Vì thế một người thanh niên hay thiếu nữ Công Giáo có toàn quyền trong việc lập gia đình với người khác tôn giáo mà không vi phạm giáo luật. Điều này có nghĩa là họ có thể lập gia đình trong khuôn khổ giáo luật cùng người khác tôn giáo với quyền tự do: đạo ai nấy theo. Dĩ nhiên với vài điều cam hết được cả hai bên đồng thuận liên hệ tới phúc lợi của hai người cũng như phúc lợi của con cái họ sẽ sinh ra sau này. Một trường hợp khá điển hình xảy ra tại Sài gòn, thủ đô miền Nam ngót nửa thế kỷ trước, hẳn anh và nhiều người còn nhớ. Đó là trường hợp luật sư kiêm ngoại trưởng Vương Văn Bắc (một trí thức ngoài Công Giáo, sau này từng đảm nhiệm vai trò Đại Sứ VNCH tại Luân Đôn, Anh Quốc) đã kết hôn hợp pháp cả đời lẫn đạo vơi cô giáo Hồng, người Công Giáo, hoa khôi một thời của trường nữ trung học Trưng Vương trước đây.

Tuy nhiên, như câu hỏi của một số người đặt ra mà anh vừa cho biết là tại sao thực tế vẫn thường có những cuộc hôn nhân dị giáo bị trở ngại, nhiều khi đưa tới đổ vỡ, chỉ vì phía gia đình có tín ngưỡng Công Giáo đưa ra điều kiện cho đối phương là phải cải đạo, nhưng không được đáp ứng? Xin trả lời: đây là vấn đề nằm trong sự suy nghĩ và quan niệm cá nhân giữa các gia đình với nhau. Về phần Giáo Hội Công Giáo, như đã nói, Giáo Hội mà cụ thể là giáo lý của Giáo Hội hoặc người cầm đầu Giáo Hội, tuyệt đối không bao giờ ngăn cấm những cuộc hôn nhân khác tôn giáo. Do đó, nếu có các bậc phụ huynh Công Giáo đưa ra điều kiện này nọ, theo tôi phỏng đoán thì có thể là vì họ quan niệm nếu cả hai vợ chồng đều có chung một niềm tin tôn giáo thì dễ bảo đảm sự yên ấm và hạnh phúc gia đình hơn chăng? Và dĩ nhiên quan niệm này không phản ảnh chủ trương của Giáo Hội Công Giáo.

Tác giả: Trần Phong Vũ
   dunglac@gmail.com