Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Hoàng Sỹ Quý, SJ.

CÙNG MỘT TÁC GIẢ

Hành Hương Tây Trúc Mới

Vấn Đề Đối Thoại Tôn Giáo

 Biên Tập - Tác Giả
 Văn Hóa Biên Khảo
  Đông Lan
  Đỗ Hữu Nghiêm, Gs.
  Đỗ Mạnh Tri
  Đỗ Quang Chính, sj.
  Đỗ Xuân Quế, Lm.
  Cao Phương Kỷ, Lm
  Hoàng Đình Hiếu
  Hoàng Kim Toan, Lm
  Hoàng Sỹ Quý, SJ.
  Kim Ân
  Kim Định
  Lê Đình Thông, phd.
  Lê Hữu Mục, Gs.
  Lê Ngọc Bích
  Lê Văn Lân, MD.
  Mặc Giao
  Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
  Nguyễn Ước
  Nguyễn Công Bình, Ls.
  Nguyễn Chính Kết
  Nguyễn Cung Thông
  Nguyễn Khắc Dương
  Nguyễn Khắc Xuyên
  Nguyễn Long Thao
  Nguyễn Sơn Hà
  Nguyễn Thái Hợp, Gm.
  Nguyễn Tiến Cảnh, MD.
  Nguyễn Trí Dũng
  Nguyễn Trọng
  Nguyễn Văn Thành
  Nguyễn Văn Trung
  Nguyễn Vy Khanh
  Nguyễn Xuân Quang, MD.
  Nguyên Nguyên
  Phùng Văn Hóa
  Phan Đình Cho, Lm
  Phạm Đình Khiêm
  Phạm Hồng Lam
  Trần Cao Tường, Lm.
  Trần Hữu Thuần
  Trần Mạnh Trác
  Trần Ngọc Báu
  Trần Ngọc Thêm, Gs
  Trần Phong Vũ
  Trần Văn Đoàn
  Trần Văn Cảnh
  Trần Văn Kiệm, Lm.
  Trần Văn Toàn, Gs.
  Trần Vinh
  Vũ Đình Trác, Lm
  Vũ Hùng Tôn, Lm
  Vũ Kim Chính, Lm
  Vũ Thành, Lm
  Vĩnh An
 Văn Học Nghệ Thuật
  Đàm Trung Phán
  Đàm Trung Pháp, Gs.
  Đỗ Thảo Anh
  Đồng Xanh Thơ Nha Trang
  Đồng Xanh Thơ Sài Gòn
  Đồng Xanh Thơ Xuân Lộc
  Đường Phượng Bay
  Bùi Nghiệp
  Cát Đơn Sa
  Cao Huy Hoàng
  CLB Thánh Nhạc
  Du Tử Lê
  Duy Hân
  Gã Siêu
  Gioa-Kim
  Hàn Mặc Tử
  Hạnh Đức
  Hương Kinh Trà Lũ
  Hoài Việt
  Hoàng Diệp, Lm.
  Hoàng Kim Tốt, Lm.
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Hoa Văn
  Joseph Trần Việt Hùng, Lm
  Lê Đình Bảng
  Lê Miên Khương
  Lê Ngọc Hồ
  Lưu Minh Gian
  Mặc Trầm Cung
  Mi Trầm, Lm.
  Ngô Duy Linh, Lm.
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Hùng Sơn
  Nguyễn Phú Long
  Nguyễn Thị Hồng Diệp
  Nguyễn Thị Kim Loan
  Nguyễn Thị Phượng
  Nguyễn Trung Tây, Lm
  Nguyễn Văn Hiển
  Nguyễn Văn Sướng
  Nguyễn Xuân Văn, Lm
  Nhóm Thánh Vịnh Nauy
  Nhất Chi Vũ
  Nt Goretti Võ Thị Sương
  Phạm Huyền
  Phạm Trung
  Quyên Di
  Sông Thanh
  Sr. Hoàng Yến
  Sr. Sương Mai
  TC. Phan Văn Khải
  Thái Anh
  Thanh Sơn
  Tin Yêu
  Trà Lũ
  Trịnh Tây Ninh
  Trọng Nhân, Lm
  Trăng Thập Tự, Lm.
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trần Mộng Tú
  Trần Ngọc Chương
  Trần Ngọc Mười Hai
  Trần Ngọc Thu
  Trần Thu Miên
  Trần Trung Đạo
  Tuấn Kim
  Vũ Thái Hòa
  Vũ Thủy
  Vân Đỳnh
  Việt Hải - Los Angeles
  ViVi
  Xuân Ly Băng
  Xuân Minh
 Tâm Linh Tôn Giáo
  Đỗ Tân Hưng
  Đặng Xuân Thành, Lm.
  Đinh Quang Thịnh, Lm.
  Bùi Tuần, Gm.
  Lê Công Đức, Lm.
  Lê Quang Vinh
  Mai Tá
  Minh Anh gp Huế, Lm.
  Ngô Phúc Hậu, Lm.
  Nguyễn Cao Siêu, S.J.
  Nguyễn Hữu An, Lm.
  Nguyễn Kim Ngân
  Nguyễn Lợi, Lm
  Nguyễn Tầm Thường, sj.
  Nguyễn Văn Nội
  Nguyễn Văn Thư, Lm
  Nguyễn Văn Thuận, HY
  Phạm Hoàng Nghị
  Phạm Văn Tuệ, Lm.
  Tý Linh
  Têrêsa Ngọc Nga
  Trần Mỹ Duyệt
  Trần Minh Huy, Lm.
  Vũ Văn An
  Võ Xuân Tiến, Lm.
 Nhiếp Ảnh
  Cao Tường
  Diệp Hải Dung
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Ngọc Danh
  Sen K
  Tâm Duy, Lm
VẤN ĐỀ ĐỐI THOẠI TÔN GIÁO

MỤC LỤC 

Nhập Đề

Chương 1.

Lịch sử vấn đề.

Chương 2.

Ơn Cứu Độ ngoài Do thái và Kitô giáo.

Chương 3.

Cứu Độ bằng mạc khải, đức tin và ân sủng.

Chương 4.

Các tôn giáo, môi trường cứu độ.

Chương 5.

 Ân sủng nơi các tôn giáo đông phương.

Kết Luận:

Một thái độ và một đường lối

     ***************************


NHẬP ĐỀ
 

Cái thời “cô đảo Lỗ bình sơn” của Giáo hội xưa không thể tồn tại nữa. Công đồng Vatican II đã nói nhiều đến tôn giáo bạn1 và nghị định Ad gentes của công đồng khuyên ta như sau:

“Kitô hữu phải làm quen với những tập tục quốc gia và truyền thống tôn giáo”. (số 11)

“Để cho hoạt động thừa sai có quy củ hẳn hoi, tông đồ phải được chuẩn bị một cách khoa học cho sứ mạng của mình, nhất là chuẩn bị để đối thoại với các tôn giáo và văn hóa ngoài Kitô giáo”. (số 34)

Đối thoại ư? Thì từ sau công đồng, người ta đã đối thoại rất nhiều rồi. Các Hội nghị liên tôn mở ra ở nhiều nơi trên thế giới, và riêng mới đây tại Tokyo vào dịp tháng 10 năm 1970. Bên Việt Nam, từ mấy năm nay, chúng ta cũng có một Hội đồng liên tôn quy tụ đại diện của một số các tôn giáo hoặc giáo phái. Nhưng bên Việt Nam, cuộc gặp gỡ giữa người Công giáo với các tôn giáo bạn còn dừng lại ở bên ngoài, và sự hợp tác chỉ mới có trong lãnh vực chính trị và bác ái đôi khi. Bên Au Châu, ngoài cố gắng tìm hiểu của vài học giả ra, phần đông Kitô hữu vẫn mù tịt về những gì người ta tin tưởng và ước ao trong các tôn giáo khác. Nói chi đến cái TẠI SAO và THẾ NÀO của đối thoại. Thậm chí có người hiểu đối thoại là hòa đồng, nghĩa là đạo nào cũng thế cả. Năm 1967, một nhóm sinh viên Công giáo Pháp sang Poona để tìm hiểu An Độ dưới sự hướng dẫn của linh mục Deleury. Thấy một vài sinh viên đến lễ vái tại các đền An, một ký giả bèn hỏi: Tại sao anh làm thế? Và ông được trả lời gọn lỏn: vì tôn giáo nào cũng thế cả.

Để đối thoại (chứ không phải hòa đồng), vừa phải có gì chung, vừa phải có gì riêng cho mỗi bên.

Phải, thế nào cũng phải có một số định đề được cả hai bên công nhận, để bắt đầu từ đó, người ta có thể hiểu nhau. Cho nên, phải học về tôn giáo bạn và học với một tâm hồn thành kính, cởi mở, cố tìm nơi họ những gì mình có thể chấp nhận, học hỏi và bắt chước, để trở nên giống họ tất cả những gì tự nó không đi ngược lại với tín ngưỡng của mình.

Để nói chuyện, cũng cần phải có hai hay ba người; và bao lâu còn là hai hay ba, người ta mới có thể nói chuyện được. Cho nên, đồng thời với việc xích lại gần nhau và nên giống nhay, chúng ta phải giữ vững lấy những gì căn bản chung làm cho chúng ta thành người Công giáo nữa. Phải, chỉ từ những căn bản chung và những chỗ đứng khác nhau như thế, người ta mới có thể đối thoại thành thực được.

Ở đây, chúng ta chỉ cốt tìm những gì có chung với các tôn giáo bạn. Chúng ta không chú ý đến những điểm chung xét theo bản tính người và bản tính Việt Nam, nhưng chú ý đến cái nền tảng chung chúng khiến cho chúng ta trở thành ruột thịt với những người ngoài Kitô giáo bằng một tình máu mủ siêu nhiên: tôi có ý nói ân sủng. Phải, tôi sẽ chứng minh rằng trong các tôn giáo bạn, có thể có hoạt động của ân sủng, và ở phần sau cùng, tôi sẽ cho thấy rằng điều có thể ấy đã thành sự thực trong các tôn giáo Đông phương.

(1) Hiến chương Giáo Hội số 16-17, Sắc lệnh Hoạt Động Thừa Sai số 3, Hiến chuơng Mạc Khải số 3 và 14, Tuyên ngôn Tương Quan Giữa Giáo Hội Với Các Tôn Giáo Bạn.

 

CHƯƠNG 1

 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

 

Khoa thần học về các tôn giáo vừa cũ kỹ lại vừa mới mẻ. Cũ kỹ, vì ngay từ thời các giáo phụ và trước nữa, người ta đã nói về các tôn giáo rồi, và người ta tiếp tục nói suốt cho đến nay. Mới mẻ, vì cho đến nay, vẫn chưa có một môn thần học chuyên biệt và đầy đủ về các tôn giáo.

Xưa kia, người ta có bàn đến các tôn giáo thực đấy, nhưng chỉ trong phạm vi và tinh thần hộ giáo thôi. Phải, trong khoa Hộ giáo, người ta nhằm bảo vệ và đề cao Đức Tin cũng như Giáo hội Công giáo. Một cuốn sách giáo khoa Hộ giáo mở đầu bằng cách chứng minh có Thiên Chúa và chứng minh con người có bổn phận tôn thờ phụng sự Thiên Chúa. Tiếp đó, người ta nói đến Do Thái giáo như con đường chuẩn bị duy nhứt đưa tới Kitô giáo, và Kitô giáo như con đường duy nhứt đưa tới Nước Trời. Sau cùng, trong Kitô giáo, người ta đả phá các bè phái lạc giáo để bênh vực giáo lý Công giáo, đã phá ly giáo để bênh vực chính thống tính và duy nhứt tính của Giáo hội Công giáo.

Hồi đầu, các giáo phụ phải đương đầu với tôn giáo La Mã và Do Thái giáo, nên chỉ nói đến hai tôn giáo này thôi. Theo các ngài, Kitô giáo là mục đích của Do Thái giáo và sự hoàn tất cho tất cả những gì là hay, đẹp trong các tôn giáo hay triết học. Nhưng từ thế kỷ 6 khi Islam xuất hiện và tự trình diện như kết thúc của những sửa soạn từ Maisen, qua Đức Kitô đến Mohammed, thì chứng lý hộ giáo mà Kitô giáo dùng cho đến khi ấy không thể áp dụng được nữa. Phải, không thể nào Hồi giáo sửa soạn cho Chúa Kitô khi mà Hồi giáo lại có sau Chúa Kitô. Vậy chỉ còn cách bảo Hồi giáo là hiện thân của cái mà thánh Gioan đã tả trong Khải huyền thư dưới danh hiệu “các tiên tri giả”. Cả sau này, khi tiếp xúc với các tôn giáo Đông phương, phần nhiều các thừa sai cũng không thèm tìm hiểu họ, và dù cho có tìm hiểu chăng nữa, thì chỉ là để chỉ trích mà thôi. Khi người Nhật hỏi thánh Phanxicô Xaviê về số phận của ông bà, tổ tiên họ, không nghĩ ngợi, ngài trả lời ngay theo quan niệm chung của người Công giáo thời ấy:

- Họ sa hỏa ngục tất cả!

Đối với các tôn giáo, thái độ xưa của Công giáo hoàn toàn tiêu cực. Tuy thế, cũng có người tiêu cực ít , người tiêu cực nhiều, và một đôi người lạc quan.

Trong những thế kỷ đầu tiên, tìm hiểu về những người lương thiện vì hoàn cảnh không thể biết Chúa Kitô, khi chết có thể được cứu chuộc bằng cách nào, một số giáo phụ bèn nghĩ đến lâm bô (schéol) và tưởng tượng ra một cuộc viễn du truyền giáo ở lâm bô do Chúa Kitô làm1. Sự kiện này chứng tỏ giáo phụ luôn luôn tin vào một giải thoát duy nhứt, và giải thoát ấy là siêu nhiên do Chúa Kitô, giải thoát như một ơn được trao tặng cho hết mọi người 2. Còn cái gì là tự nhiên, do khả năng tự nhiên của con người, thì phần đông các giáo phụ Tây phương khinh rẻ nó. Theo thánh Augustin, việc thiện tự nhiên bao giờ cũng là việc ác, vì không có Thiên Chúa làm cứu cánh tối chung. Do đó, sự lương thiện tự nhiên của người ngoài Công giáo không giúp ích gì cho họ. Nói chi đến chính cái tôn giáo của họ. Theo giáo phụ, tiếng nọi của các tông đồ và các nhà tuyên giảng Phúc Am đã vang dội đến tận cùng trái đất, nên các tôn giáo không còn bất cứ lý do nào để tồn tại nữa.

Trong các giáo phụ, cũng có người nhìn ra những cái hay của người ngoài Kitô giáo (thường là các triết gia), nhưng cho rằng cái gì tốt tìm thấy ở ngoài đều là của Kitô giáo, hoặc do ăn cắp, hoặc do bắt chước một cách quỷ quái, hoặc do sự hạ cố soi dẫn của Thiên Chúa.3

Nói một cách chung, giáo phụ bên Đông cởi mở hơn là bên Tây. Họ cho rằng quả trong các tôn giáo có cái tốt, và tôn giáo là đường lối quan phòng của Thiên Chúa, có nhiệm vụ giáo dục con người, chuẩn bị để họ đón nhận Đức Tin Kitô giáo. Clément d’Alexandrie nói:

“Triết lý cần cho người Hy Lạp để được công chính hóa trước khi Chúa đến… Vì Thiên Chúa là nguồn gốc của hết thảy những điều lành. Có khi Chúa trực tiếp làm nên điều lành và vì chính điều lành đó, như trường hợp Cựu ước và Tân ước.

Có khi Chúa làm nên chúng một cách phụ thuộc như trường hợp triết học. Có lẽ Chúa cũng làm nên triết học như một điều lành trực tiếp cho Hy Lạp, trước khi lời Chúa gọi được mở rộng đến họ. Thực thế, triết học đã giáo dục họ cũng như Luật đã giáo dục Do Thái, để hướng họ về Chúa Kitô. Triết học làm công việc chuẩn bị: nó mở đường đến cái mà sau đó Chúa Kitô sẽ hoàn tất… Dĩ nhiên chỉ có một con đường chân lý, nhưng đó là một con sông không bao giờ cạn, chỗ đổ về của các nhánh sông từ khắp nơi”.4

Giải thích câu Thánh kinh: “Các con đường của những người công chính hừng lên như ánh sáng”, Clément cho rằng Thánh kinh nói nhiều đến những con đường cứu độ khác nhau cho những loại người khác nhau. Như vậy, Chúa là Cứu thế của cả Kitô hữu lẫn người Do Thái, của người Hy Lạp lẫn các dân tộc man rợ. Ngài đổ ân trên mọi người, và ban ân tuỳ theo khả năng tiếp nhận của từng loại người, cho người Hy Lạp và man di thì khác, cho người Do Thái thì khác, và cho Kitô hữu thì khác. Với người Hy Lạp và man di, Thiên Chúa giáo dục họ để họ có thể tiếp nhận Đức Tin. Còn người Do Thái thì Chúa cũng chuẩn bị họ, nhưng một cách đặc biệt.5

Theo thánh Irénée, thì tuy địa vị Kitô hữu khiến họ được ưu đãi hơn các người khác về một số phương diện, nhưng trách nhiệm của họ cũng nặng nề gấp bội, và trong giờ chung thẩm, Chúa sẽ tập hợp cả tín hữu lẫn người ngoài Kitô giáo để tuyển lựa trong đám họ một số người: “Hãy đến đây, hỡi những kẻ được Cha Ta giáng phước”. Vì theo thánh nhân, tất cả chỉ có một Cha và một Ngôi Lời ấy phù trợ tất cả loài người qua mọi thời đại bằng những đường lối an bài khác nhau (variis dispositionibus).6

Một số các giáo phụ khác cũng có một cái nhìn lạc quan tương tự. Họ nhìn nơi các hiền triết và tôn giáo sự nghiệp của Logos spermatikos (mầm mống Ngôi Lời)7 và nghĩ rằng Ngôi Lời của Thiên Chúa cũng hành động ở ngoài Ích diên là dân tộc được chọn để bảo vệ Lời hứa Cứu chuộc. Trái lại, phần đông giáo phụ coi những cái hay tìm thấy nơi các hiền triết như Platon, Socrate, đều là đồ vay mượn của Do Thái giáo cả. Riêng thánh Augustin thì nghĩ rằng tuy có một cái gì thuộc về Thiên Chúa và tìm thấy nơi ý thức tôn giáo của hiền triết hay của các tôn giáo, nhưng giữa các tôn giáo này và “Chân đạo” vẫn có một hố sâu phân cách không tài nào lắp đầy được.

Nơi thần học gia Tây phương thời Trung cổ, quan niệm cũng không mấy thay đổi. Tuy họ sống giữa một xã hội hoàn toàn Kitô giáo, khác hẳn các giáo phụ xưa, nhưng tin tức về các đại tôn giáo Á châu cũng tới được tai họ nhờ các thừa sai dòng Phanxicô và Đaminh. Điều ấy thúc đẩy họ suy nghĩ đứng đắn về vấn đề. Quan điểm của các giáo phụ thường được lặp lại, nhưng nổi bật hơn cả là lý thuyết đôi phần mới mẻ của thánh Thomas d’Aquin. Với Thomas, lý trí quan trọng hơn là ý chí và chân lý mạc khải có giá trị hơn là chân lý do lý trí tìm ra. Do lý trí tự nhiên, con người có thể tìm thấy một số yếu tố về Thiên Chúa như sự hiện hữu và duy nhất tính của Ngài, nhưng không thể nào nắm được chân lý toàn diện. Mặt khác lại có những chân lý mà lý trí tự nhiên không có khả năng đạt tới.

Riêng về người ngoài Công giáo mà thánh Thomas gọi là “vô tín” (infidelis), thì Ngài tự hỏi: Có thể cho phép kẻ vô tín làm lễ của họ được không?8 “Kẻ vô tín”, thánh nhân hiểu đó là Do Thái giáo và các tôn giáo khác. Theo ngài, Thiên Chúa thà để cho có điều ác ở dương gian này, chẳng thà cản trở điều tốt hoặc làm sinh ra những điều xâu hơn. Chúng ta cũng phải làm như thế. Thà để cho người vô tín làm các nghi lễ của họ dù đó là tội, chẳng thà gây ra những thiệt hại lớn. Riêng đối với lễ nhạc Do Thái giáo, vì lý do chúng hướng về lễ nhạc Kitô giáo như cứu cánh của mình, nên càng có lý do mần ngơ hơn nữa. Còn về triết lý, ngài rất lạc quan, và gán cho nó vai trò dọn đường cho Phúc Am.

Thực ra, tinh thần bao dung tôn giáo phải tìm ở Nicolas de Cusa (thế kỷ 15). Ông ước ao các nhà tư tưởng thuộc các tôn giáo họp nhau lại ở Jerusalem để thảo luận và tiến tới hiệp nhất trong cùng một chân đạo. Riêng với Hồi giáo, ông vừa bắt bẻ nơi họ những sai lầm, vừa ca tụng những điều hay, những điều mà từ đó ông cho rằng có thể chứng minh Phúc Am. Nicolas de Cusa cũng thâm tín rằng, qua các tiên tri (prophète) của các dân tộc, Thiên Chúa đã nói với các dân tộc ấy. Sự khác nhau ở giáo lý và nghi lễ của các dân tộc là điều Thiên Chúa chấp nhận, nhưng dù sao, những điều hay trong các tôn giáo chỉ được hoàn tất nơi Kitô giáo mà thôi.

Thế kỷ XVI, đạo Tin Lành ra đời với nhiều môn phái khác nhau, nhưng tất cả đều khinh rẻ tự nhiên, khinh rẻ phần đóng góp của con người vào việc Cứu chuộc. Con người tự căn bản là tội lỗi, đáng nguyền rủa rồi, nên chỉ có ân sủng qua Đức Tin mới cứu độ mà thôi. Vậy tất cả công việc của con người chỉ là tin, và tin vào Đức Kitô. Ngoài ra, cố gắng của nó không có một giá trị nào cả. Khác với Kitô giáo, các tôn giáo khác đều ỷ vào cố gắng riêng của con người, trong đó có cố gắng tìm hiểu Thiên Chúa, và đó là kiêu ngạo, là tội, chứ không phải chỉ là vô ích suông. Barth nói: Tôn giáo là vô tín (incrédulité), vì tôn giáo là cố gắng nhân loại, cố gắng “tự cứu chuộc” và “tự công chính hóa” mình. Vậy đó là từ chối ân huệ Đức Tin, cái hoàn toàn do Thiên Chúa ban phát một cách vô thường để công chính hóa con người. Bảo Kitô giáo là chân đạo ư? Thực ra, chúng ta chỉ có thể quả quyết như thế trong một hành vi Đức Tin, chứ tự nó, tôn giáo là vô ích, là không xứng đáng với danh hiệu “chân đạo”. Cái liên hệ của con người với Thiên Chúa, cái liên hệ nó làm nên tôn giáo, liên hệ ấy chỉ là một hành vi tuyển chọn của ân sủng mà thôi. Riêng một Kitô giáo đã được tuyển chọn. Ngoài Kitô giáo ra, nếu có gì hay ở các tôn giáo khác, thì điều hay ấy phải được gọi là xấu mới đúng.

Đối với Calvin, tôn giáo không phải là tiền đình của Đức Tin, vì cố gắng tự nhiên của con người chỉ có thể làm nên những tôn giáo sai lầm. Cùng một ý kiến, Luther cho rằng các tôn giáo là ấu cả, vì tôn giáo muốn tìm cứu độ do cố gắng của mình.

Bên Công giáo, hồi thế kỷ XIX và tiền bán thế kỷ XX, phần đông cũng có một thái độ miệt thị đối với các tôn giáo. Các tôn giáo được coi như những hình thức tôn ngẫu tượng (idolâtrie) và do ma quỷ làm nên. Vậy việc của các thừa sai là đả phá chúng, chứ vấn đề đối thoại không được đặt ra. Linh mục Aubry, tác giả tập Les Chinois chez eux, có nói: “Hầu như về hết mọi phương diện, văn minh Trung Hoa là một quái trạng không những phản Kitô giáo mà còn phản con người nữa”. Và nếu ai có dịp đọc bộ “Phục Phật xích độc” đăng tải trong Trung hòa báo cách đây mấy chục năm ở Hà Nội, ắt cũng sẽ gặp cùng một thứ giọng lưỡi ấy.

Bên Trung Hoa trước đây, thừa sai Matthieu Ricci đã có một thái độ tôn kính đối với văn minh Trung Hoa. Nhưng có lẽ ông yêu thích Khổng giáo chỉ vì đó là một hệ thống luân lý nhân bản, chứ không có màu sắc tôn giáo. Kế đó, tuy các thừa sai Dòng Tên dám có chủ trương táo bạo là chấp nhận các nghi thức tôn giáo truyền thống của Trung Hoa, nhưng lý do biện bạch cho chủ trương của họ là vì các nghi thức ấy chỉ còn duy ý nghĩa xã hội mà thôi.

Bên An Độ, nhà thừa sai De Nobili có một thái độ tích cực hơn. Ông muốn tiếp nhận những cái hay của An giáo ở chính chỗ chúng còn đầy tính chất tôn giáo. Ông học Sanskrit, Veda và sống đạo của mình bằng các phương pháp tu hành của An giáo. Ông đã gặp chống đối rất nhiều, và sau cùng phải bỏ dở công việc của mình. Sau ông, thỉnh thoảng mới gặp một đôi người dám bắt chước ông, như trường hợp của linh mục Monchanin. Gần đây và hiện nay, một số tư tưởng gia như Johams Henry Le Saux và Panikkar cố gắng dùng chính những phạm trù triết lý và tôn giáo An để diễn giải và tìm hiểu thêm về chân lý và Kitô giáo. Mới đây, để sửa soạn cho cuộc Hội thảo toàn quốc 1969, Ban tổ chức đã cho ấn hành những tập Orientation papers, và trong tập E, nhan đề Religious forces shaping India today, một số tư tưởng gia Công giáo đã đưa ra giả thuyết táo bạo “Đa tôn”. Họ phân biệt hai thứ Đa tôn: Đa tôn theo tên gọi (hay nói cho đúng hơn, theo thể chế) và Đa tôn theo thực hiện thiêng liêng cá nhân (réalisation spirituelle). Phật giáo, An giáo, Kitô giáo, Islam, đó là phân biệt theo tên gọi (và thể chế). Tín đồ trong các tôn giáo ấy tuỳ mức độ đạo hạnh và ân sủng của mình có thể tiến gần đến Thiên Chúa nhiều hay ít, và làm thành những vòng tròn đồng tâm quanh Thiên Chúa. Xét theo khoảng cách đối với Tâm, những vòng tròn ấy không chia theo đạo này hay đạo nọ, cho bằng theo tình trạng tâm hồn của cá nhân. Nếu phân biệt theo tên gọi, thì Kitô giáo qủa là trung tâm và cứu cánh của các tôn giáo thực đấy, nhưng nếu chỉ chú ý vào khía cạnh này thôi, thì “e rằng chúng ta phí thì giờ và trừu tượng nhiều quá”.

Bên Tây phương, vào thời tiền Vatican II, cũng bắt đầu chớm nở những cố gắng suy tư và một vài thái độ lạc quan về vai trò của các tôn giáo. Theo triết gia Hégel, các tôn giáo sơ thuỷ chỉ nhìn thấy Tinh thần chìm ngập trong Thiên nhiên, một thứ Tinh thần chưa có tự do. Đó là những hình thức tôn giáo phù thuỷ, là Phật giáo của bản tính rỗng và Zoroastre giáo của chủ quan tính trừu tượng. Tiếp đó là tôn giáo chủ trương một thứ Tinh thần vượt lên khỏi Thiên nhiên, và đó là Do Thái giáo với Thiên Chúa cá vị, Hy Lạp giáo với cái Đẹp và La Mã giáo với cái Hữu ích… Kết thúc của tiến trình là Kitô giáo, trong đó Tinh thần (Lý tưởng) vốn phổ biến và hằng tại, nay được cụ thể hóa và thể hiện ở dương trần biến dịch”.9

Trong Etudes franciscines 1950, Edgar de Paris cũng nhận định về sự thành công của các tôn giáo trong việc hướng toàn thể thế giới ngoại giáo về Thiên Chúa bằng cách gây niềm khát khao Chúa như điên dại trong nhiều tâm hồn. Các tôn giáo ấy, suốt bao thế kỷ, đã đảm trách việc giáo dục con người trong các địa hạt tôn giáo và luân lý. Mức đạo hạnh cao cả của một số người đã lệ thuộc mật thiết vào sự chuyên chăm giữ kỷ luật luân lý và phụng sự của các tôn giáo ấy.

Ngày nay, tinh thần bao dung tôn giáo càng ngày càng lên cao, và một số thần học gia, trong tinh thần ấy, đã bắt đầu suy tư một cách rất lạc quan về các tôn giáo. Như thế, một chân trời mới đã hé mở cho một khoa thần học và giáo dục sâu xa, đứng đắn và khách quan về các tôn giáo bạn.

 

Chú thích

(1) Theo Origène, Chúa Giêsu “đã liên lạc với linh hồn những kẻ chết, cải hoán những kẻ muốn theo Ngài và những kẻ Ngài cho là xứng đáng hơn cả” (Contra Celsum, II.43, P.G, II, 846-864)

(2) “Facienti quod in se est, Deus non denegat gratiam”.

(3) Xem thánh Augustin trong P.L, tập 34, ch.63. Cũng xem H.Kraemer, La foi chrétienne et les religions non chrétiennes, tr.56.

(4) Sromates 1.5.1-3

(5) P.G tập 8, số 717-720 và tập 9 số 409-410.

(6) Xem Adversus Hebraeos, IV 28.2, P.G VII.1062

(7) Ý niệm này mượn ở Zénon phái.

(8) “Utrum infidelium ritus sint tolenrandi?” (S.Th.IIa Iiae, 10-11)

(9) Encyclopédie, 569

Tác giả Hoàng Sỹ Quý, SJ.

   dunglac@gmail.com