Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Văn Kiệm, Lm.

CÙNG MỘT TÁC GIẢ

Giúp đọc Nôm và Hán Việt

 Biên Tập - Tác Giả
 Văn Hóa Biên Khảo
  Đông Lan
  Đỗ Hữu Nghiêm, Gs.
  Đỗ Mạnh Tri
  Đỗ Quang Chính, sj.
  Đỗ Xuân Quế, Lm.
  Cao Phương Kỷ, Lm
  Hoàng Đình Hiếu
  Hoàng Kim Toan, Lm
  Hoàng Sỹ Quý, SJ.
  Kim Ân
  Kim Định
  Lê Đình Thông, phd.
  Lê Hữu Mục, Gs.
  Lê Ngọc Bích
  Lê Văn Lân, MD.
  Mặc Giao
  Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
  Nguyễn Ước
  Nguyễn Công Bình, Ls.
  Nguyễn Chính Kết
  Nguyễn Cung Thông
  Nguyễn Khắc Dương
  Nguyễn Khắc Xuyên
  Nguyễn Long Thao
  Nguyễn Sơn Hà
  Nguyễn Thái Hợp, Gm.
  Nguyễn Tiến Cảnh, MD.
  Nguyễn Trí Dũng
  Nguyễn Trọng
  Nguyễn Văn Thành
  Nguyễn Văn Trung
  Nguyễn Vy Khanh
  Nguyễn Xuân Quang, MD.
  Nguyên Nguyên
  Phùng Văn Hóa
  Phan Đình Cho, Lm
  Phạm Đình Khiêm
  Phạm Hồng Lam
  Trần Cao Tường, Lm.
  Trần Hữu Thuần
  Trần Mạnh Trác
  Trần Ngọc Báu
  Trần Ngọc Thêm, Gs
  Trần Phong Vũ
  Trần Văn Đoàn
  Trần Văn Cảnh
  Trần Văn Kiệm, Lm.
  Trần Văn Toàn, Gs.
  Trần Vinh
  Vũ Đình Trác, Lm
  Vũ Hùng Tôn, Lm
  Vũ Kim Chính, Lm
  Vũ Thành, Lm
  Vĩnh An
 Văn Học Nghệ Thuật
  Đàm Trung Phán
  Đàm Trung Pháp, Gs.
  Đỗ Thảo Anh
  Đồng Xanh Thơ Nha Trang
  Đồng Xanh Thơ Sài Gòn
  Đồng Xanh Thơ Xuân Lộc
  Đường Phượng Bay
  Bùi Nghiệp
  Cát Đơn Sa
  Cao Huy Hoàng
  CLB Thánh Nhạc
  Du Tử Lê
  Duy Hân
  Gã Siêu
  Gioa-Kim
  Hàn Mặc Tử
  Hạnh Đức
  Hương Kinh Trà Lũ
  Hoài Việt
  Hoàng Diệp, Lm.
  Hoàng Kim Tốt, Lm.
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Hoa Văn
  Joseph Trần Việt Hùng, Lm
  Lê Đình Bảng
  Lê Miên Khương
  Lê Ngọc Hồ
  Lưu Minh Gian
  Mặc Trầm Cung
  Mi Trầm, Lm.
  Ngô Duy Linh, Lm.
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Hùng Sơn
  Nguyễn Phú Long
  Nguyễn Thị Hồng Diệp
  Nguyễn Thị Kim Loan
  Nguyễn Thị Phượng
  Nguyễn Trung Tây, Lm
  Nguyễn Văn Hiển
  Nguyễn Văn Sướng
  Nguyễn Xuân Văn, Lm
  Nhóm Thánh Vịnh Nauy
  Nhất Chi Vũ
  Nt Goretti Võ Thị Sương
  Phạm Huyền
  Phạm Trung
  Quyên Di
  Sông Thanh
  Sr. Hoàng Yến
  Sr. Sương Mai
  TC. Phan Văn Khải
  Thái Anh
  Thanh Sơn
  Tin Yêu
  Trà Lũ
  Trịnh Tây Ninh
  Trọng Nhân, Lm
  Trăng Thập Tự, Lm.
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trần Mộng Tú
  Trần Ngọc Chương
  Trần Ngọc Mười Hai
  Trần Ngọc Thu
  Trần Thu Miên
  Trần Trung Đạo
  Tuấn Kim
  Vũ Thái Hòa
  Vũ Thủy
  Vân Đỳnh
  Việt Hải - Los Angeles
  ViVi
  Xuân Ly Băng
  Xuân Minh
 Tâm Linh Tôn Giáo
  Đỗ Tân Hưng
  Đặng Xuân Thành, Lm.
  Đinh Quang Thịnh, Lm.
  Bùi Tuần, Gm.
  Lê Công Đức, Lm.
  Lê Quang Vinh
  Mai Tá
  Minh Anh gp Huế, Lm.
  Ngô Phúc Hậu, Lm.
  Nguyễn Cao Siêu, S.J.
  Nguyễn Hữu An, Lm.
  Nguyễn Kim Ngân
  Nguyễn Lợi, Lm
  Nguyễn Tầm Thường, sj.
  Nguyễn Văn Nội
  Nguyễn Văn Thư, Lm
  Nguyễn Văn Thuận, HY
  Phạm Hoàng Nghị
  Phạm Văn Tuệ, Lm.
  Tý Linh
  Têrêsa Ngọc Nga
  Trần Mỹ Duyệt
  Trần Minh Huy, Lm.
  Vũ Văn An
  Võ Xuân Tiến, Lm.
 Nhiếp Ảnh
  Cao Tường
  Diệp Hải Dung
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Ngọc Danh
  Sen K
  Tâm Duy, Lm
GIÚP ĐỌC NÔM VÀ HÁN VIỆT

Lời Nói Đầu 

Cuốn Giúp đọc Nôm và Hán Việt (GĐN&HV)  ,  một dụng cụ giúp giải mã tức là “phanh âm” các văn kiện viết bằng Hán Nôm. Sách mới được hiệu đính và in lại lần thứ tư tại Việt Nam gần đây, với các chữ tượng hình Hán Nôm đã được viết bằng điện toán nhờ công khó của Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm (Vietnamese Nôm Preservation Foundation - đặt căn cứ tại Florida) . Với cuốn sách cầm trong tay, ai thông thạo Việt ngữ đều có thể tự mình đọc Hán Nôm mà không cần thầy dậy. Cố nhiên những bước đầu sẽ ngập ngừng loạng quạng, nhưng càng đọc nhiều, tốc độ sẽ càng mau, và sự hiểu biết càng thêm chính xác.

Tới giai đoạn này, độc giả có thể tự hỏi: mình nên khảo sát những tài liệu nào? Cố nhiên những tài liệu có thể khảo sát là các áng văn kim cổ viết bằng Hán tự, do mấy cây bút không phân biệt là Việt Nam, Trung, Hoa, Nhật bản hay Đại Hàn. Kế đến là các bút tích viết bằng chữ Nôm do một số nhà văn Việt Nam trước tác, trước khi chữ Quốc ngữ được mấy nhà truyền giáo Tây phương với sự hỗ trợ của các học giả vô danh ở địa phương, đã sáng chế vào đầu thế kỉ 17. Một sự kiện phải chấp nhận là thứ văn chương này ra đời cách đây đã ba bốn thế kỉ, nhất định phải mang nhiều mầu sắc khá xa lạ đối với các độc giả thuộc thế kỉ 21 của chúng ta.

Đó là lí do khiến soạn giả mạo muội viết thêm quyển Từ Điển Văn học Việt Nam (TĐVHVN)    này. Cuốn đầu chỉ dẫn phương thức đọc Hán Nôm. Cuốn sau giới thiệu những tài liệu Hán Nôm có giá trị hơn cả nên tìm đọc, đồng thời lại giải thích những điển cố và từ ngữ xa lạ ngày nay, nhưng lại thông dụng vào những thế kỉ 18, và 19, có thể gọi là “Thời đại Chữ Nôm”. Nhân tiện với tư cách là Từ điển Văn học, sách đã không bỏ qua các nhân vật lịch sử (nhất là của Việt Nam), các nhà văn Trung hoa, và cả các nhà văn Việt Nam thuộc thế kỉ 20 sáng tác bằng chữ Quốc ngữ. Còn thuộc lãnh vực văn học, sách lại ghi thêm nếp sống và triết lí bình dân của người Việt Nam dưới dạng phương ngôn ngạn ngữ, một số mượn từ văn chương Trung quốc, nhưng đa số rất độc đáo, ít thấy trong các nền văn học của thiên hạ.

Mong rằng: nắm trong tay dụng cụ mới, nhiều học giả sẽ lần lượt khảo sát các tài liệu Hán Nôm rất súc tích hiện nay còn nằm im lìm trong các thư viện Vatican, Paris, Aix en Provence, Bắc Kinh, Đông Kinh, Đài Bắc, Lisboa và Hà nội. Kết quả sẽ có những cuốn lịch sử Việt Nam được viết với tài liệu đầy đủ hơn; nhiều bài mới dưới dạng văn thơ hay dạng văn xuôi sẽ được tìm ra; một số nhân vật trong lịch sử hoặc trong làng văn sẽ được biết đến, và công tội của họ sẽ được phẩm định lại. Ngay chính Việt ngữ cũng sẽ càng ngày càng thêm tinh khiết …

Soạn giả cẩn chí

Anthony Trần văn Kiệm

Mùa thu năm Ất Dậu cũng là năm 2005 theo công nguyên 

 

QUY ƯỚC

 

Như tiền thân của nó là cuốn Giúp đọc Nôm và Hán Việt, cuốn Từ điển Văn học Việt cũng có hai phần: phần đầu có thể gọi là Tự điển giúp tìm âm một chữ chưa biết. Phần thứ hai có thể gọi là Từ điển giúp tìm nghĩa những chữ đã biết âm.

A. Ở phần thứ Nhất (Tự điển - các trang 7 - 254 )

1/ Các tự bắt đầu bằng Chữ Hoa Quốc ngữ là Hán Việt; các tự khác là Nôm.

2/ Bảng số 1 (các trang 7 - 10) kê ra những bộ gốc giúp viết chữ Hán, ngoài ra còn thêm một vài bộ gốc giúp viết chữ Nôm.

3/ Ở Bảng số 2 (các trang 10-254), nằm trong những ô vuông là những “cụm nét” năng gặp, quen gọi là “bộ gốc”. Mỗi bộ gốc mang đàng trước nó một con số Ả rập xác định số nét của bộ gốc. Dọc các cột bên dưới mỗi ô vuông lại ghi các số Ả rập khác xác định các nét còn lại ỡ mỗi chữ, sau khi bộ gốc đã được tách rời khỏi chữ. Như vậy sau mỗi con số Ả rập dọc các cột, là các chữ có số nét như nhau bỏ vào từng ô theo phương thức chung của các từ điển Trung hoa. Nhưng vì các ô được sắp đặt theo âm Việt Nam viết bằng mẫu tự La-tinh , cho nên thứ tự A,B,C, này đã giúp cho sách có phần sáng sủa hơn cả mấy cuốn từ điển Trung hoa.

B. Ở phần thứ Hai (Từ điển - từ các trang 255 trở đi)

1/ Khác với ở phần thứ Nhất, các chữ Nôm mang dấu hoa mai.

2/ Các chữ Hán Việt mang theo chữ Phổ thông đọc theo âm Bắc kinh và Ðài loan viết trong ngoặc, nét dậm và nhỏ. Ðàng sau các chữ Nôm cũng viết trong ngoặc, là những thành phần Hv hoặc Nôm giúp cấu tạo chữ.

3/ In nghiêng là các tỉ dụ. Các tỉ dụ không có bao nhiêu; nhiều tỉ dụ lại không được giải thích, cho nên những lúc này cần tra cứu từng chữ trong tỉ dụ mới nắm vững được ý nghĩa. Nhất là các tỉ dụ không ghi rõ xuất xứ. Tất cả chỉ vì sách cần phải vắn gọn mới dễ dùng hằng ngày.

4/ Sau cùng, khi đọc Nôm, chúng ta không nên quên rằng người xưa chưa có máy in như ngày nay. Hồi ấy thợ in phải dùng những bảng gỗ khắc từng trang sách; nhiều bảng để lâu ngày thành ra các chữ có thể mòn mờ, hay là sứt mẻ chỗ này chỗ nọ. Ấy là chưa nói tới chính vào lúc khắc chữ người thợ - thường ít học - dễ khắc sai. Như vậy sách Nôm có đầy rẫy lỗi chính tả, người đọc cũng nên sẵn sàng thông cảm khi thấy chữ ở bản khắc không hoàn toàn giống chữ ở tự điển.

 

THỰC TẬP 

A. Cần viết cho “Trúng cựa” và đếm nét cho đủ số.

1/ Một lần chấm bút xuống rồi nhấc bút lên là một nét. Chẳng hạn chữ Ất có các dạng 2 và 3 乛 웠 trông tựa con số 7 của Mĩ, tuy nét có đổi hướng nhưng được coi là một. (Đó là trường hợp nét thứ hai ở chữ Khẩu ). Ất dạng 4 , trông tựa chữ L Quốc ngữ cũng là một nét. (Xem nét thứ hai ở chữ Nha 牙, và ở chữ Xuất ). Ðàng khác chữ Dữ  có nét chính trông tựa con số 4 Ả rập, và chữ Cấp có nét chính ꀀ trông tựa con số 3 Ả rập. Các nét này đổi hướng hai ba lần nhưng vẫn được coi là 1 nét. (Thử khảo sát chữ Á , chữ Cái , chữ Miện ...)

2/ Mỗi nét viết từ trái qua phải (mặt). = (1) ; ꀀ (2) ;  (3)

3/ Các nét bên trái và trên cao được viết trước.

4/ Hai nét tréo nhau thì nét ngang viết trước. = (1) ; (2)

B. Thực tập viết

Chẳng hạn chữ Sơn  (1);  (2);  (3) = thì nét cổn viết trước rồi tới nét Ất giống chữ L, sau là nét sổ bên mặt, tổng cộng là 3 nét.

Chẳng hạn chữ Khẩu  (1);  (2);  (3) =  thì đầu tiên viết nét bên trái, kế đến nét Ất giống con số 7, sau cùng là nét bên dưới, tổng cộng là 3 nét. Coi chừng các nét 1 và 3 ở chữ Khẩu không phải là nét L ở chữ Ất.

C. Thực tập tìm âm

1/ Chẳng hạn chữ có âm gì? Trước hết xem Bảng các Bộ gốc ở trang 7 cột 1 (thuộc lòng các bộ gốc giúp tìm âm rất mau) sẽ thấy chữ có bộ “1 Cổn”. Tách rời “1 Cổn” ra ngoài, đếm số các nét còn lại là 3. Ta mở sang Bảng số Hai từ cột 2 trang 13 tới cột 1 trang 14 là giang sơn bộ 1 Cổn, nhưng ngăn mang con số 3 sẽ giới hạn ở trang 13, rà từ cuối cột 2 mãi cho tới số 4, sẽ gặp chữ “Trung, Trúng” ở cột 3, là hai âm Hv mang chữ đầu viết hoa, và “đúng, giữa, trong, trúng, truồng” mang chữ đầu viết nhỏ là mấy âm Nôm.

Một lối khác: Chữ còn mang bộ gốc “3 Khẩu” (ở Bảng số một trang 7 gần cuối cột 3 ). Tách rời “3 Khẩu” ra ngoài, đếm 1 nét còn lại, rồi mở Bảng số Hai thuộc giang sơn rất rộng lớn của 3 Khẩu, rà kĩ con số 1 sẽ gặp ở trang 49, cột 1 nhóm các chữ Hán việt và Nôm “Trung, Trúng, đúng, giữa, trong, truồng”.

 2/ Chẳng hạn chữ  có âm gì? Bảng số Một ở trang 7 gần cuối cột 2 cho bộ “2 Nhân đứng ”. Tách bộ gốc ra ngoài, sẽ còn lại 4 nét. Bảng số Hai trang 34 cột 4 ở ngăn mang số 4, sẽ cho âm Hv “Hoa”.

 Lối khác: Bảng các Bộ gốc ở trang 7cột 3 cho biết có bộ gốc “2 Thập”. Số các nét còn lại sau khi gạt bộ Thập ra ngoài là 4. Bảng số Hai trang 42 gần đầu cột 3, ở ngăn mang con số 4 lại sẽ gặp âm Hv “Hoa”. 

 

Lối đọc chữ Trung hoa phanh âm
 

Sau mỗi chữ Hán có ghi chữ TH phanh âm đọc theo giọng Bắc kinh và Ðài loan. Những chữ này không phải là Quốc ngữ Việt nam, và được phát âm như sau:

A- Các mẫu âm

1/ a, i, o, u phát âm như chữ Quốc ngữ;

2/ e đọc là ươ, chẳng hạn “le” ở Liễu sẽ đọc theo giọng Quốc ngữ là Lưa; “ne” ở Ni sẽ đọc là Nưa

3/ u đọc như ü trong tiếng Ðức, hoặc u trong tiếng Pháp

B- Các tử âm

1/ Chữ g bao giờ cũng đọc cứng như ở chữ gà; zh đọc như tr chẳng hạn (zhou) ở Châu sẽ đọc là Trâu; và s đọc như x, sh đọc như s.

2/ c đọc là ts; ch đọc như c tiếng La-tinh hoặc ch tiếng Anh; q cũng phát âm tương tự như ch; h đọc giống ch tiếng Ðức hoặc Kh ở chữ Quốc ngữ; r phát âm tựa r ở tiếng Anh pha với d ở chữ Quốc ngữ.

Riêng z thì đọc như ds ở chữ lids ở tiếng Anh.

C- Các dấu bổng trầm

Tiếng TH không có dấu Ngã nhưng cũng có các giọng bằng ( ˉ gạc ngang), trắc ( ́ ), hỏi ( ˇ ) và huyền ( ` ). Dấu Huyền đọc như VN nhưng kéo dài hơn; dấu Hỏi đọc hơi giống Huyền VN nhưng vắn hơn.

 

Công dụng của các Từ điển Hán Nôm

 Như cuốn sách này đã nhiều lần xác định, Việt ngữ cũng như Hoa ngữ có nhiều từ cùng âm mà khác nghĩa, đôi khi các nghĩa lại tương phản (tỉ dụ như Nôm có “Ăn; Mình”...; Hán Việt có Bại, Giác, Minh...). Lối viết tượng hình của Hán Nôm giúp giải quyết phần nào vấn đề đồng âm dị nghĩa này. Chẳng hạn trong cuốn sách nhỏ này các ý nghĩa rất nhiều của chữ “Kì” Quốc ngữ đã được phân phối cho 32 chữ Hán mang kí hiệu phanh âm TH, và 4 chữ Nôm mang dấu hoa mai từ cuối trang 715 tới cuối trang 717 mỗi chữ lại có thể mang nhiều ý nghĩa ! Tới đây còn có thể nghiên cứu thêm các ý nghĩa rất nhiều của “Hồ” Quốc ngữ đã được phân phối cho 18 chữ Hán [gồm cả một chữ Hồ mang 3 phanh âm TH (, hú, hủ) với ý nghĩa khác nhau], và 2 chữ Nôm! “Tư” Quốc ngữ đã được phân phối cho 25 chữ Hán và 1 chữ Nôm ! Cụ thể hơn, thử tìm “Tơ đồng” trong Truyện Kiều của thi sĩ Nguyễn Du chẳng hạn có nghĩa như thế nào? Vì “Ðồng” trong bản Nôm có bộ gốc Mộc, cho nên nó không phải là một kim loại, hoặc là rau tần ô, là con trẻ, là ống rỗng ruột, là con ngươi, không phải là đồng ruộng hay đồng bạc, nhưng là cây ngô đồng, và “Tơ đồng” là dây lụa ở một cây đàn làm bằng gỗ Ngô đồng... Cứ từ đó mà suy ra, người ta phải nhìn nhận: Quốc ngữ mặc dầu rất tiện dụng, nhưng cần được các từ điển Hán Nôm bổ túc.

 Cước chú: 1/ Tới đây soạn giả xin chân thành cảm tạ các anh chị em thuộc nhóm NÔM NA rải rác khắp mọi nơi trên thế giới và nhất là ở Hà Nội, đã khổ công viết các chữ Nôm Nho bằng điện toán, và đã cho phép soạn giả được sử dụng thành quả của anh chị em. Nhóm Nôm Na được Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm (Vietnamese Nôm Preservation Foundation) đặt căn cứ tại tiểu bang Florida (Hoa kì) bảo trợ.

2/ Chữ viết tắt: BK: Bắc kinh; Hv: Hán Việt; TH: Trung hoa; VN: Việt nam

Tác giả Trần Văn Kiệm, Lm.

   dunglac@gmail.com